Nâng cao hiệu quả hoạt động Thông tin Khoa học và Công nghệ ở Nghệ An
Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ (KH&CN) là một dạng lao động khoa
học được hình thành có tổ chức do cán bộ thông tin thực hiện nhằm mục đích nâng
cao hiệu quả của nghiên cứu - triển khai, đổi mới công nghệ và nâng cao chất
lượng của các quyết định quản lý (1).
Từ vài thập kỷ qua, cùng với hai yếu tố năng lượng và nguyên liệu, thông tin
KH&CN đã được coi là tiềm năng thứ 3 – một tiềm năng đặc biệt quan trọng, có
vai trò to lớn trong việc thúc đẩy phát triển mọi hoạt động xã hội của con người.
Đầu tư cho thông tin KH&CN từ chỗ được coi là đầu tư cho phúc lợi xã hội
chuyển thành đầu tư cho sự phát triển
(1)
.
Ở Việt Nam, hoạt động thông tin KH&CN bắt đầu được hình thành từ cuối
những năm 50 của thế kỷ XX, và đến nay, cùng với hoạt động thư viện đã tạo
thành Hệ thống thông tin KH&CN Quốc gia với hàng trăm cơ quan thông tin
KH&CN hoạt động ở Trung ương, các Bộ/ngành, các tổng công ty, các địa
phương và các đơn vị cơ sở.
Trong những năm gần đây, hoạt động thông tin KH&CN ở nước ta đã có
nhiều thay đổi theo hướng ngày càng gắn kết với sản xuất và thực tiễn cuộc sống,
không ngừng nâng cao chất lượng thông tin và hiện đại hoá phương thức phục vụ,
nhờ đó, hoạt động thông tin KH&CN đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.
1. Vai trò của hoạt động thông tin KH&CN trong các lĩnh vực xã hội
* Trong lĩnh vực quản lý
Hiệu quả của quá trình quản lý tuỳ thuộc vào chất lượng của các quyết định,
tức là quyết định có luận chứng khoa học, kịp thời và thể hiện được sự am hiểu,
nắm vững vấn đề được quyết định. Chất lượng quyết định phụ thuộc vào sự đầy
đủ và chất lượng của thông tin. Như vậy thông tin là yếu tố quan trọng, trợ thủ
đắc lực của những người làm công tác quản lý trong hệ thống tổ chức của xã hội.
Có thể khái quát hoá vai trò của thông tin nói chung và thông tin KH&CN nói
riêng trong quá trình ra quyết định quản lý: Mỗi giai đoạn chuẩn bị và thông qua
quyết định đều cần đến thông tin, sự đảm bảo thông tin thực sự ảnh hưởng đến tất
quan thông tin KH&CN. * Trong lĩnh vực giáo dục
Với tiến bộ KH&CN, phương tiện thông tin đại chúng ngày càng có vai trò
to lớn trong quá trình chuyển giao tri thức. Các phương tiện chuyển giao tri
thức gồm: Sách, báo, tạp chí, radio, vô tuyến, vi phim, vi phiếu, băng hình…
Nhờ mở rộng phương tiện thông tin chuyển giao tri thức cho cán bộ giảng dạy,
tri thức này được truyền cho các thế hệ nhờ có hệ thống giáo dục. Thông qua
việc bổ sung tri thức, sinh viên dần trở thành thầy giáo và nhà nghiên cứu, dẫn
đến một xã hội đào tạo ra được một lực lượng lao động mới, có khả năng vươn
tới giải quyết những vấn đề của thực tiễn đặt ra. Hoạt động thông tin KH&CN
cần phải đáp ứng một số yêu cầu sau: Có khả năng cung cấp một lượng tài liệu
lớn; Cho phép thu thập và phổ biến thông tin tốt nhất; Phục vụ cho các chuyên
gia giáo dục trong quá trình đào tạo; Đáp ứng nhu cầu tự đào tạo “tự học suốt
đời”.
* Trong lĩnh vực đời sống xã hội
Hoạt động thông tin KH&CN có tác dụng quan trọng trong đời sống sinh hoạt
của con người. Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu thông tin của con
người ngày càng gia tăng và sử dụng thông tin để lựa chọn sản phẩm và dịch vụ
khác nhau. Các thông tin về chính trị, xã hội và kinh tế giúp con người có định
hướng đúng, làm chủ được đời sống của mình và thực hiện đầy đủ trách nhiệm
và quyền hạn của người công dân. Và sự phát triển của các trung tâm thông tin
KH&CN sẽ làm tăng cơ hội tiếp cận của quần chúng tới các cơ sở văn hoá và
giáo dục, nhằm nâng cao kiến thức, phục vụ cho bản thân cũng như đời sống xã
hội.
