Đề tài " Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân và các biện pháp đấu tranh " - Pdf 11

Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
Chuyên đề thực tập
Tội trộm cắp tài sản trên địa
bàn huyện Thăng Bình, thực
trạng, nguyên nhân và các
biện pháp đấu tranh
i
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian nghiên cứu, học tập tại khoa Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế -
Đại học Đà Nẵng, được sự giúp đỡ quý báu của các thầy giáo, cô giáo em đã hoàn
thiện chuyên đề thực tập với đề tài: “Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng
Bình, thực trạng, nguyên nhân và các biện pháp đấu tranh”.
Hoàn thành chuyên đề này, cho phép em được bày tỏ lời cảm ơn tới thầy giáo
Trần Hải Lộc (khoa Kinh tế, Trường Đại học Kinh Tế, Đà Nẵng) đã tận tình chỉ bảo,
hướng dẫn, và giúp đỡ em trong suốt quá trình làm chuyên đề, đồng thời cảm ơn các
thầy, cô giáo trong khoa đã giúp em hoàn thành chuyên đề này.
Tiếp đến, em xin gửi lời cảm ơn đến các cô chú, các anh chị trong Công an
huyện Thăng Bình đã tạo điều kiện cho em thực tập và tích cực giúp đỡ, hỗ trợ tài liệu,
cung cấp kiến thức chuyên môn để em hoàn thành tốt bài viết của mình.
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến ba mẹ, người thân và bạn bè đã luôn ở bên
cạnh giúp đỡ, động viên trong suốt khoảng thời gian học tập tại nhà trường, cũng như
trong thời gian làm chuyên đề thực tập.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người và xin gửi đến thầy cô
khoa Kinh tế, trường Đại học Kinh tế - Đà Nẵng; các cô chú, anh chị ở Công an huyện
Thăng Bình những lời chúc tốt đẹp trong cuộc sống và trong công tác.
ii
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh

Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
1. Lý do chọn đề tài: 1
2. Mục tiêu nghiên cứu: 2
3. Phương pháp nghiên cứu: 2
4. Phạm vi nghiên cứu: 3
5. Bố cục chuyên đề: 3
CHƯƠNG 1 4
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 4
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về tội
trộm cắp tài sản 4
1.1.1. Giai đoạn trước năm 1999: 4
1.1.2 Giai đoạn sau năm 1999: 7
1.2 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản 9
1.2.1 Khái niệm: 9
1.2.2. Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản: 10
1.2.2.1. Khách thể: 10
1.2.2.2. Mặt khách quan: 11
1.2.2.3. Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản: 16
1.2.2.4. Chủ thể của tội trộm cắp tài sản 18
1.3 Trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trộm cắp tài sản: 19
CHƯƠNG 2 24
THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, ĐIỀU KIỆN CỦA TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 24
2.1. Sơ lược về thành phố Đà Nẵng: 24
2.2. Thực trạng trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2006 - 2010:
25
2.3. Nguyên nhân, điều kiện của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng:. .32

vi
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1.Tình hình tội phạm nói chung trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2008-2012:26
Bảng 2.2 Tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2008-2012: 27
Bảng 2.3 So sánh giữa tình hình trộm cắp tài sản với tình hình tội phạm nói chung trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2008-2012: 28
Bảng 2.4 Về độ tuổi của các bị can phạm tội trộm cắp tài sản: 29
Bảng 2.5 Về giới tính của các bị can phạm tội trộm cắp tài sản: 31
vii
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 tình hình tội phạm nói chung trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2008-2012
27
Biểu đồ 2.2 so sánh tình hình tội phạm nói chung với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng từ năm 2008-2012 28
Biểu đồ 2.3 về tỷ lệ độ tuổi của các bị can phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng từ năm 2008-2012 29
Biểu đồ 2.4 tỷ lệ giới tính của các bị can phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng từ năm 2006 – 2010 31
viii
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG, THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ
CÁC BIỆN PHÁP ĐẤU TRANH.
Lời mở đầu
1. Lý do chọn đề tài:

