Báo cáo "Một số khía cạnh pháp lý trong hiệp định Việt - Mỹ" potx - Pdf 11



thông tin
Tạp chí luật học - 51

Một số khía cạnh pháp lí
trong hiệp định quyền tác giả
Việt - Mĩ

Bùi Ngọc toàn *
gày 23/12/1998 tại Washington, đại
sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam
và trợ lí bộ trởng ngoại giao Mĩ, đặc
trách về khu vực Đông á - Thái Bình
Dơng đ thay mặt chính phủ hai nớc
tiến hành trao đổi công hàm thông báo
cho nhau về việc hai bên đ sẵn sàng đảm
nhận nghĩa vụ trong Hiệp định thiết lập
quan hệ quyền tác giả giữa Việt Nam và
Mĩ đợc bộ trởng ngoại giao hai nớc kí
vào ngày 27/6/1997. Nh vậy, Hiệp định
bắt đầu có hiệu lực từ ngày 23/12/1998.
Sự kiện Hiệp định quyền tác giả Việt -
Mĩ phải sau 18 tháng kể từ ngày kí mới
đợc thi hành đ phần nào phản ánh đợc
tính chất phức tạp về mặt pháp lí cũng
nh tầm quan trọng của Hiệp định đối với
quan hệ giữa hai nớc. Mặc dù Thủ tớng
Chính phủ nớc Cộng hòa x hội chủ
nghĩa Việt Nam đ chính thức phê duyệt
Hiệp định nói trên từ ngày 26/12/1997,

chế độ bảo hộ theo các chuẩn mực quy
định của pháp luật hiện hành tại nớc
mình. Nh vậy, về nguyên tắc, Việt Nam
có quyền áp dụng các quy định pháp luật
hiện hành về quyền tác giả để bảo hộ các
tác phẩm của Mĩ. Cho đến khi kí Hiệp
định, phía Việt Nam mới chỉ áp dụng
nguyên tắc này theo quy định tại Điều
836 của Bộ luật dân sự Việt Nam chứ
cha áp dụng thông qua việc kí kết các
điều ớc quốc tế song phơng trong lĩnh
vực quyền tác giả.
Điều đáng lu ý là nguyên tắc đối xử
N
* Vụ pháp luật và điều ớc quốc trế quốc tế
Bộ ngoại giao thông tin
52 - Tạp chí luật học

quốc gia trong Hiệp định quyền tác giả
Việt - Mĩ không phải đợc áp dụng vô
điều kiện mà là có điều kiện. Hiệp định
bắt buộc các bên phải bảo đảm đợc các
quyền tối thiểu ghi trong Hiệp định nh
mỗi bên phải công nhận và bảo hộ quyền
độc quyền của tác giả trong việc cho phép
hoặc cấm sao chép tác phẩm của mình
hay sáng tạo tác phẩm khác dựa trên tác

động đ đợc Việt Nam áp dụng từ nhiều
năm nay. Pháp luật Việt Nam không gắn
việc bảo hộ tác phẩm với bất kì thủ tục
nào. Việc đăng kí tác phẩm không phải là
nghĩa vụ mà là quyền của tác giả, đợc
thực hiện trên cơ sở tự nguyện chứ không
phải là điều kiện để bảo hộ. Hơn nữa,
trong trờng hợp phát sinh tranh chấp về
quyền tác giả thì tác giả không cần phải
chứng minh quyền sở hữu của mình đối
với tác phẩm đ đợc đăng kí.
3. Tác phẩm đợc bảo hộ
Hiệp định quy định mỗi bên phải bảo
hộ những tác phẩm của công dân, ngời
thờng trú ở bên kia và cả những tác
phẩm của ngời tuy không phải là của
công dân, ngời thờng trú ở bên kia
nhng đợc công bố lần đầu trên lnh thổ
bên kia. Về nguyên tắc, Bộ luật dân sự
của Việt Nam và Luật quyền tác giả của
Mĩ đều bảo hộ các tác phẩm của ngời
nớc ngoài, pháp nhân nớc ngoài lần
đầu tiên đợc công bố, phổ biến tại nớc
mình. Vì vậy, phạm vi bảo hộ đối với các
tác phẩm của nớc thứ ba đợc công bố
lần đầu ở mỗi nớc theo Hiệp định là phù
hợp với khuôn khổ cho phép của luật mỗi
nớc.
Khái niệm tác phẩm của Mĩ khác với
khái niệm tác phẩm của Việt Nam ở chỗ

có hiệu lực.
Có thể thấy, Hiệp định ràng buộc Việt
Nam bảo hộ những tác phẩm của Mĩ cha
đợc bảo hộ theo Bộ luật dân sự Việt
Nam. Hay nói cách khác, theo Hiệp định
thì Việt Nam phải bảo hộ các tác phẩm
của Mĩ với phạm vi rộng hơn so với quy
định của pháp luật Việt Nam. Thực tế thì
đây là trờng hợp cụ thể về sự khác biệt
giữa một bên là quy định của điều ớc
quốc tế và bên kia là quy định của pháp
luật quốc gia. Trên cơ sở Điều 836 Bộ
luật dân sự Việt Nam, các quy định của
Hiệp định sẽ đợc áp dụng thay thế các
quy định của pháp luật Việt Nam trong
trờng hợp khác với pháp luật Việt Nam.
4. Thực thi Hiệp định
Vấn đề mà Mĩ tỏ ra đặc biệt quan tâm
và đợc Việt Nam ủng hộ là việc thực thi
Hiệp định. Hiệp định quy định các bên,
thông qua các quy phạm pháp luật, phải
áp dụng các biện pháp dân sự, hành chính
và hình sự thích đáng để giải quyết và xử
lí những vi phạm quyền tác giả một cách
có hiệu quả, bao gồm việc tịch thu sản
phẩm vi phạm, máy móc vật t chủ yếu
làm ra sản phẩm vi phạm và tiêu hủy
chúng; xác định các mức hình phạt áp
dụng cho những trờng hợp vi phạm
quyền tác giả ở quy mô thơng mại và