2. Về hoạt động thông tin KH&CN ở Nghệ An
Tại Nghệ An, hoạt động thông tin KH&CN đã được lãnh đạo tỉnh và Sở
KH&CN quan tâm sớm, có nhiều quyết định cụ thể về xây dựng và điều chỉnh tổ
chức và chức năng nhiệm vụ của cơ quan đầu mối; chỉ đạo và đôn đốc các cơ
3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin
KH&CN Nghệ An trong giai đoạn 2011-2020
Yêu cầu của nhiệm vụ phát triển KT-XH Nghệ An giai đoạn 2011-2020 được
chỉ rõ trong Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011-
2020 là “Phấn đấu đưa Nghệ An thoát khỏi tình trạng tỉnh nghèo và kém phát
triển vào năm 2010; cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020. Xây dựng
Nghệ An trở thành một trung tâm công nghiệp, du lịch, thương mại, giáo dục,
khoa học – công nghệ, y tế, văn hoá của vùng Bắc Trung Bộ; có hệ thống kết cấu
hạ tầng tương đối hiện đại và đồng bộ; có nền văn hóa lành mạnh và đậm đà
bản sắc xứ Nghệ; có nền quốc phòng - an ninh vững mạnh; đời sống vật chất và
văn hoá của nhân dân không ngừng được nâng cao” [2].
Từ đó, chúng ta xác định quan điểm phát triển hoạt động thông tin KH&CN
giai đoạn 2011-2020 là phải dựa trên hệ thống chính sách và luật pháp thống
nhất từ trung ương đến cơ sở; các chỉ đạo định hướng của ngành KH&CN, đồng
thời hoạt động thông tin KH&CN còn phải xây dựng và phát triển trên một hệ
thống hạ tầng kỹ thuật, con người và tổ chức thực hiện đồng bộ, từng bước hiện
đại để trở thành cơ quan thông tin KH&CN đầu mối ở khu vực Bắc Trung Bộ, đủ
năng lực thực hiện tốt và hiệu quả công tác thông tin KH&CN phục vụ nhiệm vụ
phát triển KT-XH và KH&CN của Nghệ An và các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Để đạt được mục tiêu như vậy, hoạt động thông tin KH&CN trong thời gian
tới cần phát triển theo các định hướng như sau:
Một là, tăng cường và phát triển công tác thông tin KH&CN phục vụ quản lý,
phục vụ đổi mới và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu chiến lược; quy
hoạch và kế hoạch phát triển KT-XH.
Hai là, đẩy mạnh công tác thông tin KH&CN phục vụ CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn, công tác thông tin KH&CN phục vụ chuyển giao nhanh và
ứng dụng KH&CN vào sản xuất nông nghiệp.
Ba là, đẩy mạnh công tác thông tin phục vụ hoạt động xúc tiến và phát triển
thị trường công nghệ và thiết bị, tổ chức các Chợ công nghệ và thiết bị, phát triển
sàn giao dịch công nghệ thiết bị.
triển KTXH nông thôn, miền núi, theo hướng duy trì và phát triển hệ thống thông
tin KH&CN cơ sở thông qua việc nhân rộng mô hình cung cấp thông tin KH&CN
phục vụ phát triển KTXH tại cơ sở; Hàng năm đề xuất và đăng ký triển khai nhiệm
vụ KH&CN “Xây dựng và phát triển mô hình phổ biến tri thức khoa học và thông
tin chuyển giao công nghệ” từng bước hình thành và phát triển mạng lưới thông
tin KH&CN nông thôn, miền núi hoạt động trên quy mô toàn tỉnh.
* Giải pháp thứ ba là thể chế hóa hoạt động đăng ký, lưu giữ và phổ biến các
kết quả nhiệm vụ KHCN trên địa bàn tỉnh bằng việc tham mưu cho Giám đốc Sở
trình UBND tỉnh phê duyệt quy định về lưu giữ kết quả nghiên cứu khoa học
hàng năm sử dụng ngân sách khoa học và giao Trung tâm Thông tin KHCN và
Tin học Nghệ An là đơn vị chủ trì thực hiện; Trên cơ sở kết quả của đề tài Ứng
dụng phần mềm trong quản lý đề tài dự án để hình thành hệ thống CSDL toàn
văn về các đề tài dự án và tổ chức phổ biến, cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ
về các đề tài, dự án KH&CN đang tiến hành và thông tin về kết quả các nhiệm
vụ KH&CN đã hoàn thành.
