nghiên cứu - trao đổi
tạp chí luật học - 43
Sự phát triển của
chế định sở hữu t nhân qua
các bản Hiến pháp của Việt nam
Hoàng Ngọc Thỉnh *
ở hữu bao giờ cũng là vấn đề đặc biệt
quan trọng của mọi cuộc cách mạng
x hội, cải cách kinh tế. Sở hữu là
tổng thể các mối quan hệ x hội phát sinh
từ việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt
của con ngời đối với các sản phẩm của
tự nhiên và x hội. Với cách hiểu này,
nếu chỉ thoáng qua chúng ta có cảm
tởng rằng sở hữu là mối quan hệ giữa
ngời và vật, mối quan hệ phản ánh sự lệ
thuộc của vật vào một chủ thể cụ thể. Tuy
nhiên, trong thực tế, sở hữu là hệ thống
quan hệ kinh tế vô cùng phức tạp phát
sinh giữa các chủ thể xung quanh việc
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt một vật
nhất định. Sự phát triển của x hội, của
các định chế chính trị - x hội luôn luôn
gắn với sự vận động của sở hữu.
1. Sự phát triển của chế độ sở hữu ở
Việt Nam qua các giai đoạn sau 1945
ở Việt Nam, vấn đề sở hữu, đặc biệt
định và bình đẳng với nhau. Bên cạnh
một số cơ sở kinh tế do Nhà nớc thành
lập hoặc quốc hữu hóa tồn tại nhiều xí
nghiệp t nhân. Các chủ thể này tham gia
các quan hệ kinh tế đợc chi phối bởi các
yếu tố và quy luật của kinh tế thị trờng.
Có thể nói chế độ sở hữu trong giai đoạn
này là chế độ sở hữu đặc trng cho nền
kinh tế thị trờng;
- Đặc điểm thứ hai là sự đa dạng về
khách thể quan hệ sở hữu. Khách thể của
chế độ sở hữu trong thời kì này không bị
hạn chế. Từ t liệu sản xuất đến t liệu
tiêu dùng, động sản, bất động sản, bí
quyết kĩ thuật đều có thể trở thành
S
* Giảng viên chính
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
44 - tạp chí luật học
khách thể của quan hệ sở hữu.
- Các quan hệ sở hữu mang nặng dấu
ấn của chế độ sở hữu phong kiến - thuộc
địa về đất đai. Điều này đợc giải thích
bởi thực tế là nền kinh tế Việt Nam thời
kì này là nền kinh tế nông nghiệp. Đa số
các quan hệ sở hữu hình thành xung
mất dần. Khách thể của quan hệ sở hữu
cũng bị thu hẹp. T liệu sản xuất gần nh
bị loại khỏi sở hữu cá nhân. Sở hữu t
nhân đối với t liệu sản xuất hầu nh
không có chỗ đứng mặc dù trong hệ
thống pháp luật lúc bấy giờ không có
những quy định loại bỏ hoặc tuyên bố sở
hữu đối với khách thể này là bất hợp
pháp.
- Các quan hệ sở hữu đợc hình thành
và vận động trên nền tảng của cơ chế kế
hoạch hóa tập trung và sự chuyển dịch tài
sản hầu nh ít kéo theo sự chuyển dịch
hình thức sở hữu vì đa số sự chuyển dịch
tài sản này diễn ra giữa các tổ chức, các
doanh nghiệp nhà nớc, giữa các tổ chức
tập thể với nhau. Sự chuyển dịch sở hữu
về cơ bản cũng diễn ra theo chiều hớng:
Sở hữu t nhân => sở hữu nhà nớc hoặc
sở hữu tập thể hay sở hữu nhà nớc => sở
hữu tập thể.
