T×m hiÓu hÖ thèng ph¸p luËt Hoa Kú 34 t¹p chÝ luËt häc sè 12/2010
TS. Ph¹m Hång Quang *
uật hành chính Hợp chúng quốc Hoa
Kỳ
(1)
không có lịch sử phát triển lâu đời
cùng với những thành tựu học thuật nổi bật
như Đức, Pháp - các nước thuộc hệ thống châu
Âu lục địa, vốn được xem là chiếc nôi phát triển
của luật hành chính trên thế giới từ thế kỉ thứ
XVIII.
(2)
Tuy vậy, luật hành chính Hợp chúng
quốc Hoa Kỳ ở cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ
XX lại có những phát triển vượt bậc nhằm
đảm bảo tính minh bạch của thủ tục hành
chính cũng như tính công bằng trong việc
phán xét các hành vi công quyền xâm phạm
đến các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân.
Sự phát triển của luật hành chính Hoa
Kỳ cho thấy xu hướng ảnh hưởng lẫn nhau,
xích lại gần nhau giữa các hệ thống pháp luật
(Conseil d’Etat) ở Pháp cũng như việc tách
biệt toà án hành chính từ hệ thống toà án tư
pháp và ủng hộ tính hợp nhất của hành chính
trong cả lĩnh vực công và tư được xem là đặc
điểm nổi trội của hệ thống pháp luật Anh.
Cuốn sách đầu tiên xuất bản ở Hoa Kỳ
có nhắc đến thuật ngữ “luật hành chính” là
“Luật hành chính so sánh” (Comparative
Administrative Law) của GS. Goodnow,
năm 1893. Ông đã lí giải trong cuốn sách
này lí do vì sao thuật ngữ “luật hành chính”
L
* Giảng viên Khoa hành chính-nhà nước
Trường Đại học Luật Hà Nội
T×m hiÓu hÖ thèng ph¸p luËt Hoa Kú t¹p chÝ luËt häc sè 12/2010 35
đến muộn ở Hoa Kỳ. Ông cũng phân tích
làn sóng dịch thuật và tiếp nhận các thuật
ngữ của luật hành chính Pháp vào hệ thống
từ vựng pháp lí của Hoa Kỳ đồng thời nhấn
mạnh đó là trào lưu mà ông coi là “sự đánh
thức vĩ đại” của hệ thống luật châu Âu lục địa
đối với những vấn đề thuộc về hành chính ở
nước này.
(4)
GS. Goodnows đã đưa ra khái
niệm “luật hành chính” như sau: “Luật hành
hành chính còn liên quan đến vấn đề lập
pháp, vấn đề chính sách công và hiệu quả
của nền hành chính. GS. Freund cũng đã
thừa nhận rằng một trong những nội dung
quan trọng của luật hành chính đó là vấn đề
bảo vệ các quyền của cá nhân nếu như các
quyền này bị xâm hại do hành vi lạm quyền
hay vượt quá giới hạn tự định đoạt của
quyền lực hành chính. Ông cũng đánh giá
việc thiếu cơ chế kiểm soát độc lập đối với
quyền lực hành chính, các chế định khắc
phục hành chính (như giải quyết khiếu nại,
kiện tụng hành chính, bồi thường nhà nước)
là điểm hạn chế của luật hành chính Hoa Kỳ
trong khi đây là vấn đề có lịch sử phát triển
lâu đời ở các nước châu Âu lục địa như Pháp
và Đức - vốn được xem là “quê hương” của
luật hành chính.
(6)
Các luật sư Mỹ cho rằng thuật ngữ luật
hành chính phức tạp và cần được định nghĩa
một cách chính xác. Luật sư Edward trong
bài viết “Luật hành chính của Hoa Kỳ” đăng
trên tạp chí The Yale Law, xuất bản năm
1916 đã phân tích thuật ngữ “quyền lực hành
chính” (administrative power) trong sự so
sánh với các thuật ngữ “quyền lực lập pháp”
(legislative power), “quyền lực hành pháp”
(executive power) và “quyền lực tư pháp”
năng bổ sung cho ba chức năng lập pháp,
hành pháp và tư pháp. Quyền lực hành chính
và quyền hành pháp theo luật sư Edward
phân tích không phải là một. Đây cũng chính
là vấn đề lí luận Việt Nam cần tiếp tục
nghiên cứu để làm rõ nội dung quyền hành
pháp và quyền quản lí hành chính.
