Đề tài:
SO SÁNH XU HƯỚNG LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ LÃI SUẤT CHO
VAY CỦA CÁC NHTM TẠI TPHCM GIAI ĐOẠN 2006-2008
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất giữ vị trí rất quan trọng. Đó không những là
đòn bẩy, kích thích sự tăng trưởng kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu của chính sách
tiền tệ quốc gia; là công cụ thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại; mà
còn là công cụ để kiềm chế lạm phát rất hữu hiệu thông qua chính sách tiền tệ của ngân
hàng trung ương.
Diễn biến lãi suất được đưa tin hầu như hàng ngày trên báo chí, bởi vì sự ảnh
hưởng trực tiếp của nó đến đời sống của chúng ta và có những hệ quả quan trọng đối
với sức khỏe của nền kinh tế. Đặc biệt trong hoạt động ngân hàng, khi lãi suất biến
động mạnh sẽ dẫn đến rủi ro đối với hoạt động huy động và cho vay, do đó ảnh hưởng
đến lợi nhuận của Ngân hàng. Trong những năm gần đây, nhất là trong năm 2008, lãi
suất đã không ngừng biến động và có chiều hướng gia tăng đột biến. So sánh xu hướng
lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay của các NHTM tại TPHCM giai đoạn 2006-2008 để
có cái nhìn rõ hơn về xu hướng, nguyên nhân cũng như tác động của thực trạng lãi suất
đến các thành phần kinh tế và toàn bộ nền kinh tế.
Trong bài phân tích, các NHTM được chia thành ba nhóm dựa vào quy mô và tiềm
lực tái chính để thấy được xu hướng khác biệt và sự tác động của từng nhóm đến mặt
bằng lãi suất huy động và cho vay, vì mỗi nhóm ngân hàng đưa ra quyết định về chính
sách lãi suất của mình là xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau. Bao gồm nhóm
các NHTMNN, nhóm các NHTM lớn và nhóm các NHTM nhỏ.
PHẦN NỘI DUNG PHÂN TÍCH
1. Một số yếu tố tác động đến lãi suất tiền gửi và cho vay của các NHTM tại
TPHCM giai đoạn 2006-2008
1.1 Lạm phát
Trong nền kinh tế, nguyên tắc chung là lãi suất tiết kiệm phải cao hơn lạm phát, để
đảm bảo cho lãi suất thực dương. Do vậy khi lạm phát tăng cao, các ngân hàng có xu
hướng tăng lãi suất huy động, nhằm thu hút lượng tiền nhàn rỗi từ khách hàng. Nếu
không lượng tiền nhàn rỗi này có thể sẽ chạy vào các kênh đầu tư khác có suất sinh lời
bất động sản, chứng khoán... sẽ ảnh hưởng lớn đến sự chuyển dịch vốn khỏi các ngân
hàng thương mại. Để có thể cạnh tranh buộc các NHTM phải tăng lãi suất để thu hút
vốn. Mặt khác, khi các kênh đầu tư khác phát triển thì nhu cầu vay vốn để đầu tư cũng
gia tăng, lãi suất có xu hướng tăng lên.
2. So sánh xu hướng lãi suất tiền gửi và cho vay của các NHTM tại TPHCM giai
đoạn 2006-2008
Trang 2
2.1 So sánh xu hướng lãi suất tiền gửi và cho vay của các NHTM tại TPHCM
giai đoạn 2006-2008
Mỗi ngân hàng đều có chiến lược hay lý do riêng khi quyết định tăng lãi suất tiền
gửi. Nhìn chung, các ngân hàng tăng lãi suất đều nhằm vào việc thu hút thêm lượng
tiền hiện đang luân chuyển trong thị trường để phục vụ một mục đích tài chính nào đó.
Tùy vào nhu cầu tiền mặt của ngân hàng, của Chính phủ hay các khách hàng lớn cần
vay để mua bán, đầu tư vào dự án trọng điểm, các ngân hàng sẽ đưa ra lãi suất thấp hay
cao để thu hút dân chúng bỏ tiền vào tài khoản hoặc quỹ tiết kiệm. Việc tăng hay giảm
lãi suất tiền gửi hoặc cho vay là những hoạt động thường xuyên của ngân hàng, và giúp
chúng ta thấy được sức mạnh của ngành Ngân hàng cũng như của nền kinh tế, miễn là
mức tăng, giảm vừa phải theo thị trường hay được NHNN giám sát và cho phép.
Nhìn từ góc độ nào thì việc tăng lãi suất để huy động đều xuất phát từ nhu cầu vốn.
Tăng lãi suất huy động bao giờ cũng là một lựa chọn khó khăn của các NHTM, bởi vì
lãi suất cho vay không dễ gì tăng lên tương ứng ngay lập tức. Kết quả thu nhập ròng từ
lãi suất sẽ giảm. Thế nhưng, qua biểu đồ sau có thể thấy trong thời gian gần đây các
các NHTM, nhất là các NHTMCP lại đua nhau tăng lãi suất huy động cũng như lãi suất
cho vay VND.
Biểu đồ 1: Xu hướng lãi suất huy động và cho vay bình quân bằng
VND của ngành ngân hàng giai đoạn 2003-2008
6.60%
6.10%
7.10%
7.60%
Trang 3
lãi suất huy động VND (lãi suất huy động bình quân từ 7.1%/năm lên 7.6%/năm vào
năm 2006). Xu hướng trên có thể được lý giải bằng 2 nguyên nhân chính sau:
+ Thứ nhất, diễn biến tăng lãi suất gắn liền với tình hình giá cả trên thị trường.