loại bỏ tội phạm khỏi đời sống xã hội. Những năm gần đây tội trộm cắp tài sản diễn
biến phức tạp gây hậu quả ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn
xã hội. Riêng thành phốĐà Nẵng thì theo thống kê của VKS nhân dân thành phố Đà
Nẵng, trong năm 2006, trên địa bàn TP xảy ra 518 vụ phạm pháp hình sự, trong đó
một số loại án vẫn chiếm tỷ lệ cao như cố ý gây thương tích, cướp giật (54 vụ), trộm
cắp tài sản (143 vụ)
Mặc dù các cơ quan bảo vệ pháp luật tại thành phố đã tích cực đấu tranh ngăn
chặn các hành vi xâm phạm sở hữu, nhưng việc điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm
này còn chưa kịp thời, chưa có quy mô, chưa đáp ứng được yêu cầu phòng chống tội
phạm. Để khắc phục tình trạng trên thì vấn đề cốt lõi đầu tiên là phải nắm vững các
quy định pháp luật về tội phạm, nhận thức đúng bản chất của hành vi phạm tội, xác
định được các nguyên nhân, điều kiện của loại tội phạm này để từ đó có những biện
pháp phòng, chống có hiệu quả, có đường lối xử lý đúng đắn, đảm bảo sự công bằng,
nghiêm minh của pháp luật. Nhận thức được điều đó, em xin chọn đề tài: “ Tội trộm
cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, thực trạng, nguyên nhân và các biện
pháp đấu tranh.”
2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Tìm hiểu về những quy định của Luật hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài
sản.
- Đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân, điều kiện của tội trộm cắp tài
sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng qua 5 năm ( 2006 – 2010 ).
- Đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao đấu tranh phòng, chống tội trộm cắp
tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Để đánh giá thực trạng của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng giai đoạn 2006 – 2010, em sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp thu thập – thống kê – tổng hợp số liệu : Trong chuyên đề
này đòi hỏi cấn phải có những số liệu về tội trộm cắp tài sản từ năm 2006 – 2010,
2
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của các quy phạm pháp luật hình
sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản.
1.1.1. Giai đoạn trước năm 1999:
Hành vi phạm tội trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật
nghiêm cấm, bị xã hội lên án, nó ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn xã hội. Do
đó,ở mỗi giai đoạn Nhà nước đều ban hành các quy định về tội trộm cắp tài sản nhằm
đấu tranh loại bỏ tội phạm khỏi đời sống xã hội.
Sau Cách mạng tháng tám, nền kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước còn khó
khăn, hệ thống văn bản pháp luật chưa được hoàn thành, do đó, để bảo vệ sự bình yên
của xã hội, hạn chế sự xáo trộn trong đời sống và quan hệ thường nhật của nhân dân,
Nhà Nước đã ban hành một số Sắc lệnh trong đó có Sắc lệnh số 12/SL ngày 12/3/1949
phạt tội ăn cắp lấy trộm các vật dụng của nhà binh trong thời bình và trong thời kỳ
chiến tranh. Điều 2 Sắc lệnh 267/SL ngày 15/06/1956 quy định: “Kẻ nào vì mục đích
phá hoại mà trộm cắp, lãng phí, làm hỏng, huỷ hoại, cướp bóc tài sản của Nhà nước,
của hợp tác xã, của nhân dân sẽ bị xử phạt từ năm năm đến hai mươi năm tù”
Ngoài các Sắc lệnh trên, để bảo hộ tài sản riêng của công dân, giữ gìn trật tự, trị
an, bảo đảm điều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội và
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; để đề cao đạo đức xã hội chủ nghĩa, chống những
hành động xâm phạm tài sản riêng của công dân, Ủy Ban thường vụ quốc hội nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành hai Pháp lệnh nhằm trừng trị những tội xâm
phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng
của công dân.
Theo đó, Pháp lệnh quy định:
“Tài sản xã hội chủ nghĩa bao gồm tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước
(tức sở hữu toàn dân), và tài sản thuộc sở hữu của hợp tác xã và các tổ chức hợp pháp
khác (tức sở hữu của tập thể)”;
4
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
“Tài sản của công dân gồm: của cải do sức lao động của công dân làm ra,

3. Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù
từ bảy năm đến mười lăm năm”.
Hai bản Pháp lệnh trên thể hiện hai nguyên tắc cơ bản của Nhà nước Việt Nam
là:
 Kiên quyết bảo vệ tài sản XHCN; coi tài sản XHCN là thiêng liêng và bất
khả xâm phạm.
 Bảo hộ tài sản riêng của công dân, chống mọi hành vi xâm phạm, bất kì ai
có hành vi xâm phạm đến tài sản của Nhà nước và tài sản riêng của công dân đều phải
được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh.
 Đồng thời Pháp lệnh cũng thể hiện nguyên tắc xử lý người phạm tội là:
nghiêm trị bọn lưu manh chuyên nghiệp, bọn tái phạm, bọn phạm tội có tổ chức, bọn
lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội, xử lý nhẹ hoặc miễn hình phạt cho những
người tự thú, thật thà hối cải, tố giác đồng bọn hoặc tự nguyện bồi thường thiệt hại đã
gây ra.
Hai bản pháp lệnh đã xây dựng hai cấu thành tội phạm hoàn chỉnh về tội trộm
cắp tài sản đó là tội trộm cắp tài sản XHCN và tội trộm cắp tài sản riêng của công dân,
đã quy định cụ thể và tập trung các tình tiết tăng nặng định khung trong điều luật, có
các khung hình phạt tương ứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, góp
phần phân hoá TNHS người phạm tội.
Trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật
hình sự có vị trí rất quan trọng. Nó là một công cụ sắc bén của Nhà nước chuyên chính
vô sản để bảo vệ những thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, đấu tranh chống và phòng ngừa mọi hành vi phạm tội, góp phần hoàn thành
hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Do đó,ngày 27/6/1985 BLHS năm 1985 được
thông qua với sự trình bày có hệ thống, toàn diện phần chung cũng như phần các tội
phạm có tính chất bao quát về tất cả các hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm bảo vệ an
ninh quốc gia, trật tự xã hội,…
Điều 132 BLHS 1985 quy định tội trộm cắp tài sản XHCN như sau:

phạm tội trộm cắp tài sản XHCN và tội trộm cắp tài sản của công dân, theo đó người
phạm tội trộm cắp tài sản XHCN bị xử lý nghiêm khắc hơn người phạm tội trộm cắp
tài sản của công dân. Bên cạnh đó, việc phân định hai khách thể độc lập là tài sản
thuộc sở hữu XHCN và tài sản thuộc sở hữu của công dân dẫn đến việc xác định chính
xác tội danh là rất khó khăn, thiếu chính xác. Hoặc khi người phạm tội chỉ có một
hành vi chiếm đoạt duy nhất nhưng tài sản bị xâm phạm lại bao gồm nhiều hình thức
7
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
sở hữu đan xen, khi đó nên xử một tội hay nhiều tội đều không phù hợp với yêu cầu
đấu tranh phòng chống tội phạm cũng như quy định của pháp luật.
Với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định
hướng XHCN, các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật đòi hỏi phải xem xét
rà soát lại một cách toàn diện các tội phạm về kinh tế, về sở hữu để có những sửa đổi
bổ sung thích hợp cả về mặt dấu hiệu pháp lý cũng như chính sách xử lý nhằm đáp
ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn mới. Ngày 21-
12-1999 Quốc hội khoá X đã thông qua BLHS của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 1999 (Bộ luật có hiệu lực từ ngày 1-7-2000). Bộ luật có quy định rất cụ
thể về nhóm tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng. Theo đó
điều 138 BLHS 1999 quy định tội trộm cắp tài sản như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn
đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu
quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt, hoặc đã bị
kết án về tội chiếm đoạt chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo
không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm
đến bảy năm: a. Có tổ chức; b. Có tính chất chuyên nghiệp; c. Tái phạm nguy hiểm; d.
Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; đ. Hành hung để tẩu thoát; e. Chiếm đoạt tài
sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; g. Gây hậu quả
nghiêm trọng.

lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác.”
Qua khái niệm trên ta có thể thấy đặc điểm riêng biệt có tính đặc thù của tội
“Trộm cắp tài sản” là hành vi “lén lút”, không có việc lén lút thì không phải là trộm
cắp. Nếu một hành vi chiếm đoạt tài sản trước sự chứng kiến của chủ sở hữu tài sản,
người quản lý tài sản thì không thể coi đó là hành vi trộm cắp, mà hành vi trộm cắp
phải được thực hiện một cách lén lút, vụng trộm đối với chủ tài sản. Nói cách khác,
“lén lút” là hành vi của một người cố ý thực hiện một việc làm bất minh, vụng trộm,
giấu diếm không để lộ cho người khác biết, nhằm mục đích chiếm đoạt trái phép tài
sản của họ.
Về phương diện lý luận, tội “Trộm cắp tài sản” là một loại tội phạm có dấu
hiệu hành vi khách quan khá đơn giản nó là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của
người khác. Tuy nhiên trong thực tiễn, hành vi trộm cắp tài sản, mà cụ thể là hành vi
“lén lút” được diễn ra rất đa dạng, biến hoá, gây nhiều tranh cãi trong vấn đề định tội
danh giữa các nhà áp dụng luật. Để góp phần nghiên cứu loại tội phạm này, chúng ta
9
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
sẽ nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý của nó. Cũng giống như các loại tội phạm khác, tội
trộm cắp tài sản cũng bao gồm 4 yếu tố cơ bản: khách thể, mặt khách quan, chủ thể,
mặt chủ quan.
1.2.2. Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản:
1.2.2.1. Khách thể:
Khách thể của tội phạm là một trong 4 yếu tố cấu thành tội phạm; nó là những
quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ nhưng bị tội phạm xâm hại bằng cách gây
thiệt hại hoặc đe dọa trực tiếp gây thiệt hại ở một chừng mực nhất định. Nếu quan hệ
xã hội không bị xâm hại thì không có hành vi nguy hiểm cho xã hội và tất yếu không
có tội phạm. Do đó, khi đề cập đến tội phạm thì trước tiên cần phải xác định quan hệ
xã hội mà Luật hình sự bảo vệ bị xâm hại.
Theo Điều 51 BLTTHS quy định: “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể
chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra”. Như vậy trong tội “Trộm cắp tài sản”,

Nếu họ trộm cắp những tài sản bất hợp pháp mà không bị đưa ra xử lý bằng pháp luật
hình sự, còn người trộm cắp những tài sản hợp pháp lại bị xử lý bằng pháp luật hình
sự, thì đó là một điều rất phi lý, bất công. Như vậy, hậu quả sẽ dẫn đến việc tạo kẽ hở
cho tội phạm lợi dụng để phạm tội và gia tăng, gây mất trật tự trị an cho xã hội, không
đáp ứng được mục đích phòng ngừa chung.
Với những lý do trên, khách thể của tội “Trộm cắp tài sản” trong trường hợp
này sẽ là quan hệ về trật tự trị an, an toàn xã hội, trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa,
chứ không còn là quan hệ sở hữu nữa. Vì vậy, khi xác định được đối tượng mà tội
phạm hướng tới thực hiện hành vi lén lút thuộc diện người nào, lúc đó ta có thể làm rõ
được khách thể của tội “Trộm cắp tài sản” có phải là quan hệ sở hữu hay không hay là
quan hệ về trật tự trị an, an toàn xã hội, trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Từ đó, đánh
giá đúng tính chất của hành vi phạm tội và đưa ra biện pháp xử lý vụ án một cách
chính xác, toàn diện.
1.2.2.2. Mặt khách quan:
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm ra bên ngoài thế
giới khách quan bao gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã
hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, công cụ phương tiện, phương
pháp, thủ đoạn, hoàn cảnh, địa điểm phạm tội.
a. Hành vi nguy hiểm cho xã hội:
Là cách xử sự trái pháp luật hình sự và nguy hiểm cho xã hội. Trong các tội
xâm phạm sở hữu quy định tại chương XIV BLHS năm 1999, mỗi một tội phạm với
11
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
các cấu thành tội phạm khác nhau có các dấu hiệu tội phạm được phản ánh trong mặt
khách quan khác nhau. Hành vi trộm cắp tài sản là hành vi của chủ thể nhất định với ý
thức chiếm đoạt tài sản của người khác. Dấu hiệu chiếm đoạt trong tội trộm cắp tài sản
là một dấu hiệu bắt buộc dù tài sản là đối tượng của hành vi trộm cắp tài sản đã bị
chiếm đoạt hoàn toàn (thuộc chiếm hữu của người phạm tội) hay chưa.
Theo khái niệm về tội trộm cắp tài sản như đã đề cập ở trên, ta đã thấy rõ, hành