Như vậy, qua việc phân tích khái niệm
luật hành chính và sự phát triển khái niệm
này ở Hoa Kỳ, để liên hệ và rút ra những
kinh nghiệm cho sự hoàn thiện khái niệm
này ở Việt Nam, một số vấn đề có thể rút ra
như sau:
Một là cả hai khái niệm luật hành chính
do GS. Goodnow và GS. Freund đưa ra đều
phán ánh những nội hàm của luật hành chính
hiện đại. Luật hành chính từ chỗ không được
công nhận là ngành luật độc lập nằm trong
nhánh luật công ở các nước như Anh, Hoa
Kỳ (quan điểm của nhà luật học Dicey, thẩm
phán Jurist Austin…) đến khi được thừa
nhận như thuật ngữ pháp lí du nhập từ Pháp.
Nội hàm của luật hành chính đầu tiên chỉ là
xác định cơ cấu, tổ chức, chức năng của cơ
quan thực thi quyền hành pháp (như GS.
Wade đã đưa ra là ngành luật để điều chỉnh
phạm vi các quyền của cơ quan, công chức
hành chính khi thực thi các đạo luật của
Nghị viện),
(8)
đang trong giai đoạn tiếp tục hoàn thiện.
Liên hệ với Trung Quốc cho đến trước khi
chính sách đổi mới của Chính phủ Đặng
Tiểu Bình dẫn đến sự ra đời của Hiến pháp
năm 1982 và sau đó là hệ thống toà hành
chính nằm trong toà án nhân dân ở bốn cấp
năm 1989, GS. Yong Zhang đã thẳng thắn
thừa nhận ở Trung Quốc trong 50 năm qua,
chưa có luật hành chính theo đúng nghĩa của
nó.
(9)
Sự phát triển về mảng tài phán hành
chính từ cuối thế kỉ XX ở Trung Quốc và
Việt Nam cho thấy các quốc gia trên thế giới
có xu hướng mở cửa và học hỏi những kinh
nghiệm từ nước ngoài, bất kể sự khác biệt về
chính trị, điều kiện kinh tế, xã hội và văn hoá
pháp lí quốc gia. Sự học tập kinh nghiệm từ
nước ngoài như GS. David Nelken khẳng
định là phương pháp tốt nhằm thúc đẩy và
rút ngắn quá trình cải cách pháp luật trong
nước.
(10)
Tuy nhiên, luật hành chính vốn là
ngành luật phức tạp và có nhiều biến động,
việc học tập kinh nghiệm nước ngoài cần
phải có sự sàng lọc và phát triển theo trào
lưu chung trên thế giới.
Ba là như luật sư Edward đã phân tích về
sự không đồng nhất giữa quyền hành pháp
(gọi tắt là Giáo trình luật hành chính) đưa ra
khái niệm này như sau: “Luật hành chính là
ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật
Việt Nam, bao gồm các quy phạm pháp luật
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
trong lĩnh vực hành pháp, hay còn gọi là
chấp hành và điều hành”.
