Đề tài nghiên cứu khoa học
Môn học
Quản trị cung ứng Đề tài : “ phát triển hoạt
động kho bãi, vận tải trong
ngành logistics Việt Nam.”
nghiệp kinh doanh logistics 22
2.2.1. Các nhân tố chủ quan 22
2.2.1.1. Hệ thống pháp luật. 23
2.2.1.1.1. Các văn bản pháp luật liên quan 23
2.2.1.1.2. Các cam kết quốc tế 24
2.2.1.1.2.1. Cam kết WTO 24
2.2.1.1.2.2. Cam kết ASEAN 26
2.2.1.2. Cơ sở hạ tầng 30
2.2.1.3. Nguồn nhân lực 32
2.2.1.4. Khoa học công nghệ 34
2.2.1.4.1. Tác động tích cực 34
2.2.1.4.2. Tác động tiêu cực 35
2.2.1.5. Cạnh tranh 35
2.2.1.5.1. Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn 36
2.2.1.5.2. Cạnh tranh trong nội bộ ngành 36
2.2.2. Các nhân tố khách quan 39
2.2.2.1. Vị trí địa lý 39
2.2.2.2. Tập quán kinh doanh 39
2.3. Thực trạng hoạt động kinh doanh kho vận của một số công ty logistic tại Việt Nam 40
2.3.1. Công ty Sotrans 40
2.3.2. Công ty Tân Cảng Logistics 49
2.3.3. Công ty Transimex 53
CHƯƠNG III. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KHO VẬN TRONG KINH
DOANH LOGISTICS TẠI VIỆT NAM 60
3.1. Những thành tựu chung 60
3.1.1. Sức hấp dẫn của thị trường kinh doanh kho vận Việt Nam 60
4.3.2. Đối với các doanh nghiệp 71
4.3.3. Đối với Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam (VIFFAS) 72
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AFTA Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
WTO Tổ chức thương mại thế giới
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
UNCTAD Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về
Thương mại và Phát triển
FOB Giao lên tàu (Điều khoản của
Incoterms)
CIF Tiền hàng, bảo hiểm và cước(Điều
khoản của Incoterms)
CIP Cước phí, bảo hiểm và trả tới(Điều
khoản của Incoterms)
WB Ngân hàng thế giới
LPI Chỉ số về năng lực logistics
MTO Vận tải đa phương thức
VPA Hiệp hội cảng biển Việt Nam
VIFFAS Hiệp hội giao nhận kho vận Việt
Nam
INCOTERMS Các điều khoản thương mại quốc tế
GTOs Hệ thống phần mềm quản lý khai
Transimex……………………………………………………………… 57
Bảng 12. Doanh thu và giá vốn hàng bán (2008-2009) công ty Transimex…… 58
Ma trận SWOT đánh giá hoạt động kho vận trong kinh doanh dịch vụ
logistics tại Việt Nam…………………………………………………… 67 1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Cơ chế thị trường và xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế, đặc biệt
trong giai đoạn Việt Nam gia nhập AFTA, WTO,…Các hoạt động dịch vụ
được coi là một trong những yếu tố cạnh tranh của bất cứ một doanh
nghiệp nào. Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế hàng hoá được chuyển đưa
ra các quốc gia, Logistics trở thành ngành có vai trò then chốt trong việc
đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng ở bất cứ nơi đâu. Mục đích của
Logistics là cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng với tổng chi phí là
nhỏ nhất. Điều này liên quan đến việc hạ giá thành sản phẩm, đáp ứng được
yêu cầu của khách hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh cuả các doanh
nghiệp. Qua đó chúng ta có thể thấy được vai trò quan trọng của hoạt động
Logistics trong hoạt động kinh tế dịch vụ của nền kinh tế. Vì vậy, hoạt
động này hiện nay cần có sự chú trọng đầu tư, tìm cách nâng cao hiệu quả
hoạt động hơn nữa để có thể cạnh tranh với các Công ty Logistics của nước
ngoài đang mở rộng hoạt động tại các nước đang phát triển và ngay cả tại
ViệtNam.