đoạn khác nhau. Ví dụ: Người phạm tội đóng giả là nhân viên của Công ty điện lực,
giả vờ đi sửa điện và công khai tháo công tơ điện bán lấy tiền tiêu; hoặc đóng giả nhân
viên Bưu điện đi sửa đường dây điện thoại, nhưng thực chất là gọi điện trộm ra nước
ngoài…
Như vậy, hành vi “lén lút” không nhất thiết là việc làm mà không ai biết, nó có
thể được thực hiện một cách giấu diếm, vụng trộm, nhưng cũng có thể được thực hiện
một cách công khai, giữa nơi đông người. Tuy nhiên, việc giấu diếm hay công khai thì
chúng đều có một đặc điểm chung, đó là sự “lén lút” với chủ tài sản. Bởi nếu không
“lén lút” với chủ tài sản thì hành vi của họ sẽ không còn là phạm tội “Trộm cắp tài
sản” nữa.
Chiếm đoạt tài sản là hành vi nắm giữ, quản lý trái phép tài sản của người khác
và đã tạo cho mình khả năng định đoạt, sử dụng trái pháp luật tài sản đó. Nói cách
khác, chiếm đoạt tài sản là hành vi chuyển dịch, đoạt lấy, chiếm lấy tài sản của người
khác trái pháp luật, để nắm giữ, quản lý, sử dụng, định đoạt.
Khái niệm chiếm đoạt tài sản có các dấu hiệu pháp lý đặc trưng là: không có
căn cứ pháp luật để chuyển dịch, nắm giữ, quản lý tài sản của người khác, nhưng vẫn
thực hiện những hành vi này; nắm giữ, quản lý tài sản của người khác trái pháp luật và
không trả lại cho họ; chuyển tài sản lấy được làm tài sản bất hợp pháp của mình hoặc
chuyển dịch tài sản lấy được này cho người khác, bằng các giao dịch dân sự khác nhau
và cuối cùng là việc chiếm đoạt tài sản đã gây ra thiệt hại cho chủ sở hữu, người quản
lý hợp pháp.
Nghiên cứu tính chất của hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa quan
trọng, giúp phân biệt tội trộm cắp tài sản với một số tội phạm khác nhất là tội công
nhiên chiếm đoạt tài sản. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng ta xem xét ví dụ sau
đây: Trường hợp A bị tai nạn giao thông và chết.
+ Nếu tại hiện trường có 1 người (có thể là người dân, người quen, công an, dân
phòng… ) đứng ra tự thu giữ và bảo quản tài sản cho A, thì lúc này người đó trở thành
người có trách nhiệm quản lý tài sản. Và nếu tội phạm “lén lút” với họ để chiếm đoạt
13
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân

hữu tài sản hay chưa. Hậu quả này phải có mối quan hệ nhân quả với hành vi phạm tội.
Hành vi chiếm đoạt coi là bắt đầu khi người phạm tội bắt đầu thực hiện việc làm mất
14
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
khả năng chiếm hữu của chủ tài sản, để tạo khả năng đó cho mình. Khi người phạm tội
đã làm chủ được tài sản chiếm đoạt thì lúc đó hành vi chiếm đoạt được coi là đã hoàn
thành, người phạm tội coi là đã chiếm đoạt được tài sản. Không phải trong tất cả mọi
trường hợp việc chiếm đoạt thể hiện như nhau mà để kết luận đã chiếm đoạt hay chưa
phải dựa vào đặc điểm, vị trí, cách thức giữ tài sản bị chiếm đoạt thì mới thể hiện được
ý thức của hành vi thực tế mà người phạm tội đã thực hiện.
- Nếu vật nhỏ gọn, dễ lấy như dây chuyền, hoa tai thì coi là đã chiếm đoạt được
tài sản khi người phạm tội giật được tài sản rời khỏi sự kiểm soát của chủ sở hữu.
- Nếu vật chiếm đoạt không thuộc loại nói trên thì coi chiếm đoạt được tài sản khi
người phạm tội đã lấy được tài sản đó ra khỏi vị trí ban đầu.
Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội trộm cắp tài sản thể hiện qua sự biến đổi
tình trạng bình thường của tài sản được gọi là thiệt hại về tài sản, thể hiện dưới dạng
tài sản bị chiếm đoạt. Trong cấu thành tội trộm cắp tài sản, hậu quả của tội phạm là tài
sản bị chiếm đoạt có giá trị ở mức nhất định (từ năm trăm nghìn đồng trở lên- trong
trường hợp thông thường), dựa vào mức giá trị tài sản bị chiếm đoạt điều luật đã phân
chia thành các khung hình phạt tương ứng với các mức độ hậu quả đó.
c. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả:
Nội dung biểu hiện thứ ba thuộc mặt khách quan của tội phạm là mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội.
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm là mối quan hệ giữa
các hiện tượng trong đó một hiện tượng được gọi là nguyên nhân (là hành vi khách quan)
làm phát sinh một hiện tượng khác là kết quả (là hậu quả của tội phạm).
Dựa vào cơ sở lý luận của cặp phạm trù nhân quả trong phép biện chứng có thể
xác định được các điều kiện của mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội
phạm như sau:

hiện hành vi đó trong khi họ có đủ điều kiện lựa chọn xử sự khác phù hợp với đòi hỏi
của xã hội. Do vậy, lỗi là biểu hiện về mặt tâm lý của người phạm tội đối với hành vi
nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu
hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý.
Biểu hiện về tâm lý của người phạm tội là nội dung dấu hiệu lỗi. Cấu trúc trong
quan hệ tâm lý của con người nói chung và của người phạm tội nói riêng được hợp
thành bởi 2 bộ phận là lý trí và ý chí đối với các biểu hiện của mặt khách quan là hành
vi khách quan và hậu quả của tội phạm. Cụ thể:
16
Tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Thăng Bình, thực trạng, nguyên nhân
và các biện pháp đấu tranh
- Lý trí: Là khả năng nhận thức tính chất nguy hiểm của hành vi và khả năng
nhận thức hậu quả của hành vi đó.
- Ý chí: Là khả năng điều khiển hành vi và khả năng điều khiển hậu quả.
Đối với tội trộm cắp tài sản, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Về mặt
lý trí, người phạm tội nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã
hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm có thể xảy ra; về mặt ý chí: người phạm tội mong
muốn hậu quả xảy ra, mong muốn chiếm đoạt được tài sản, hậu quả này người phạm
tội đã thấy trước và nó hoàn toàn phù hợp với mục đích của người phạm tội.
Việc xác định nhận thức chủ quan của người phạm tội để xác định lỗi của họ là
rất quan trọng: nếu người phạm tội biết rõ tài sản bị chiếm đoạt đang có người quản lý
thì sẽ phạm tội trộm cắp tài sản, còn nếu họ thực sự có sai lầm cho rằng tài sản đó là
của mình (ví dụ như cầm nhầm tài sản ) hoặc tài sản đó không có chủ thì sẽ không
phạm tội trộm cắp tài sản. Như vậy, khi người phạm tội thực hiện hành vi trộm cắp tài
sản, họ biết rõ tài sản đó là của người khác mà vẫn chiếm đoạt.
b. Động cơ phạm tội:
Biểu hiện thứ hai thuộc mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản là động cơ phạm
tội. Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi
phạm tội.
Động cơ phạm tội chỉ có thể đặt ra với các tội thực hiện với lỗi cố ý. Còn các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status