(12)
Như vậy, khái
niệm đưa ra dường như chú trọng đến tính
hình thức (ngành luật độc lập, bao gồm các
quy phạm pháp luật được xem là vỏ bọc bên
ngoài để điều chỉnh…) hơn là nội hàm, nội
dung của khái niệm luật hành chính. Rõ ràng,
so sánh với khái niệm luật hành chính của
Hoa Kỳ, khái niệm này ở Việt Nam đã vô
T×m hiÓu hÖ thèng ph¸p luËt Hoa Kú 38 t¹p chÝ luËt häc sè 12/2010
hình trung bỏ đi hai mảng nội dung rất quan
trọng của luật hành chính hiện đại, đó là
mảng về khắc phục hành chính (khi đưa các
quyết định hay hành vi công quyền ra phán
xét để bảo vệ triệt để các quyền tự do cá
nhân) hay mảng về hành chính công và vấn
đề tư nhân hoá đang là vấn đề mới của luật
hành chính hiện nay khi bản chất của các
quan hệ này đã không còn đơn thuần là quan
đã khái quát tương đối đầy đủ nội dung của
luật hành chính, đó là 1) Xác định cơ cấu, tổ
chức, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan hành
chính và người làm việc trong hệ thống cơ
quan đó; 2) Cách thức kiểm tra hoạt động
hành chính thông qua các biện pháp khắc
phục hành chính nhằm bảo vệ cá nhân thoát
khỏi sự tuỳ tiện, sự lạm quyền của nền hành
chính quan liêu; 3) Các dịch vụ hành chính
công và vấn đề tư nhân hoá. Thẩm phán
Austin khi liên hệ với đối tượng điều chỉnh
của luật hiến pháp thì cho rằng nếu như luật
hiến pháp xác định chủ thể là cá nhân hay giai
tầng nào nắm giữ quyền lực thống trị trong
nhà nước, các mối quan hệ giữa các cơ quan
trong bộ máy nhà nước thì luật hành chính
điều chỉnh cách thức làm sao để quyền lực
này được triển khai thực hiện trong thực tế
thông qua hệ thống cơ quan chuyên biệt với
thủ tục tiến hành một cách công khai, minh
bạch. Xem xét ở khía cạnh phạm vi quyền tự
định đoạt của hành chính, GS. Wade cho rằng
luật hành chính phải điều chỉnh các quyền tự
định đoạt này, theo đó, các cơ quan và công
chức hành chính có quyền tự do quyết định
các vấn đề trong phạm vi mình quản lí để
đảm bảo tính thông suốt, hiệu quả, kịp thời.
Tuy nhiên, quyền tự định đoạt này cũng phải
bị kiểm soát để tránh cho cỗ máy quyền lực
hành chính vận hành một cách vô tổ chức
điều chỉnh cho phù hợp với những biến đổi
của xã hội gần đây. Bên cạnh đó, không nên
tách biệt các vấn đề của luật hành chính như
vấn đề khắc phục hành chính thông qua cơ
chế giải quyết khiếu nại, kiện tụng hay bồi
thường nhà nước trở thành những ngành luật
độc lập hay là một nhánh trong các ngành
luật khác. Kinh nghiệm từ đối tượng điều
chỉnh của luật hành chính Hoa Kỳ như đã
phân tích ở trên, cũng giống như của nhiều
quốc gia khác như Pháp, Đức, Nhật Bản nên
được Việt Nam tham khảo học tập để giúp
cho luật hành chính Việt Nam phát triển hoà
nhập vào dòng chảy chung.