Việt Nam khẳng định trách nhiệm "nội
luật hóa" các quy định của điều ớc quốc
tế nh là khâu quan trọng của quá trình
thực hiện các điều ớc do Việt Nam đ kí
kết hoặc tham gia.
5. Sử dụng tác phẩm sau khi Hiệp
định có hiệu lực
Hiệp định khẳng định mọi việc làm
trớc khi Hiệp định có hiệu lực đều
không đợc coi là vi phạm quyền tác giả.
Điều đó có nghĩa là những hoạt động vi
phạm quyền tác giả trớc khi Hiệp định
có hiệu lực nh sao lậu và cho bán những
tác phẩm theo Hiệp định nhằm mục đích
lợi nhuận tại Việt Nam không đợc coi là
vi phạm quyền tác giả. Tuy nhiên, vấn đề
đặt ra là liệu những bản sao lậu đó có thể thông tin
54 - Tạp chí luật học

tiếp tục đợc bán ra trong thời hạn nhất
định hay phải bị cấm ngay lập tức vào
ngày Hiệp định có hiệu lực. Có thể thấy,
Hiệp định không điều chỉnh một cách
trực tiếp trờng hợp này nhng theo
thông lệ quốc tế thì không phải mọi loại
hình tác phẩm bị sao lậu đều bị cấm phát
hành sau khi Hiệp định có hiệu lực mà

Nga, Trung Quốc cũng nh các nớc
khác trên thế giới. Việt Nam cũng đang
tích cực tham gia đàm phán với Tổ chức
thơng mại thế giới (WTO) về việc chấp
nhận t cách thành viên của Việt Nam
trong tổ chức này. Đồng thời, Việt Nam
cũng đang hoàn tất các thủ tục xin gia
nhập Công ớc Berne về bảo hộ các tác
phẩm văn học nghệ thuật dự kiến trong
năm 1999. Vì vậy, tuân thủ nghiêm chỉnh
Hiệp định ngay từ khi kí là chủ trơng
của Chính phủ Việt Nam, thể hiện quyết
tâm thực thi các nghĩa vụ quốc tế của
mình trong tiến trình hội nhập với nền
kinh tế thế giới. Chính phủ Việt Nam đ
hoàn tất các thủ tục pháp lí cần thiết về
hiệu lực của Hiệp định theo đúng quy
định trong Hiệp định. Ngay sau đó, ngày
22/1/1998, Thủ tớng Chính phủ cũng đ
ra Chỉ thị số 04 xác định trách nhiệm của
các ngành, các cấp trong việc thực thi
Hiệp định. Để triển khai thực hiện Chỉ thị
của Thủ tớng, Bộ văn hóa - thông tin
phối hợp với Bộ ngoại giao, Bộ t pháp đ
soạn thảo và ban hành Thông t số 05
ngày 12/9/1998, hớng dẫn thi hành một
số điểm trong Hiệp định. Tiếp đó, Cục
bản quyền tác giả đ tập hợp và cho xuất
bản tập các văn bản pháp luật về quyền
tác giả nhằm công khai hóa cho công

đó cần tập trung làm rõ thêm một số thuật
ngữ, khái niệm; cụ thể hóa các quyền và
nghĩa vụ của tác giả, bảo đảm cho Bộ luật
dân sự có tính khả thi cao. Bên cạnh đó,
cần thiết phải thông qua văn bản quy
phạm pháp luật cấp Chính phủ về xử phạt
hành chính đối với những hành vi vi
phạm quyền tác giả nhằm tăng thêm hiệu
quả của cuộc đấu tranh của các cơ quan
chức năng Nhà nớc trên lĩnh vực này.
Đồng thời cần tiến hành bổ sung vào Bộ
luật hình sự một số điều khoản cụ thể xác
định các tội vi phạm quyền tác giả với
các khung hình phạt thích đáng nhằm
ngăn chặn những vi phạm nghiêm trọng
đến quyền tác giả của một số cá nhân.
Một vấn đề quan trọng không thể không
đề cập là việc cần thiết phải ban hành
những quy định hớng dẫn các cơ quan t
pháp thực thi nhiệm vụ và quyền hạn của
họ trong quá trình điều tra, truy cứu trách
nhiệm và xét xử các vụ vi phạm quyền tác
giả trên lĩnh vực dân sự và hình sự, bởi vì
các cơ quan này đóng vai trò hết sức quan
trọng trong việc bảo hộ quyền tác giả.
Tập trung giải quyết cho đợc những
yêu cầu sửa đổi pháp luật về quyền tác
giả là thách thức quan trọng đầu tiên của
Việt Nam trong quá trình đấu tranh khắc
phục những biểu hiện muốn tiếp tục duy

chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị
của kiểm sát viên, của luật s nêu trong
phần tranh luận đều phải đợc phân tích
rõ trong bản án./.
123(1).Xem: Tạp chí nhà nớc và pháp luật, số 2/1994,
tr. 25 - 29.
(2).Xem: M.S. Stragovich, Giáo trình luật tố tụng hình
sự Xô Viết. Nxb. Khoa học, M,1968, T1, tr.196.
(3).Xem: Ngô Hớng Đàm, Về quyền bào chữa của bị
cáo ở nớc Cộng hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam. Tạp
chí luật học số 3/1977, tr.26 - 27.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status