* Giải pháp thứ tư là xây dựng và phát triển công tác thống kê KH&CN địa
phương bằng việc tham mưu cho Giám đốc Sở trình UBND tỉnh phê duyệt
chương trình nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN phù hợp
với Nghệ An, tương hợp với công tác thống kê KH&CN quốc gia, khu vực về thế
giới. Từng bước nghiên cứu tạo lập, hoàn thiện và chuẩn hoá các sản phẩm thống
kê KH&CN như các báo cáo thống kê thường niên, các niên giám thống kê, các
công bố kết quả điều tra KH&CN định kỳ, các sản phẩm dự báo, phân tích dựa
trên số liệu thống kê; Triển khai các hoạt động nghiên cứu ứng dụng phương
pháp thống kê KH&CN hiện đại, phù hợp với các tiêu chuẩn; thông lệ quốc tế,
phù hợp với thực tiễn Việt Nam kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin và truyền
thông để phát triển công tác thống kê KH&CN.
* Giải pháp thứ năm là tăng cường hợp tác trong nước và quốc tế về KH&CN
bằng việc chủ động tìm kiếm và tham gia tích cực vào các chương trình trọng
điểm quốc gia để tạo điều kiện thu hút các cơ quan trung ương về đầu tư, hoạt
động KH&CN trên địa bàn; Tăng cường hợp tác, liên kết, chia sẻ kinh nghiệm
2009-2015; Xây dựng cơ sở dữ liệu về công nghệ và dữ liệu thông tin kết nối đơn
vị, doanh nghiệp có cung, cầu về công nghệ và thiết bị và tạo điều kiện thuận lợi
để các doanh nghiệp Nghệ An tiếp cận với những công nghệ và thiết bị tiên tiến,
hiện đại trước khi quyết định đầu tư; Xây dựng, hình thành Techmart Nghe An
Online (Chợ CN&TB ảo) theo hướng phát triển cổng giao dịch điện tử về thị
trường CN&TB; Tổ chức tốt hoạt động hậu Techmart: Theo dõi, tổng hợp tình
hình triển khai các giao dịch về công nghệ sau khi tham gia các Techmart của các
doanh nghiệp trong tỉnh và các đối tác có liên quan; Tổ chức các hội nghị, hội thảo
rút kinh nghiệm và thúc đẩy các giao dịch công nghệ, nhân rộng các công nghệ
trong sản xuất và đời sống; Xây dựng, hình thành và phát triển Trung tâm giao
dịch về CN&TB vùng Bắc Trung Bộ: Hình thành sàn giao dịch CN&TB; Tổ chức
các phiên giao dịch công nghệ theo ngành, liên ngành; Tổ chức các hội thảo, triển
lãm giới thiệu công nghệ thiết bị mới; Nghiên cứu và tiến tới tổ chức hoạt động
đấu giá công nghệ thiết bị; Xây dựng và vận hành Trung tâm thông tin môi giới và
xúc tiến thương mại hoá các sản phẩm KH&CN.
Xây dựng Sàn giao dịch công nghệ Nghệ An sẽ tạo môi trường gắn kết nghiên
cứu KH&CN với sản xuất kinh doanh, hỗ trợ việc đổi mới công nghệ, nâng cao
năng lực cạnh tranh, tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm của doanh
nghiệp, phục vụ cho hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời cũng tạo ra sức kéo từ thị
trường đối với hoạt động KH&CN, tạo lực đẩy đối với sản xuất và đời sống xã hội.
Mô hình Sàn giao dịch công nghệ thử nghiệm thành công và đi vào hoạt động sẽ
góp phần tạo lập và phát triển thị trường KH&CN của tỉnh Nghệ An và khu vực Bắc
Trung Bộ, tôn vinh và thúc đẩy năng lực khoa học và công nghệ nội sinh, khắc phục
đáng kể tình trạng thiếu thốn những thông tin cần thiết trong giao dịch hàng hoá
công nghệ, xúc tiến việc thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu. Qua đó góp
phần đẩy mạnh công tác phổ biến, áp dụng rộng rãi các thành quả nghiên cứu
KH&CN trong các doanh nghiệp và trong sản xuất, đời sống xã hội. Và qua thực
tiễn sản xuất tác động trở lại các nhà nghiên cứu để họ tạo ra các sản phẩm công
nghệ thích hợp với nhu cầu của thị trường.
5. Một số kiến nghị:
■ Nguyễn Xuân Trung