Phương pháp điều chỉnh của luật hành
chính Hoa Kỳ trên cơ sở đối tượng điều
chỉnh như đã xác định ở trên cho thấy là sự
kết hợp giữa phương pháp quyền lực, quyền
uy phục tùng và phương pháp dân chủ, bình
đẳng thỏa thuận. Trong thực tế thực hiện
chức năng quản lí hành chính, các cơ quan ở
Hoa Kỳ thường tiến hành các hoạt động như
ban hành văn bản nhằm cụ thể luật hay đặt ra
các quy định ở địa phương (appropriations),
hoạt động cấp giấy phép (licenses), hoạt
động quản lí việc xây dựng đường cao tốc,
đường xe lửa (regulation of railways), hoạt
động bổ nhiệm công chức (appointments of
public officers)… Các hoạt động này không
chỉ là kết quả của các mệnh lệnh đơn phương,
pháp luật chứa đựng các quy phạm pháp luật
hành chính, điều chỉnh các quan hệ xã hội
phát sinh trong lĩnh vực chấp hành và điều
hành. Hiện nay, luật hành chính cũng như
các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật
Việt Nam mặc dù không coi các bản án của
toà án là nguồn của luật, tuy nhiên trong
những năm gần đây, việc Tòa án nhân dân
tối cao công bố và xuất bản những bản án
giám đốc thẩm ở tất cả các lĩnh vực hình sự,
dân sự, kinh tế, lao động, hành chính có thể
cho thấy xu hướng coi trọng việc nghiên cứu
bản án như là nguồn không chính thống của
pháp luật. Một số nước không theo hệ thống
án lệ giống Hoa Kỳ như Pháp, Nhật Bản,
Hàn Quốc cũng chú trọng việc nghiên cứu
bản án và xác định nó cũng là nguồn của
pháp luật. Thực tiễn hoạt động nghiên cứu
pháp luật, hoạt động lập pháp và áp dụng
pháp luật ở Việt Nam cho thấy việc nghiên
cứu bản án, đặc biệt là các bản án giám đốc
thẩm của Toà án nhân dân tối cao có thể xem
là các bản án mẫu, là điều hết sức cần thiết
để giúp cho lí luận và thực tiễn luôn luôn
song hành, giúp cho các nhà làm luật kịp
thời bổ sung các tình huống mới nảy sinh
trong thực tiễn. Trong tương lai, các bản án
và quyết định của toà hành chính có thể là
nguồn của ngành luật này hay không cũng là
điều Việt Nam nên tiếp tục tham khảo, vì nó
hay Điều 3A của Luật thủ tục hành chính
liên bang năm 1946 (Federal Administrative
Prodecure Act). Trong mối liên hệ với
nguyên tắc phân chia quyền lực, theo Hiến
pháp của Hoa Kỳ, có thể thấy tầm quan
trọng của hệ thống cơ quan hành chính ở
nước này và được xem như là hệ thống nắm
T×m hiÓu hÖ thèng ph¸p luËt Hoa Kú t¹p chÝ luËt häc sè 12/2010 41
giữ quyền lực thứ tư – quyền quản lí hành
chính bên cạnh ba quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp. Ngoài ra, theo nguyên tắc
uỷ quyền hiến pháp, hệ thống cơ quan hành
chính ở Hoa Kỳ được hiểu không chỉ nắm
giữ quyền quản lí hành chính mà còn nắm
quyền “nửa lập pháp” (quasi-legislative) và
“nửa tư pháp” (quasi-judicial). Đây được
xem là nét đặc biệt của hệ thống cơ quan
hành chính của Hoa Kỳ vì không có nhiều
nước trên thế giới thừa nhận các chức năng
một nửa như vậy lại gắn với cơ quan có chức
năng quản lí hành chính.
(16)
Luật hành chính Hoa Kỳ còn xác định
một số nguyên tắc khác như nguyên tắc công
lí hành chính (administrative justice), bao
gồm công lí về thủ tục và công lí về nội
luật chuyển đổi như Việt Nam và cũng
không dễ dàng gì để có thể du nhập vào hệ
thống từ vựng pháp lí của các nước này.
Kinh nghiệm của Nhật Bản khi xây dựng
Luật thủ tục hành chính năm 1993 cho thấy
về mặt hình thức, nó chịu sự ảnh hưởng Luật
thủ tục hành chính liên bang Mỹ nhưng về
bản chất vẫn theo lí luận của hệ thống pháp
luật châu Âu lục địa. Với cách tiếp cận truyền
thống, nguyên tắc công lí hành chính của Hoa
Kỳ có thể hiểu bao gồm công bằng về thủ tục
- liên quan đến các vấn đề về tính hợp lí, tính
có căn cứ của thủ tục liên quan đến việc ra
các quyết định quản lí hành chính và công
bằng về nội dung - liên quan đến tính hợp
hiến, hợp pháp của các quyết định này.