Vậy thì với vị trí vô cùng quan trọng trong chuỗi chung ứng dịch vụ
Logistics, kho bãi- vận tải đang đóng góp một phần không nhỏ tới doanh
thu, lợi nhuận cũng như sự phát triển của Logistics. Không có kho hàng,
ở một số công ty đang hoạt động trong lĩnh vực này. Từ đó chỉ ra hướng
phát triển hiệu quả cho hoạt động kho vận nhằm tận dụng những điểm
mạnh của doanh nghiệp để nắm bắt các cơ hội, cũng như có giải pháp cho
những khó khăn, thách thức.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng : Là các vấn đề liên quan tới sự phát triển của hoạt
động kinh doanh kho bãi và vận tải trong các doanh nghiệp
logistics tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hoạt động
kinh doanh của 3 công ty : Sotrans, Tân Cảng và Transimex trong
lĩnh vực kho bãi và vận tải.
4. Phương pháp nghiên cứu.
3
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đồng
thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như thu thập thông tin
phân tích tổng hợp số liệu qua để nghiên cứu và trình bày các nội dung của
đề tài.
5. Những đóng góp của đề tài.
Phân tích, khảo sát thực trạng của hoạt động kho vận tại các doanh
nghiệp logistic ở Việt Nam từ đó đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động
này.
6. Kết cấu đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề
tài gồm 4 chương :
Chương I. Những lý luận cơ bản về logistics và các hoạt động kho vận.
Chương II. Thực trạng hoạt động kho vận trong dịch vụ logistic tại Việt
Nam.
tiêu đáp ứng nhu cầu khách hàng, quy trình này bao hàm cả các hoạt
động đầu vào, đầu ra, bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp.
Trong lĩnh vực quân sự, logistics được định nghĩa là khoa học của
việc lập kế hoạch và tiến hành di chuyển và tập trung các lực lượng,
… các mặt trong chiến dịch quân sự liên quan tới việc thiết kế và
phát triển, mua lại, lưu kho, di chuyển, phân phối, tập trung, sắp đặt
và di chuyển khí tài, trang thiết bị.
Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233): Trong Luật
Thương mại 2005, lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ logistics được
pháp điển hóa. Luật quy định “Dịch vụ logistics là hoạt động thương
mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công
đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục
hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao
bì, ghi ký mã hiệu, giao hạng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới
hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.
1.1.2 Sự hình thành và phát triển của Logistics trên thế giới
Ban đầu logistics được sử dụng như một từ chuyên môn trong quân
đội,được hiểu với nghĩa là công tác hậu cần. Đến cuối thế kỷ 20, Logistics
được ghi nhận như là một chức năng kinh tế chủ yếu, mang lại thành
5
côngcho các doanh nghiệp cả trong khu vực sản xuất lẫn trong khu vực
dịch vụ. Uỷ ban Kinh tế và Xã hội châu Á-Thái Bình Dương (Economic
and SocialCommission for Asia and the Pacific) đánh giá Logistics đã phát
triểnqua 3 giai đoạn:
1- Phân phối vật chất (Distribution)
2- Hệ thống Logistics
3- Quản trị dây chuyển cung ứng (Supply Change Management)
mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, dịch vụ logistics chiếm khoảng từ 15-20%
GDP. Ước tính GDP năm 2012 khoảng 130 tỷ USD. Như vậy, chi phí
logistics chiếm khoảng 19,5-26 tỷ USD. Nếu chỉ tính riêng khâu quan trọng
nhất trong logistics là vận tải, chiếm từ 40-60% chi phí thì cũng đã là một
thị trường dịch vụ khổng lồ.
Đối với những nước phát triển như Nhật và Mỹ logistics đóng góp
khoảng 10% GDP. Đối với những nước kém phát triển thì tỷ lệ này có thể
hơn 30%. Sự phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận
hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và
chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng tiết giảm chi phí,
nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.
* Logistics có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa chu trình lưu chuyển
của sản xuất kinh doanh từ khâu đầu vào nguyên vật liệu, phụ kiện, … tới
sản phẩm cuối cùng đến tay khách hàng sử dụng.
