Lời nói đầu
Đất nớc ta từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc đã
tạo ra hàng loạt các loại doanh nghiệp mới đa dạng, đan xen và năng động. Để tồn
tại và pháp triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn năng động, học hỏi vơn lên
để tìm cho mình chỗ đứng vững chắc và ổn định trên thị trờng. Để đạt đợc mục
đích đó thì việc nâng cao khả năng cạnh tranh là hết sức cần thiết trong mỗi
doanh nghiệp.
Trong quá trình vận động của thị trờng các doanh nghiệp luôn phải đứng đầu với
áp lực cạnh tranh và quy luật đào thải của thị trờng thì các doanh nghiệp luôn có
nguy cơ bị loại ra khỏi môi trờng cạnh tranh khốc liệt vì thế để tồn tại họ phải
ngăn cản điều đó bằng việc đa dạng hoá sản phẩm, giảm giá thành sản xuất nhằm
tạo ra lợi thế cạnh tranh để thu hút ngày càng nhiều khách hàng, tăng số lợng sản
phẩm tiêu thụ. Đây đợc xem là biện pháp để tồn tại và nâng cao khả năng cạnh
tranh của mỗi doanh nghiệp trên thị trờng.
Xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu Kiêu Kỵ cũng không nằm ngoài áp lực cạnh
tranh của thị trờng. Hơn nữa ngành giầy dép là ngành cũng chịu sự cạnh tranh
khốc liệt bởi các doanh nghiệp cùng ngành trong nớc và mối đe doạ từ phía các
các doanh nghiệp nớc ngoài trong thời gian tới khi phá bỏ hàng rào thuế quan.
Từ tính cấp thiết của thực tế, đề tài Một số giải pháp nâng cao khả năng cạnh
tranh của Xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu Kiêu Kỵ giúp em tìm hiểu sâu hơn
khả năng cạnh tranh và áp lực cạnh tranh của của doanh nghiệp để từ đó đa ra
những giải pháp góp phần cùng doanh nghiệp tìm đợc thế đứng vững và phát triển
trên thị trờng.
Bố cục chuyên đề gồm ba chơng:
Chơng I : Một số lý luận cơ bản về nâng cao khả năng của doanh nghiệp
Chơng II: Thực trạng khả năng cạnh tranh của Xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu
Kiêu Kỵ
Chơng III: Một số biện pháp chủ yêu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của
Xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu Kiêu Kỵ trong thời gian tới
doanh trên thị trờng thì đều muốn doanh nghiệp mình tồn tại, đứng vững đợc
trong nền kinh tế thị trờng. Ngày nay để tồn tại đợc và đứng vững, các doanh
nghiệp phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Nâng cao khả năng để dành
giật khách hàng bằng việc tạo những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu của
khách hàng, làm cho khách hàng tin rằng sản phẩm của mình là tốt nhất, phù hợp
với nhu cầu thị hiếu của ngời tiêu dùng nhất và doanh nghiệp nào càng đáp ứng
tốt nhu cầu của khách hàng, cung cấp cho họ những dịch vụ thuận tiện và sản
phẩm tốt nhất với giá phù hợp thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại trong
nền kinh tế thị trờng. Do vậy việc nâng cao khả năng cạnh tranh là rất cần thiết.
doanh nghiệp tồn tại đợc hay không đợc thể hiện qua doanh thu của doanh
nghiệp. Lợi nhuận của doanh nghiệp có đợc khi bán đợc sản phẩm hàng hoá hay
dịch vụ. Lợng bán càng nhiều thì doanh thu càng cao,lợi nhuận càng lớn. Nh vậy
để thu hút đợc càng nhiều ngời mua buộc các doanh nghiệp phải nâng cao khả
năng cạnh tranh của mình bằng cách nâng cao chất lợng sản phẩm, dịch vụ, đáp
3
ứng nhu cầu của khách hàng liên tục. Đối với giá cả, các doanh nghiệp đa ra các
mức giá thấp nhất có thể, chính điều này đã buộc các nhà sản xuất phải lựa chọn
phơng án sản xuất tối u với chi phí nhỏ nhất. Điều này lại liên quan đến việc áp
dụng khoa học tiến bộ kỹ thuật, công nghệ hiện đại làm tăng chất lợng sản phẩm
và giảm giá thành, tăng lợng bán, tăng doanh thu, lợi nhuận cao do đó doanh
nghiệp mới tồn tại và đứng vững đợc.