- Mức độ công hữu hóa và nhà nớc
hóa các quan hệ sở hữu trở nên mạnh mẽ
hơn. Thời kì này đợc coi là thời kì
hoàng kim của cơ chế kế hoạch hóa tập
trung. Do sự gia tăng nhanh chóng của
hình thức sở hữu nhà nớc, do sự điều tiết
mạnh mẽ các quan hệ kinh tế bằng các
loại chỉ tiêu kế hoạch khác nhau nên các
quan hệ sở hữu cũng trở nên đơn giản và
cạnh chế độ sở hữu chậm hơn rất nhiều so
với những biến đổi của nền kinh tế. Chế
độ sở hữu trong thời kì này bao gồm một
số đặc điểm sau đây:
- Trong thời kì khá dài, từ 1986 đến
1992, nền kinh tế nớc ta có sự tồn tại
các hình thức sở hữu mà Hiến pháp
không ghi nhận, đó là hình thức sở hữu t
nhân đối với t liệu sản xuất hay còn gọi
là sở hữu t nhân. Nhiều doanh nghiệp t
nhân, nhiều hình thức liên doanh giữa t
nhân với t nhân xuất hiện và hoạt động
khá tích cực trong nền kinh tế mặc dù cơ
sở pháp lí cho sự tồn tại của chúng hầu
nh là cha có. Mi đến Hiến pháp 1992
thì một số nguyên tắc quan trọng của nền
kinh tế thị trờng nh tự do kinh doanh,
sở hữu t nhân về t liệu sản xuất mới
đợc thể chế hóa. Tiếp đó là những văn
bản pháp luật quan trọng có liên quan đến
chế độ sở hữu ra đời nh Luật công ti,
Luật doanh nghiệp t nhân, Luật phá sản,
Bộ luật dân sự.
- Chế độ sở hữu t nhân về t liệu sản
xuất phát triển mạnh. Tính từ ngày
1/1/1991 đến ngày 15/11/1999 theo số
liệu của Bộ kế hoạch và đầu t chỉ trong
vòng hơn 8 năm sau khi Luật doanh
nghiệp t nhân và Luật công ti ra đời,
trong phạm vi cả nớc đ có 421 công ti
tên gọi của doanh nghiệp, sáng chế, phát
minh hiện nay đều đợc coi là khách thể
của quan hệ sở hữu.
- Trong nền kinh tế của đất nớc giai
đoạn này có sự xuất hiện nhiều hình thức
sở hữu đan xen. Các xí nghiệp liên doanh,
các công ti cổ phần có cổ đông là doanh
nghiệp nhà nớc, doanh nghiệp tập thể và
các tổ chức x hội là những ví dụ về loại
hình sở hữu đan xen này. Cùng với quá
trình cổ phần hóa doanh nghiệp, hình
thức sở hữu đan xen này ngày càng trở
nên phổ biến hơn.
Nét đặc trng khá nổi bật của chế độ
sở hữu trong giai đoạn này là sự tồn tại
phổ biến các chủ sở hữu nớc ngoài tại
Việt Nam. Việc mở cửa thu hút đầu t
nớc ngoài đ làm tăng nhanh số lợng
các chủ sở hữu nớc ngoài ở Việt Nam.
Nhiều doanh nhân các nớc, đặc biệt là nghiên cứu - trao đổi
46 - tạp chí luật học
các doanh nhân từ Singapore, Hàn Quốc,
Đài Loan, Nhật Bản đ đầu t vào Việt
Nam. Họ là chủ sở hữu của các xí nghiệp
liên doanh, xí nghiệp 100% vốn đầu t
nớc ngoài, xí nghiệp BOT có lợi ích gắn
bảo. Trong giai đoạn này, do những hoàn
cảnh lịch sử, đặc biệt là cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lợc, chế độ sở
hữu t nhân cha có đợc những chế định
pháp luật cụ thể đảm bảo. Mặt khác, Hiến
pháp 1946 của Nhà nớc dân chủ nhân
dân không đợc thực hiện trên phần lớn
lnh thổ của đất nớc bị thực dân Pháp
chiếm đóng. Tại đó, những đạo luật đợc
ban hành trớc 1945 vẫn có hiệu lực. Do
các kì họp của Quốc hội khóa I không thể
tổ chức đợc nên hoạt động lập pháp nói
chung và các văn bản pháp luật về sở hữu
nói riêng không đợc ban hành trong thời
kì này. Chính vì vậy, quyền t hữu tài sản
đợc ghi nhận trong bản Hiến pháp đầu
tiên không có cơ hội đợc cụ thể hóa
trong các chế định pháp luật cụ thể. Phần
lớn các văn bản pháp luật ban hành trong
thời kì này ít chứa đựng các quy phạm về
sở hữu nói chung và về sở hữu t nhân
nói riêng. Văn bản pháp luật liên quan
đến sở hữu đáng chú ý là Nghị định số
519/TTg về bảo tồn cổ tích, Nghị định số
410 ngày 6/9/1957 về mời chính sách
khuyến khích sản xuất ở miền núi. Trong
những văn bản này có chứa đựng một số
quy định về bảo hộ quyền sở hữu đối với
cổ tích, cây cối ở nông thôn.