Để điều chỉnh pháp luật về hoạt động
hành chính, luật hành chính của Hoa Kỳ đã
xác định rõ phạm vi các hoạt động cần phải
quy định và có sự kiểm soát chặt chẽ như
hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp
luật hành chính, hoạt động thực hiện pháp
luật thông qua việc áp dụng các thủ tục hành
chính, hoạt động thanh tra, kiểm toán, giải
quyết khiếu nại hành chính, hoạt động kiểm
T×m hiÓu hÖ thèng ph¸p luËt Hoa Kú 42 t¹p chÝ luËt häc sè 12/2010
Hai là không những chỉ luật hành chính
Hoa Kỳ mà luật hành chính của nhiều nước
như Nhật Bản, Pháp, Đức cũng xác định rõ
khung hiến pháp của ngành luật này, cụ thể
là các nguyên tắc cơ bản nhất của hiến pháp
làm cơ sở cho hệ thống pháp luật hành chính
phát triển. Tất nhiên, luật hành chính Việt
Nam cũng đã đưa ra các nguyên tắc cơ bản,
được hiểu là những tư tưởng chủ đạo xuyên
suốt trong hoạt động quản lí hành chính. Tuy
nhiên, cần phải nghiên cứu và phân tích các
nguyên tắc theo hướng là nguyên tắc của
ngành luật. Chẳng hạn giống như việc giới
thiệu nguyên tắc nhà nước pháp quyền, phân
chia quyền lực trong nội dung luật hành
chính ở Hoa Kỳ, luật hành chính Việt Nam
có thể giới thiệu nguyên tắc nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc tập trung
quyền lực, nguyên tắc Đảng lãnh đạo theo
hướng đó thực sự là khung hiến pháp quy
định cho sự tồn tại và phát triển của luật
hành chính Việt Nam.
Ba là liên quan đến các chế định của luật
hành chính, luật hành chính Hoa Kỳ cũng
đều xác định các nguyên tắc cơ bản, đặc thù
để điều chỉnh các hoạt động có liên quan.
Tuy nhiên, luật hành chính Việt Nam mới
chỉ xác định hai nguyên tắc pháp lí đặc thù
trong hoạt động quản lí hành chính nhà
nước, đó là nguyên tắc quản lí theo ngành
là trao thẩm quyền cho cơ quan đặc biệt với
chất lượng cao và quen thuộc với công việc
mà họ vẫn làm.
(17)
Do đó, để phát triển lí
luận luật hành chính Việt Nam, ngoài việc
đảm bảo sự phát triển thống nhất giữa các
chế định luật hành chính như đã phân tích ở
trên, Việt Nam có thể tham khảo những tư
vấn của các chuyên gia Hoa Kỳ cũng như
nhiều chuyên gia trong nước khác trong việc
tiếp tục nghiên cứu xây dựng mô hình cơ
quan tài phán hành chính, trao cho cơ quan
này quyền phán quyết tính hợp pháp, hợp lí
của tất cả các quyết định, hành vi hành chính
trong mọi lĩnh vực đồng thời vẫn duy trì
quyền phán quyết cuối cùng thuộc về toà án
tư pháp, trong đó Toà án nhân dân tối cao có
thẩm quyền cao nhất phán quyết mọi quyết
định, hành vi của cơ quan công quyền, bao
gồm cả các quyết định lập pháp vi hiến./.
(1). Tên chính thức The United State of America xuất
hiện lần đầu tiên năm 1776. Theo phiên âm Hán Việt
được dịch ra là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, trong đó
“chúng” có nghĩa là nhiều, đôi khi được dùng là
“chủng” theo nghĩa là chủng tộc. Năm 2007, Bộ ngoại
giao Việt Nam đã có công văn chính thức công nhận
và sử dụng thống nhất là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.
ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân”, Tạp chí dân
chủ và pháp luật, số 3/2010, tr. 35.
(16). An Introduction to American Law, (America
Gyoseihou Giron), Hokkaigakuen Law Journal, 2004,
tr. 654.
(17).Xem: Báo cáo và khuyến nghị về việc thành lập
cơ quan tài phán hành chính ở Việt Nam, Dự án
Vietnam – STAR, Thanh tra chính phủ, 2006, tr. 128.