Trong nền kinh tế thị trờng, cạnh tranh là một điều kiện và là yếu tố thích kinh
doanh. Theo quy luật cạnh tranh là động lực phát triển sản xuất. Sản xuất hàng hoá
ngày càng phát triển, hàng hoá bán ra nhiều, số lợng ngời cung ứng ngày càng
đông thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Kết quả của cạnh tranh là loại bỏ những
doanh nghiệp làm ăn không tốt.Khi đã tiến hành hoạt động kinh doanh thì doanh
nghiệp nào cũng muốn tồn tại và phát triển lớn mạnh, để làm đợc điều đó doanh
nghiệp cần phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, các doanh nghiệp phải
phát huy hết những u thế của mình tạo ra những điểm khác biệt so với đối thủ cạnh
phẩm đạt chất lợng cao hơn đối thủ cạnh tranh, cung cấp những dịch vụ tốt hơn
đối thủ cạnh tranh, thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng.
3.Động lực của việc nâng cao khả năng cạnh tranh đối với các doanh nghiệp
Trong thời đại ngày nay khi mà xu thế hội nhập quốc tế cũng nh liên khu vực
diễn ra ngày một nhanh chóng thì việc nâng cao khả năng của toàn bộ nền kinh tế
cũng nh từng thành phần trong nền kinh tế có một ý nghĩa vô cùng to lớn.Việc
nâng cao khả năng cạnh tranh, để tạo ra và chi phối các cơ hội đang xuất hiện, để
kiểm tra không gian cạnh tranh mới. Sự sáng tạo và phát triển của tơng lai mang
đến đày khó khăn thử thách hơn là đuổi kịp nó, ở đay doanh nghiệp phải tìm ra
một hớng đi riênh của chính mình. Mục tiêu không chỉ đơn giản là đuổi kịp sự đổi
mới, quy trình sản xuất của đối thủ cạnh tranh và học hỏi các phơng pháp của họ
mà nhằm phát triển 1 quan điểm cơ bản về các cơ hội của ngày mai, làm thế nào
để khai thác đợc chúng.
Nh vậy cạnh tranh sẽ dẫn đến kết quả là làm cho giá cả có xu hớng ngày càng
giảm, số lợng hàng hoá trên thị trờng ngày càng tăng, đáp ứng đợc nhu cầu của
ngời tiêu dùng.
Mặt khác cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải dành một phần lợi nhuận
thích đáng để hiện đại hoá. Để đúng đợc lâu dài trên thị trờng của các doanh
nghiệp phải đầu t các trang thiết bị, máy móc hiện đại, không ngừng đa tiến bộ
khoa học, kỹ thuật vào sản xuất nhằm làm tăng chất lợng sản phẩm và tăng năng
suất lao động.
5
Cạnh tranh sẽ loại bỏ các doanh nghiệp có chi phí cao trong sản xuất kinh
doanh hàng hoá và khuyến khích các doanh nghiệp có chi phí thấp. điều này đã
toạ ra áp lực buộc các doanh nghiệp phải giảm các chi phí, tối u hoá sản xuất đầu
vào trong sản xuất kinh doanh. Điều này một mặt cũng phù hợp với yêu cầu của
xã hội, song bên cạnh đó cũng làm cho một số doanh nghiệp kinh doanh có hiệu
quả phát triển mặt khác nó cũng đa một số doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu
quả phá sản cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay thế những
hoá sản xuất, nhanh chóng ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật và quản
lý hiện đại và trong quá trình sản xuất kinh doanh. Thực tiễn đã chứng minh các
doanh nghiệp đã tồn tại và phát triển đợc cần có dây chuyền công nghệ mới, hiện
đại có phơng pháp tổ chức khoa học.