Trong 6 tháng đầu năm chỉ số giá tiêu dùng của cả nước tăng 4.9%, yếu tố này tạo áp
lực tăng lãi suất nhằm đảm bảo lãi suất thực dương trong mối quan hệ với lạm phát.
+ Thứ hai, Lãi suất trên thị trường tiền tệ quốc tế cũng tác động mạnh đến lãi suất
trong nước. Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất lên 4 lần trong 9 tháng đầu
năm đã ảnh hưởng nhất định đến lãi suất ngoại tệ trong nước và tạo áp lực lên lãi suất
tiền đồng (tăng 0.02% - 0.9%/năm), các ngân hàng đều nhảy vào cuộc đua tranh lãi
suất mặc dù tỷ lệ huy động vốn tăng trưởng mạnh hơn so với dư nợ tín dụng.
Về phía lãi suất cho vay, so với cuối năm 2005, mặt bằng lãi suất cho vay trên thị
trường năm 2006 có xu hướng tăng nhẹ, nhưng nhìn chung tương đối ổn định ở mức
11.2%/năm so với 11%/năm năm 2005. Có thể thấy sự gia tăng này chủ yếu là do khối
NHTMCP nhỏ với lãi suất cho vay bình quân lên tới 12.63%/năm so với bình quân
toàn ngành.
Bảng 1: Lãi suất huy động và cho vay bình quân năm 2006
Chỉ tiêu
Khối
NHTMNN
Khối
NHTMCP
lớn
Khối
NHTMCP
nhỏ
Toàn
ngành
Lãi suất huy động bình quân 5.53% 7.41% 8.61% 7.60%
Lãi suất cho vay bình quân 9.09% 10.62% 12.63% 11.20%
Nguồn: Tổng hợp
Lãi suất huy động của nhóm NHTMNN năm 2007 ở mức 6.57%, tăng 1.04% so
với năm 2006, đồng thời lãi suất cho vay là 9.68%, tăng lên 0.59% so với trước đó.
Tiếp đến nhóm NHTMCP huy động VND với lãi suất 7.61%/năm, cao hơn so với
nhóm NHTMNN, ứng với lãi suất cho vay là 10.98%/năm. Đứng ở vị trí cao nhất về
lãi suất huy động lẫn cho vay chính là nhóm NHTMCP nhỏ, với mức lãi suất huy động
bình quân là 8.74% và mức lãi suất cho vay bình quân trong năm là 12.71%.
Nhìn chung lãi suất huy động và cho vay của các NHTM trong năm 2007 đều gia
tăng, lãi suất huy động có xu hướng tăng nhanh hơn lãi suất cho vay, 0.31% đối với lãi
suất huy động và 0.2% đối với lãi suất cho vay.
Thực tế trong năm 2007, nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, nhu cầu vay vốn
cho đầu tư phát triển rất lớn, gây ra áp lực tăng lãi suất tiền gửi để thu hút nguồn vốn
đáp ứng cho nhu cầu vay tăng cao. Đặc biệt là vào những tháng cuối năm 2007, việc
tăng trưởng quá cao dư nợ tín dụng của các NHTM đã dẫn đến nhu cầu vốn gia tăng
đáng kể, một số NHTMCP nhỏ có sự thiếu hụt thanh khoản. Nguyên nhân dẫn đến tình
trạng này là do phần lớn các ngân hàng tham gia trên thị trường đa phần là có quy mô
nhỏ, thương hiệu chưa thực sự mạnh. Ngoài ra cũng một phần do các NHTMCP nhỏ
trước đó đã quá tay trong việc lấy vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn, dẫn đến khan hiếm
nguồn tiền trong ngắn hạn. Do đó để tồn tại được thì phương thức hiệu quả duy nhất
của nhóm NHTCMP nhỏ là công cụ tăng lãi suất được coi là hiệu quả tức thời để thu
hút vốn về phía mình. Điều này cũng lý giải vì sao lãi suất của nhóm NHTMCP nhỏ
luôn ở mức cao hơn so với nhóm NHTMCP lớn và nhóm NHTMNN. Nếu nhìn vào
bảng số liệu thống kê sẽ thấy cụ thể lãi suất huy động trung bình của nhóm NHTMCP
nhỏ ở mức 8.74% trong khi nhóm NHTMCP lớn là 7.61% và nhóm NHTMNN nằm ở
vị trí thấp nhất 6.57%/ năm.
Bên cạnh đó, dưới tác động của Chỉ thị 03, mặc dù các ngân hàng đã ra sức thu hồi
nợ và ngưng cho vay kinh doanh chứng khoán từ tháng 06/2007 để đảm bảo tỷ lệ cho
vay kinh doanh chứng khoán xuống mức 3%, nhưng cũng khó thực hiện kịp mốc
31/12/2007 mà NHNN đã đề ra. Chỉ còn cách là phải tăng tổng dư nợ, và không ít ngân
Trang 5
Biểu đồ 2: Biểu đồ lãi suất huy động và cho vay bình quân
Trang 6
8.8%
10.3%
11.4%
12.0%
14.3%
17.2%
17.7%
17.4%
17.3%
16.4%
13.0%
8.6%
12.6%
16.5%
16.5%
16.7%
17.5%
21.0%
20.5% 20.5%
20.5%
19.0%
16.0%
12.5%
0.00%
5.00%
10.00%
15.00%
20.00%