Từ thập niên 70 của thế kỷ XX, liên tiếp các cuộc khủng hoảng năng
lượng buộc các doanh nghiệp phải quan tâm tới chi phí, đặc biệt là chi phí
vận chuyển. Trong nhiều giai đoạn, lãi suất ngân hàng cũng cao khiến các
doanh nghiệp có nhận thức sâu sắc hơn về vốn, vì vốn bị đọng lại do việc
duy trì quá nhiều hàng tồn kho. Chính trong giai đoạn này, cách thức tối ưu
hóa quá trình sản xuất, lưu kho, vận chuyển hàng hóa được đặt lên hàng
đầu. Và với sự trợ giúp của công nghệ thông tin, logistics chính là một
công cụ đắc lực để thực hiện điều này.
* Logistics đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo yếu tố đúng thời
gian-địa điểm (just in time)
7
Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã làm cho hàng hóa và sự vận động của
chúng phong phú và phức tạp hơn, đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ, đặt ra yêu
8
*. Dịch vụ logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh
nghiệp vận tải giao nhận.
Dịch vụ logistics là loại hình dịch vụ có quy mô mở rộng và phức tạp
hơn nhiều so với hoạt động vận tải giao nhận thuần túy. Trước kia, người
kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những
dịch vụ đơn giản. Ngày nay, do sự phát triển của sản xuất, lưu thông, các
chi tiết của một sản phẩm có thể do nhiều quốc gia cung ứng và ngược lại
một loại sản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại nhiều quốc gia,
nhiều thị trường khác nhau, vì vậy dịch vụ mà khách hàng yêu cầu từ người
kinh doanh vận tải giao nhận phải đa dạng và phong phú. Người vận tải
giao nhận ngày nay đã triển khai cung cấp các dịch vụ nhằm đáp ứng yêu
cầu thực tế của khách hàng. Họ trở thành người cung cấp dịch vụ logistics
(logistics service provider). Rõ ràng, dịch vụ logistics đã góp phần làm gia
tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận.
* Logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế.
Sản xuất có mục đích là phục vụ tiêu dùng, cho nên trong sản xuất kinh
doanh, vấn đề thị trường luôn là vấn đề quan trọng và luôn được các nhà
sản xuất và kinh doanh quan tâm. Các nhà sản xuất kinh doanh muốn
chiếm lĩnh và mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình phải cần sự hỗ
trợ của dịch vụ logistics. Dịch vụ logistics có tác dụng như chiếc cầu nối
trong việc chuyển dịch hàng hóa trên các tuyến đường mới đến các thị
trường mới đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra. Dịch vụ logistics
phát triển có tác dụng rất lớn trong việc khai thác và mở rộng thị trường
kinh doanh cho các doanh nghiệp.
* Logistics hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhà quản lý phải giải quyết nhiều
bài toán hóc búa về nguồn nguyên liệu cung ứng, số lượng và thời điểm
hiệu quả để bổ sung nguồn nguyên liệu, phương tiện và hành trình vận tải,
Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật.
Dịch vụ bưu chính;Dịch vụ thương mại bán buôn.
10
Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu
kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao
hàng.
Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác.
1.1.5 Đánh giá chung về dịch vụ logistics tại Việt Nam
Ngày 15/1/2010, tại Washington, Hoa Kỳ, báo cáo về năng lực logistics
của các quốc gia lần thứ hai của WB đã được chính thức công bố. Giám
đốc Phòng thương mại Ngân hàng thế giới, Bernard Hoekman, phát biểu:
“Các quốc gia có năng lực logistics tốt hơn có thể tăng trưởng tốt hơn, trở
nên cạnh tranh hơn và tăng hiệu quả đầu tư. Nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy nâng cao năng lực logistics ở các nước có thu nhập thấp và trung bình
có thể thúc đẩy thương mại tăng trưởng 15% và đem lại lợi ích cho cả
doanh nghiệp và người tiêu dùng với giá rẻ hơn và chất lượng dịch vụ đảm
bảo”.
Hình 1: Báo cáo chỉ số LPI năm 2007, 2009 của Việt Nam
(www.worldbank.org/lpi)
(nhìn chung đều > mức trung bình 2,5)
Tổng dịch vụ logistic mới chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong giá trị
của dịch vụ trong GDP so với mức 105 cúa Singapore, 19% của
Trung Quốc, như vậy các dịch vụ logistics của ta còn kém phát triển.