Thứ t: là thông tin, một công cụ cạnh tranh lợi hại của doanh nghiệp. Thông tin
về thị trờng mua bán, thông tin về tâm lý thị hiếu khách hàng, về giá cả, đối thủ
cạnh tranh... có ý nghĩa quyết định kinh doanh của doanh nghiệp. Đầy đủ thông
tin và xử lý thông tin đúng, một mặt giúp các doanh nghiệp hạn chế rủ ro trong
kinh doanh, mặt khác qua thông tin có thể tìm ra và tạo ra lợi thế so sánh của
doanh nghiệp trên thơng trờng, chuẩn bị và đa ra đúng thời điểm những sản phẩm
mới thay thế để tăng cờng sức mạnh cạnh tranh của hàng hoá. Thông tin đủ, đúng
có thể thúc đẩy thị trờng một cách tích cực hoặc tạo ra những nh cầu gỉa tạo, hành
vi cạnh tranh sai trái làm biến dạng thị trờng. Vì thế không ngạc nhiên khi tình
trạng quảng cáo sản phẩm hiện nay của các doanh nghiệp xuất hiện ngày càng
nhiều trên các phơng tiện thông tin đại chúng, chi phí cho hoạt động quảng cáo,
giới thiệu, trng bày sản phẩm chiếm tỉ trọng nhất định trong chi phí chung của
doanh nghiệp.
Thứ năm: Phơng thức phục vụ và thanh toán trong sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Phơng thức phục vụ và thanh toán là công cụ cạnh tranh khá quan
trọng. Ai nắm bắt đợc công cụ này sẽ thắng trong cạnh tranh. Bởi vì công cụ này
tạo ra đợc tiện lợi cho khách hàng. Phơng thức phục vụ và thanh toán trớc hết đợc
thể hiện ở ba giai đoạn của quá trình bán hàng: Trớc khi bán hàng và trong quá
trình bán hàng, sau khi bán hàng. Trớc khi bán hàng, các doanh nghiệp thực hiện
các việc nh: quảng cáo, giới thiệu, hớng dẫn thị hiếu khách hàng, các hoạt động
triển lãm, trơng bày hàng hoá. Những việc làm này nhằm hấp dẫn, lôi cuốn khách
hàng đến với sản phẩm của doanh nghiệp mình.
Trong quá trình bán hàng khâu quan trọng nhất là nnghệ thuật bán hàng, lịch
sự,ân cần và chu đáo. Sau khi bán hàng, phải có các dịch vụ nh bao bì và giao
hàng đến tận tay ngời tiêu dùngvà các dịch vụ bảo hành sửa chữa hàng hoá ...
7
tác làm ăn có ý đồ đen tối.
Thứ tám: sự mạo hiểm rủi ro. Trong kinh doanh lợi nhuận doanh nghiệp th-
ờng tỉ lệ thuận với sự mạo hiểm rủi ro trong kinh doanh. Các chủ thể kinh doanh.
8
Các chủ thể kinh doanh có khuynh hớng đầu t kinh doanh (kể cả đầu t nghiên
cứu khoa học) và những mặt hàng mới, lĩnh vực mới mà rủi ro ở đó thờng cao.
Đây là khuynh hớng khách quan vì nó hy vọng thu đợc lợi nhuận cao trong tơng
lai. Mặt khác nó giảm đợc áp lực từ phía đối thủ cạnh tranh hiện tại. Sự mạo hiểm
chấp nhận rủi ro nhầm thu đợc lợi nhuận lớn bằng cách đi đầu trong kinh doanh là
công cụ cạnh tranh cực kỳ hiệu quả, nhng cũng cực hỳ nguy hiểm trong quá trình
cạnh tranh. Việc sử dụng hiêu quả, nhng cực kỳ nguy hiểm trong quá trình cạnh
tranh. Việc sử dụng hiệu quả công cụ này đòi hỏi doanh nghiệp có tài năng và bản
lĩnh.
Nh vậy, các công cụ cạnh tranh mà các doanh nghiệp hiện nay sử dụng có thể
khái quát nh sau: Lấy chất lợng, rẻ, thông tin, nhanh, mới, nhiều, linh hoạt,lòng
tin, nổi tiếng, thúc đẩy liên doanh, độc đáo, mạo hiểm và bán chịu để thắng trong
cạnh tranh.
II. Các nhân tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp và mối quan hệ giữa chúng.
1. Các nhân tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.1. Nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực chính là những ngời tạo ra sản phẩm một cách trực tiếp, có thể
gián tiếp. Đội ngũ cán bộ quản lý sẽ là ngời quyết định các hoạt động sản xuất
kinh doanh. Sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? Nh thế nào? và bao nhiêu? Mỗi
quyết định của họ có ý nghĩa quan trọng liên quan đến sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Chính họ là ngời quyết định cạnh tranh nh thế nào, khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp ở mức nào, bằng cách nào?...
Bên cạnh những ngời quản lý, công nhân là ngời trực tiếp sản xuất ra sản phẩm.
Sản lợng sản phẩm cũng nh chất lợng sản phẩm cũng là do họ quyết định bởi các
1.4. Sản phẩm và cơ cấu sản phẩm
Đặc điểm của sản phẩm có ảnh hởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp, sản phẩm phải thích ứng với thị trờng một cách nhanh chóng thì
mới có thể tiêu thụ trên thị trờng. Mặt khác sự vợt trội về đặc điểm của sản phẩm
sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp .
Chính sách sản phẩm là công cụ tốt để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Đa dạng hoá sản phẩm giúp doanh nghiệp giảm áp lực cạnh tranh, cho
phép doanh nghiệp kiểm soát đợc tình hình cạnh tranh ở mức nào. Sản phẩm
của doanh nghiệp phải luôn đợc hoàn thiện không ngừng để có thể theo kịp nhu
cầu thị trờng bằng cách cải thiện các thông số về chất lợng, mãu mã, bao bì, kiểu
dáng...đa dạng hóa sản phẩm bao gồm nghiên cứu sản phẩm mới và cải tiến sản
phẩm không chỉ để đảm bảo đáp ứng đợc nhu cầu thị trờng, thu nhiều lợi nhuận
10
mà còn là biện pháp phân tán rủi ro trong kinh doanh. Song song với việc đa dạng
hoá sản phẩm là trọng tâm hoá sản phẩm tức là đi sâu nghiên cứu một số loại sản
phẩm chính (sản phẩm mũi nhọn) cho thị trờng, nhu cầu khách hàng tiêu dùng
nhất định. Khi đó, doanh nghiệp có thể phục vụ khách hàng một cách tốt hơn, có
hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh khác. Ngoài ra chiến lợc khác biệt hoá sản
phẩm sẽ tạo ra nét độc đáo riêng trong việc thu hút tạo sự hấp dẫn cho khách hàng
và nâng cao uy tín của doanh nghiệp.
1.5. Giá cả sản phẩm hàng hoá
Yếu tố giá đợc hình thành thông qua quan hệ cung cầu. Ngời bán và ngời mua
thoả thuận với nhau trên thị trờng để từ đó đi tới mức giá cuối cùng đảm bảo hai
bên cùng có lợi. Giá cả đóng vai trò quan trọng trong việc khách hàng quyết định
mua hay không mua sản phẩm của doanh nghiệp. Đối với những sản phẩm cùng
loại, chất lợng tơng đơng nhau thì mức giá bán thấp hơn sẽ làm tăng sản lợng tiêu
thụ của sản phẩm. Chính sách giá đóng một vai tròn quan trọng nh một thứ vũ khí
để cạnh tranh, định giá thấp, định giá ngang hay cao hơn giá thị trờng sao cho việc
thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp là tốt nhất.
nhuận hoặc có thể hỗ trợ trong thời gian đầu. Sau đó khi đã chiếm đợc thị trờng
rộng lớn và tạo đựơc lòng tin từ phía khách hàng mới quay trở lại thu hồi vốn.
1.8. Hoạt động tiêu thụ sản phẩm .
Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, nó cũng
là khâu quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và khách
hàng là ngời mua sản phẩm thông qua kênh tiêu thụ, hoặc trực tiếp. Việc xây
dựng các kênh tiêu thụ vững chắc sẽ giúp cho việc nâng cao khả năng cạnh tranh.
Đó là việc tăng sản lợng hàng hoá, tăng lợi nhụân với tốc độ thu hồi vốn nhanh,
kích thích phát triển sản xuất.
Công tác tiêu thụ tốt giúp doanh nghiệp quyết định tăng sản lợng hay không, là
nhờ các hoạt động hỗ trợ bán hàng nh quảng cáo, khuyến mại, hoạt động dịch vụ
sau bán, hay việc tham gia các hội trợ, tổ chức hội nghị khách hàng làm tăng
thêm danh tiếng cho doanh nghiệp. Mạng lới tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
giúp khách hàng tiếp xúc nhiều hơn với sản phẩm của mình, giúp doanh nghiệp
tạo ra nhiều bạn hàng khách hàng mới và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị tr-
ờng.
1.9. Uy tín của doanh nghiệp trên thị trờng .
doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp khẳng định đợc vị trí của
mình trên thị trờng. Vị trí này có đợc đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự nỗ lực của
toàn thể cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp. Uy tín của doanh nghiệp
không chỉ đơn thuần với khách hàng mà còn uy tín với bạn hàng, với nhà cung
ứng, với tổ chức cá nhân có liên quan, với nhà nớc. Những doanh nghiệp có uy tín
12
sẽ có những bạn hàng lâu dài và tin tởng trong việc cung cấp nguyên vật lịêu cho
sản xuất kinh doanh, sẽ tạo ra nhiều mối quan hệ mới đặc biệt trong vấn đề liên
doanh, liên kết.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi phải có sự liên
doanh liên kết, tơng trợ lẫn nhau giữa các doanh nghiệp. Liên doanh với nhau
nhằm tận dụng thế mạnh của nhau và uy tín đã đợc lợng hoá để tính phần vốn góp
về giá cả là đáng kể, mọi cuộc cạnh tranh về giá cả đều dẫn đến tổn thơng. Cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp trong một ngành sản xuất thờng bao gồm các nội
dung chủ yếu nh: Cơ cấu cạnh tranh, thực trạng cầu của ngành, các hàng rào lối
ra ...
* Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn .
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện tại cha cạnh tranh cùng
một ngành sản xuất, nhng có khả năng cạnh tranh nếu họ đợc lựa chọn và quyết
định gia nhập ngành.Đây là đe doạ cho các doanh nghiệp hiện tại .
*Nhà cung ứng
Nhà cung ứng có thế coi là áp lực đe dọa khi họ có khả năng tăng giá đầu vào
hoặc giảm chất lợng sản phẩm dịch vụ mà họ cung cấp, áp lực này sẩy ra khi là
nhà cung ứng độc quyền, không có sản phẩm thay thế, doanh nghiệp mua yếu tố
sản phẩm không phải là khách hàng quan trọng và u tiên của họ, cũng có thể loại
đầu vào của nhà cung ứng là quan trọng đối với doanh nghiệp hay các nhà cung
ứng vật t cũng có chiến lợc kết dọc, tức là khép kín sản xuất.
* Khách hàng
Đây là lực lợng tạo ra khả năng mặc cả của ngời mua. Ngời mua có thể mặc cả
thông qua sự ép giá giảm từ khối lợng hàng hoá mua của doanh nghiệp hoặc đa ra
yêu cầu chất lợng tốt hơn nhng họ cũng có thể tạo cơ hội cho doanh nghiệp tăng
giá kiếm lợi nhuận. Các nhân tố gây sức ép đó là mua khối lợng lớn, nắm bắt đ-
ợc thông tin của doanh nghiệp, thị trờng... thậm chí họ có thể vận dụng chiến lợc
liên kết dọc, xu hớng khép kín sản xuất.
* Sản phẩm thay thế.
Là sản phẩm khác có thể thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Đặc điểm cơ bản
của nó thờng có những u thế hơn sản phẩm bị thay bởi đặc trng riêng biệt hay giá
rẻ hơn. Tạo điều kiện u đãi hơn về dịch vụ hoặc các điều kiện tài chính.
Nh vậy, trong một ngành kinh doanh luôn có những đe dọa buộc các doanh
nghiệp phải nghiên cứu phân tích nhằm đa ra những chiến lợc cho mình để đối
phó với các thế lực trên nhằm nần cao khả năng cạnh tranh của mình trong nền
Sản phẩm và cơ cấu sản phẩm, yếu tố này chịu tác động của công tác quản trị
của doanh nghiệp, của nguồn nhân lực, của công nghệ máy móc thiết bị. Chiến l-
ợc kinh doanh của doanh nghiệp trong đó có chiến lợc vì sản phẩm cơ cấu sản
phẩm nh thế nào, giá sản phẩm ra sao cho phù hợp với chi phí bỏ ra, với giá trên
thị trờng.
15
Giá cả của sản phẩm lại ảnh hởng bởi máy móc công nghệ thiết bị. Công nghệ có
hiện đại thì mới giảm đợc chi phí sản xuất khi đó giá mới giảm đồng thời chất l-
ợng sản phẩm lại tốt do đó khách hàng sử dụng yên tâm hoạt động tiêu thụ mạnh
mẽ, lợi nhuận tăng, doanh nghiệp mở rộng thị phần, khả năng cạnh tranh đợc
nâng cao.
Khi uy tín doanh nghiệp đợc khẳng định thì khả năng cạnh tranh rất cao bởi
khách hàng và bạn hàng đã biết đến. Để tạo dựng đợc uy tín đòi hỏi sản phẩm của
doanh nghiệp phải tốt, đáp ứng các nhu cầu của ngời tiêu dùng, giá cả hợp lý, cơ
cấu sản phẩm đa dạng.
Nh vậy tất cả các nhân tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau, thúc đẩy nhau cho hoạt động của doanh nghiệp diễn ra tốt đẹp
nhất.
III. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp
1. Thị phần và vị thế cạnh tranh
Thị phần là chỉ tiêu mà các doanh nghiệp thờng dùng để đánh giá mức độ chiếm
lĩnh thị trờng của mình so với đối thủ cạnh tranh. Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất để
đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Thị phần càng lớn càng thể hiện
rõ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh. Biểu hiện cụ thể là thị phần
mà doanh nghiệp chiếm lĩnh, uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng, bạn
hàng thậm chí cả với đối thủ cạnh tranh.
Khi xem xét ngời ta đề cập đến các loại thị phần sau :
+Thị phần của doanh nghiệp so với toàn bộ thị trờng: Đây chính là tỉ lệ phần trăm
Tỷ suất lợi nhuận =
doanh thu
doanh thu tỷ lệ nghịch với tỷ xuất lợi nhuận, khi doanh thu càng cao thì tỷ
xuát lợi nhuận sẽ giảm và ngợc lại. Chính vì thế muốn tăng doanh thu ta có thể
giảm tỷ xuất lợi nhuận.
17
Chơng II
Thực trạng khả năng cạnh tranh của Xí nghiệp giầy
thể thao xuất khẩu kiêu kỵ
I. Những nét khái quát về Xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu
kiêu kỵ.
1.Lịch sử hình thành và phát triển của doanh nghiệp.
Xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu kiêu kỵ là một doanh nghiệp nhà nớc
trực thuộc Bộ Thợng mại có chức năng và nhiệm vụ là: sản xuất và kinh doanh
mặt hàng giầy dép các loại.
Địa chỉ của Xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu kiêu kỵ:
Xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu kiêu kỵ, Gia Lâm Hà Nội
Điện thoại : 8766879
Fax : 8276289
Quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp có thể đợc khái quát nh
sau:
Do nhu cầu xuất khẩu ngày cao và nền kinh tế mở cửa cần nâng cao mở rộng
phạm vi hoạt động của một số ngành hàng đặc biệt là giầy dép xuất khẩu nên:
ngày 22 tháng 7 năm 1995 doanh nghiệp đợc quyết định thành lập và đi vào
hoạt động.
Sau nhiều năm hoạt động và phát triển doanh nghiệp đã dần khẳng định đợc
mình là một trong những doanh nghiệp lớn mạnh trên cơ sở đội ngũ công nhân
viên là những ngời có trình độ và lòng nhiệt huyết cao đã đa doanh nghiệp đến
nhng bớc nhảy vọt về sản lợng cũng nh chất lợng và hoàn thành tốt những chỉ tiêu
Với quá trình phát triển nh vậy tính đến năm 2002 quy mô sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp là:
- Tổng số vốn kinh doanh: 32.198.725.000 đồng
- Vốn ngân sách cấp: 20.271.321.080 đồng
- Vốn vay: 9.269.187.000 đồng
- Vốn tự bổ sung: 2.658.216.920 đồng
2. Chức năng nhiệm vụ của doanh nghiệp:
2.1. Chức năng:
Doanh nghiệp có chức năng chính là sản xuất kinh doanh các loại giầy dép
và một số mặt hàng khác từ cao su phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu. Ngoài ra
19
doanh nghiệp còn có chức năng kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp theo giấy
phép kinh doanh XNK số 2051081 cấp ngày 18/12/1992. Phạm vi kinh doanh
XNK của doanh nghiệp là:
* Xuất khẩu: Các loại giầy dép và mặt hàng doanh nghiệp sản xuất ra.
* Nhập khẩu: vật t, nguyên liệu, máy móc thiết bị phục vụ cho quá trình sản
xuất của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh độc lập trên cơ sở lấy
thu bù chi, khai thác các nguồn vật t, nhân lực, tài nguyên của đất nớc đẩy mạnh
hoạt động xuất khẩu tăng thu ngoại tệ góp phần vào công cuộc xây dựng và phát
triển kinh tế.
2.2. Nhiệm vụ:
Là một đơn vị kinh tế hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng. Xí
nghiệp giầy thể thao xuất khẩu kiêu kỵ có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây
dựng thủ đô hà Nội và ngành giầy da Việt Nam. Nhiệm vụ của doanh nghiệp đợc
thể hiện:
- Thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở chủ động và tuân thủ
nghiêm chỉnh các quy định của luật pháp.
- Nghiên cứu khả năng sản xuất, nhu cầu thị trờng, kiến nghị và đề xuất với
+ Phòng tài vụ kế toán
+ Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu
+ Phòng hế hoạch vật t
+ Phòng cơ điện
+ Phòng kỹ thuật
Mô hình tổ chức quản lý của doanh nghiệp là mô hình trực tuyến, chức năng.
Đứng đầu là giám đốc doanh nghiệp sau đó là các phòng ban nghiệp vụ và sau là
các đơn vị thành viên trực thuộc.
21
Sơ đồ 1: cơ cấu bộ máy tổ chức của doanh nghiệp
II. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp giầy
thể thao xuất khẩu kiêu kỵ
1. Đặc điểm về sản phẩm của doanh nghiệp
Ngành giầy là ngành công nghiệp nhẹ, sản phẩm của ngành vừa phục vụ cho
sản xuất, vừa phục vụ cho tiêu dùng. Đối tợng phục vụ của ngành giầy rất rộng lớn
bởi nhu cầu về chủng loại sản phẩm của khách hàng rất đa dạng.
Mặt khác sản phẩm giầy phụ thuộc nhiều vào mục đích sử dụng và thời tiết,
mùa vụ, thời trang. Do đó doanh nghiệp đã chú trọng sản xuất những sản phẩm
chất lợng và yêu cầu kỹ thuật cao - công nghệ phức tạp, giá trị kinh tế của sản
phẩm cao.
22
Giám đốc
P.Giám đốcP.Giám đốc
Phòng
tổ chức
hành
chính
Phòng
kế toán
- Giầy giả da xuất khẩu các loại
- Dép giả da xuất khẩu các loại
Do có sự cải tiến về công nghệ sản xuất cũng nh làm tốt công tác quản lý kỹ
thuật nên sản phẩm của doanh nghiệp có chất lợng tơng đơng với chất lợng sản
phẩm của những nớc đứng đầu châu á. Sản lợng của doanh nghiệp ngày càng tăng
nhanh, biểu hiện khả năng tiêu thụ sản phẩm lớn.
Đặc điểm sản phẩm của doanh nghiệp có ảnh hởng rất lớn trong hoạt động
nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc biệt sản phẩm của doanh
nghiệp chủ yếu là xuất khẩu, đây là một đặc điểm có vai trò quan trọng trong việc
nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp sản phẩm xuất khẩu, doanh thu xuất khẩu chiếm một
tỷ lệ lớn (trên 90%) giá trị sản phẩm sản xuất và tổng doanh thu, Qua đó ta có thể
thấy vai trò quan trọng của nó trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc tăng khối lợng sản phẩm xuất khẩu sẽ
góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ, tăng doanh thu lợi nhuận từ đó làm tăng
nhanh vòng quay của vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
2. Đặc điểm về quy trình công nghệ sản xuất giầy của doanh nghiệp
Từ ngày thành lập là một doanh nghiệp làm ăn độc lập với những dây chuyền
cũ, lạc hậu không thích ứng với thời cuộc, đứng trớc tình huống đó ban giám đốc
doanh nghiệp đã tìm ra hớng đi riêng cho mình, tìm đối tác làm ăn, ký kết hợp
đồng chuyển giao công nghệ. Hiện nay, dây chuyền sản xuất chủ yếu của doanh
nghiệp đều nhập từ Đài Loan, Hàn Quốc, phù hợp với điều kiện sản xuất ở Việt
Nam về kỹ thuật và sử dụng nhân công nhiều.
Đến nay doanh nghiệp đã đầu t dây chuyền sản xuất, công suất dự tính 2,5
triệu đôi/năm trong đó gồm dây chuyền sản xuất giầy dép thời trangvà dây chuyền
sản xuất giầy thể thao, giầy vải cao cấp xuất khẩu, giầy bảo hộ lao động và các sản
phẩm may mặc, cao su hoá. Đây là dây chuyền hoàn toàn khép kín từ khâu may
mũ giầy vào form, cắt dân. "OZ" (đờng viền quanh đế giầy), các dây chuyền có
23
Xuất hàng