Giai đoạn 1960 - 1986 đánh dấu sự
doanh và kinh tế tập thể. Điều 24, 25, 26
Hiến pháp 1980 khẳng định tiếp tục cải
tạo các thành phần kinh tế nh nông dân
cá thể, thợ thủ công, thành phần kinh tế
t bản chủ nghĩa bằng những hình thức
thích hợp. Nh vậy, về cơ bản chế độ t
hữu mặc dù cha bị đặt ra ngoài vòng
pháp luật nhng vị trí của chúng trong
nền kinh tế quốc dân và trong hệ thống
pháp luật thời kì này có thể nói rất mờ
nhạt. Những thành phần kinh tế này đợc
coi là phi x hội chủ nghĩa. Cũng chính vì
lí do đó, trong hệ thống pháp luật của đất
nớc ta lúc đó hầu nh không tồn tại
những biện pháp pháp lí để bảo vệ chế độ
t hữu mà chỉ có những biện pháp nhằm
cải tạo và làm triệt tiêu các loại hình của
chế độ sở hữu t nhân về t liệu sản xuất.
Nét đặc biệt trong hệ thống pháp luật
thời kì này là sự hình thành khái niệm sở
hữu cá nhân. Khái niệm này hình thành
do sự ảnh hởng của các quy định của
Hiến pháp về việc hạn chế chế độ sở hữu
t nhân về t liệu sản xuất và sự bảo hộ
quyền sở hữu của công dân đối với thu
nhập hợp pháp, của cải để dành và nhà ở.
Những tài sản này đơng nhiên thuộc sở
hữu của cá nhân, tức là thuộc về t hữu.
Khái niệm sở hữu cá nhân hình thành để
lí giải phần nào mâu thuẫn giữa các phạm
nhân trong giai đoạn này. Khách thể của
các quan hệ sở hữu t nhân là những tài
sản đáp ứng những nhu cầu tiêu dùng và
sinh hoạt hàng ngày của công dân nh
nhà cửa, cây cối, tiền và ngoại tệ có
nguồn gốc hợp pháp. Phần lớn các văn
bản này đều có quy định ràng buộc chủ
sở hữu không đợc sử dụng tài sản này để
kinh doanh và buôn bán trái phép, làm
những việc có ảnh hởng đến an ninh, trật
tự x hội. Pháp luật thời kì này ít chú
trọng đến các biện pháp bảo hộ sở hữu t
nhân.
Giai đoạn 1986 đến nay đánh dấu sự
kế thừa và phát triển một số quy định của
Hiến pháp 1946 về sở hữu t nhân ở mức
độ cao hơn. Điều 15 Hiến pháp 1992
khẳng định sở hữu t nhân là loại hình sở
hữu đợc thừa nhận ở nớc Cộng hòa x
hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều 21 Hiến
pháp quy định kinh tế cá thể, kinh tế t
bản t nhân đợc tổ chức sản xuất kinh nghiên cứu - trao đổi
48 - tạp chí luật học
doanh, đợc thành lập doanh nghiệp với
quy mô không hạn chế. Điều 58 Hiến
pháp 1992 coi việc công dân sở hữu thu
khẳng định quyền tự do sở hữu, pháp luật
Việt Nam trong giai đoạn này cũng chú
trọng tới các biện pháp bảo vệ quyền sở
hữu. Bộ luật dân sự đ đa ra một số các
biện pháp bảo vệ quyền sở hữu mà hệ
thống pháp luật của nhiều nớc đ từng
biết đến và từng đợc sử dụng có hiệu
quả. Chơng VI, phần II Bộ luật dân sự
đ quy định quyền (của chủ sở hữu) đòi
lại vật thuộc sở hữu của mình nếu bị
chiếm giữ bất hợp pháp, quyền yêu cầu
các chủ thể khác chấm dứt hành vi cản trở
trái pháp luật đối với việc thực hiện
quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp
pháp, quyền yêu cầu bồi thờng thiệt hại
mà ngời khác gây ra đối với tài sản của
mình. Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành
cũng chú ý tới một số biện pháp điều
chỉnh quan hệ liên quan đến sở hữu đối
với bất động sản nh mốc giới xác định
phạm vi của bất động sản, sử dụng bất
động sản liền kề Việc bảo vệ quyền sở
hữu bằng biện pháp hình sự cũng có sự
thay đổi đáng kể. Trớc đây, luật hình sự
có cách tiếp cận coi những xâm phạm sở
hữu XHCN, tức là sở hữu Nhà nớc và
tập thể nghiêm trọng hơn so với những
xâm phạm đến sở hữu t nhân. Trong
BLHS sửa đổi, sự phân biệt này sẽ không
còn. Đây không chỉ là vấn đề đơn thuần