Phạm vi hoạt động hạn chế chỉ trong nội địa hoặc một số nước trong
khu vực.
năng lực của các doanh nghiệp, nhận thấy rằng với trình độ của Việt Nam
hiện nay, nhóm chúng tôi chỉ xin đi sâu nghiên cứu, phân tích về hoạt động
giao nhận vận tải và các hoạt động kho vận trong dịch vụ của các doanh
nghiêp logistics Việt Nam.
12
1.2 Hoạt động kho vận trong logistics
1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Vận tải và vận tải trong thương mại quốc tế
Vận tải :
Trong xã hội chúng ta sự di chuyển vị trí của công cụ sản xuất, sản
phẩm lao động và bản thân con người là một nhu cầu tất yếu, chỉ có ngành
sản xuất vận tải mới thỏa mãn được nhu cầu này. Do đó đứng về mặt kinh
tế người ta đưa ra khái niệm về vận tải như sau :
Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm thay
đổi vị trí của hàng hóa và bản thân con người từ nơi này đến nơi khác bằng
các phương tiện vận tải.
Vận tải quốc tế :
Là hình thức chuyên chở hàng hóa giữa hai hay nhiều nước tức là
điểm đầu và điểm cuối của quá trình vận tải nằm ở hai nước khác nhau.
Như vậy, việc chuyển hàng hóa trong vận tải quốc tế đã vượt ra khỏi phạm
vi một nước, vị trí của hàng hóa được thay đổi từ nước người bán sang
nước người mua.
1.2.1.2 Kho và hoạt động kho trong logistics.
Theo cách hiểu truyền thống, nhà kho đóng vai trò quan trọng trong
việc lưu giữ nguyên liệu và thành phẩm dài hạn. Những nhà sản xuất tiến
hành sản xuất hàng hóa, sau đó lưu kho và cuối cùng bán hàng hóa trong
kho ra thị trường.
b. Vận tải đường sắt.
Thuận lợi: sức chở lớn; đều dặn, liên tục vận tốc lớn và tương đối an
toàn,ít bị chi phối bởi thời tiết và khí hậu; giá thành tương đối thấp.
Khó khăn: chi phí đầu tư, xây dựng khá cao đòi hỏi nhiều công sức, thời
gian ( đặc biệt với địa hình phức tạp nước ta ); kém linh hoạt do chỉ hoạt
động được trên các tuyến đường cố định.
c. Vận tải đường hàng không.
Vận tải hàng không có đặc điểm: các tuyến đường vận tải hàng không
hầu hết là các đường thẳng nối hai điểm vận tải với nhau; tốc độ vận tải
cao, tốc độ khai thác lớn, thời gian vận chuyển nhanh; an toàn hơn so với
14
các phương tiện vận tải khác; luôn đòi hỏi sử dụng công nghệ cao; cung
cấp các dịch vụ tiêu chuẩn hơn hẳn so với các phương thức vận tải khác;
đơn giản hoá về về chứng từ thủ tục so với các phương thức khác.
Bên cạnh ưu điểm trên, vận tải hàng không cũng có những hạn chế sau:
Cước vận tải hàng không cao; không phù hợp với vận chuyển hàng hoá
kồng kềnh, hàng hoá có khối lượng lớn hoặc có giá trị thấp; đòi hỏi đầu tư
lớn về cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như đào tạo nhân lực phục vụ.
d. Vận tải đa phương thức.
Khái niệm : Vận tải đa phương thức (Multimodal transport) quốc tế hay
còn gọi là vận tải liên hợp (Conbined transport) là phương thức vận tải
hàng hóa bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau trở lên, trên cơ sở
một hợp đồng vận tải đa phương thức từ một điểm ở một nước tới một
điểm chỉ định ở một nước khác để giao hàng.
Đặc điểm :
Vận tải đa phương thức quốc tế dựa trên một hợp đồng đơn nhất và
được thể hiện trên một chứng từ đơn nhất (Multimodal transport document)
trung tâm phân phối tổng hợp. Sản phẩm được chuyển từ nơi sản xuất đến
kho cross-docking theo những lô hàng lớn, tại đây lô hàng sẽ được tách ra,
chuẩn bị theo những đặt hàng của khách hàng rồi được gửi đi cho khách.
Do đã được chuẩn bị đầy đủ, nên khi chở đến nơi hàng sẽ được đưa ngay
vào sử dụng mà không cần qua kho nữa.
Cross-docking rất phát triển và phục vụ cho hệ thống siêu thị và các
nhà bán lẻ hàng hóa được chở đến cross-docking, được phân loại và chuẩn
bị tại đây rồi chuyển ra cửa hàng. Hầu hết các kho đa năng đều được bố trí
trong khoảng giữa các nhà sản xuất và nơi tiêu thụ. Các công ty có nhu cầu
sử dụng loại kho này có thể tự tổ chức tại kho của mình hoặc đi thuê kho,
thuê các công ty logistics.
Kho cho thuê theo hợp đồng.
Các công ty có thể sử dụng kho thuê theo hợp đồng. Hợp đồng thuê kho
là sự thỏa thuận giữa bên cho thuê và bên đi thuê về quyền lợi và nghĩa vụ
của các bên, trong đó bên cho thuê sẽ cung cấp dịch vụ kho bãi theo thỏa
thuận cho khách hàng và bên đi thuê sẽ thanh toán tiền thuê kho cho bên
cho thuê. Loại kho này là loại kho cũng được thay đổi cho phù hợp với mục
đích sử dụng của công ty và hoạt động logistics trong nội bộ công ty. Thuê
16
kho theo hợp đồng là sự thỏa thuận về lợi ích dài hạn của các bên, các bên
sẽ cùng nhau chia sẻ rủi ro trong những hoạt động sản xuất chung nhằm
nâng cao chất lượng dịch vụ, năng suất và hiệu quả kinh doanh.
1.2.3 Vai trò của hoạt động kho vận đối với sự phát triển của Logistic.
1.2.3.1 Vai trò của hoạt động vận tải.
Hoạt động vận tải có vai trò quan trọng, quyết định đến hiệu quả của
luồng chuyển dịch hàng hóa. Quy trình kỹ thuật và nguyên tắc quản lý
chuỗi cung ứng liên quan đến hoạt động bốc dỡ, tốc độ giao hàng, chất
18
tải ở các quốc gia khác và ngay cả việc chiếm lĩnh thị trường trong
nước, đặc biệt khi hoạt động logistics của các công ty lớn đang phát
triển trên toàn thế giới.
Trình độ công nghệ nói chung còn thấp, phương pháp quản lý kho
bãi còn lạc hậu so với thế giới. Ví dụ như các hợp đồng của các công
ty này với khách hàng về cơ bản vẫn qua hìn thức thư truyền
thống(điện thoại, fax, email) trong khi một số nước trong khu vực
như Singapore, Thailand, Malayxia đang áp dụng công nghệ trao đổi
số liệu điện tử(EDI) hoặc hiện đại hơn cho phép liên lạc điện tử, thủ
tục nhanh chóng. Trong vận chuyển đa phương thức thì sự phối hợp
giữa các phương tiện còn thấp cộng với hệ thống giao thông không
đồng bộ gây khó khăn rất nhiều cho hoạt động kho vận. Hơn nữa
việc bốc xếp phần lớn là vẫn sử dụng nhân công mà chưa áp dụng
phổ biến công nghệ tự động, việc quản lý kho bãi nói chung còn lạc
hậu.
Việt Nam có những tổng công ty nhà nước kinh doanh lâu năm trong
lĩnh vực cơ sở hạ tầng và vận tải như Vinalines, Vietnam Airlines, Vietnam
Railway, cùng gần 1200 doanh nghiệp kinh doanh giao nhận, kho vận. Tuy
nhiên chủ yếu là kinh doanh nhỏ hoặc làm đại lý cho các công ty nước
ngoài và ít doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất, kho bãi, máy móc thiết bị.
Về tình hình và triển vọng phát triển ta có thể thấy qua các bảng số liệu sau
đây: