Các giải pháp nâng cao trình độ chuyên môn lực lượng lao động ở Tổng Công ty Dệt-May Việt Nam Vinatex - Pdf 11

Chuyên đề tốt nghiệp
Mở đầu

Nền kinh tế thế giới ngày nay đang đi từ việc lấy kỹ thuật làm
trung tâm để lấy con ngời làm trung tâm.Nguồn lực con ngời ngày càng
trở lên một trong những nguồn lực quan trọng của mỗi quốc gia ,mỗi
doanh nghiệp.Một đất nớc có kinh tế mạnh là nhờ có nhiều doanh nghiệp
mạnh .Doanh nghiệp có mạnh hay không là nhờ vào đội ngũ công nhân
viên trong doanh nghiệp.Hiện nay chi phí cho việc đào tạo trong nội bộ
công ty đợc xem nh là chi phí đầu t lâu dài cần thiết cho sự phồn thịnh
của công ty trong tơng lai.Có một nguồn nhân lực với chất lợng cao là
một yếu tố cạnh tranh mạnh của các doanh nghiệp trong cơ chế thị tr-
ờng .
Trong sự nghiệp CNH-HĐH Đảng ta xác định phải lấy việc phát
huy nguồn lực con ngời làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và
bền vững.Đối với các doanh nghiệp trong cơ chế thị trờng ,và nhất là để
hội nhập vào môi trờng quốc tế,chuẩn bị nội lực để cạnh tranh khi Việt
Nam tham gia vào AFTA thì vấn đề đào tạo để có một nguồn nhân lực có
chất lợng cao là yếu tố sống còn.
Theo phơng hớng chiến lợc của Vinatex đặt ra, từ nay đến năm
2010 Tổng Công ty lấy nhiệm vụ xuất khẩu làm hớng chính , nhiệm
vụ trọng tâm của các đơn vị Dệt-May trong thời gian tới phải thâm nhập
vào thị trờng EU,Mỹ,chủ động tìm thị trờng tiêu thụ,không thụ động
trông chờ nh trớc đây.Để đạt đợc mục tiêu chiến lợc đã đề ra,vấn đề
hàng đầu là các doanh nghiệp Dệt-May của Tổng Công ty cần có nguồn
nhân lực có chất lợng cao đáp ứng đợc yêu cầu của giai đoạn mới.
Trong khuôn khổ đề tài này có tính cấp thiết của vấn đề nhân lực
trong Tổng Công ty em xin chọn đề tài Các giải pháp nâng cao trình
độ chuyên môn lực lợng lao động ở Tổng Công ty Dệt-May Việt Nam
Nguyễn Kiều Hng 3
Chuyên đề tốt nghiệp

nguồn nhân lực của các doanh nghiệp Dệt-May thuộc Vinatex để làm cơ
sở đề xuất những giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực
trong các doanh nghiệp của Vinatex.
-Xây dựng một số quan điểm làm cơ sở cho việc hoàn thiện công
tác đào tạo nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp Dệt-May thuộc
Vinatex giai doạn từ nay đến 2010
-Chuyên đề tập trung hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực
trong các doanh nghiệp Dệt-May thuộc Vinatex nhằm đáp ứng nhu cầu
về nguồn nhân lực trong giai đoạn tăng tốc phát triển của ngành Dệt-
May Việt Nam.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng,nhng do trình độ còn nhiều hạn chế
và thời gian có hạn ,nên chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót và
hạn chế nhất định.Em rất mong đợc sự góp ý của các thầy cô cùng các
bác,các chú,các cô,anh,chị ở trung tâm đào tạo cán bộ thuộc Tổng Công
ty Dệt-May Việt Nam.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới thầy TS.Lê Huy Đức (trởng
khoa KHPT)-giáo viên hớng dẫn và cô TS.Trần Thuỷ Bình (phó giám đốc
trung tâm đào tạo)-cán bộ hớng dẫn đã tận tình giúp đỡ em rất nhiều
trong quá trình thực hiện hoàn thành bài viết này.
Em xin cảm ơn tất cả!
Sinh viên: Nguyễn Kiều Hng
Nguyễn Kiều Hng 5
Chuyên đề tốt nghiệp
Chơng I
Sự cần thiết nâng cao trình độ chuyên môn
I-Nguồn nhân lực và vai trò của nguồn nhân lực
1 1.Khái niệm và phân loại nguồn nhân lực
1.1khái niệm
Nguồn nhân lực đợc hiểu là nguồn lực con ngời,là một trong
những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế xã hội.Nguồn

sau một khoảng thời gian nhất định mới có biểu hiện rõ (vì con ngời
phải phát triển đến một mức độ nhất định mới trở thành ngời có sức lao
động,có khả năng lao động).
Chất lợng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân
lực, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên
trong của nguồn nhân lực. Chất lợng nguồn nhân lực là chỉ tiêu phản ánh
trình độ phát triển kinh tế và đời sống ngời dân trong một xã hội nhất
định. Chất lợng nguồn nhân lực thể hiện thông qua một hệ thống các chỉ
tiêu, trong đó có các chỉ tiêu chủ yếu sau:
1.2Phân loại nguồn nhân lực
1.2.1 Căn cứ vào nguồn gốc hình thành ngời ta chia ra làm 3
loại:
-Một là: nguồn nhân lực có sẵn trong dân số, bao gồm những ngời
trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động. Theo thống kê của liên
hợp quốc nhóm này là dân số hoạt động (Active population).
Độ tuổi lao động là giới hạn về tâm sinh lý mà theo đó con ngời có
đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động. Việc quy định giới hạn độ
tuổi lao động phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng nớc và
Nguyễn Kiều Hng 7
Chuyên đề tốt nghiệp
trong từng thời kỳ. ở nớc ta quy định giới hạn độ tuổi lao động là từ tròn
15 tuổi đến tròn 55 tuổi (đối với nữ) và tròn 60 tuổi (đối với nam).
Nguồn nhân lực có sẵn trong dân số chiếm tỷ lệ cao trong dân số
(thờng là trên 50%)
Trên thế giới căn cứ vào quan hệ tỷ lệ trên, trong và tuổi lao động
ngời ta chia dân số và nguồn nhân lực ra 3 dạng sau:
-Tỷ lệ dới tuổi lao động cao (gần 50% dân số),tỷ lệ trên tuổi lao
động thấp (khoảng 10%). Đây là dân số trẻ thờng ở các nớc đang phát
triển. Dạng này hầu hết khả năng tăng dân số và nguồn nhân lực còn cao
(hoặc quá cao).

1.2.2 Căn cứ vào vai trò của từng bộ phận nguồn nhân lực ngời
ta chia ra thành 3 loại
-Nguồn lao động chính: Đây là bộ phận nguồn nhân lực nằm
trong độ tuổi lao động và là bộ phận quan trọng nhất.
-Nguồn lao động phụ: Đây là bộ phận dân c nằm ngoài độ tuổi
lao động có thể và cần phải tham gia vào nền sản xuất xã hội đặc biệt ở
các nớc kém phát triển. ở nớc ta quy định số ngời dới tuổi lao động
thiếu từ 1-3 tuổi và trên tuổi lao động vợt từ 1-5 tuổi thực tế có tham
gia lao động đợc quy đổi ra lao động chính với hệ số quy đổi là 1/3 và
1/2 ứng với ngời dới tuổi và tên tuổi. Hiện nay có ý kiến cho rằng
không nên tính số trẻ em dới tuổi lao động vào nguồn nhân lực.
-Nguồn lao động bổ xung: Là bộ phận nguồn nhân lực đợc bổ
xung từ các nguồn khác (số ngời hết hạn nghĩa vụ quân sự, số ngời
trong độ tuổi lao động thôi học ra trờng, số ngời lao động ở nớc ngoài
trở về...)
2.Các chỉ tiêu thể hiện chất lợng nguồn nhân lực
2.1Chỉ tiêu biểu hiện trạng thái sức khoẻ của nguồn nhân lực
Nguyễn Kiều Hng 9
Chuyên đề tốt nghiệp
Sức khoẻ là trạng thái thoải mái về thể chất cũng nh tinh thần của
con ngời và đợc thể hiện thông qua nhiều chuẩn mức đo lờng về chiều
cao, cân nặng, các giác quan nội khoa, ngoại khoa v.v...Bên cạnh việc
đánh giá trạng thái sức khoẻ của ngời lao động, ngời ta còn nêu ra các
chỉ tiêu đánh giá của một quốc gia nh tỷ lệ sinh, chết, tăng tự nhiên, tỷ
lệ tử vong trẻ em dới một tổi và dới 5 tuổi, tỷ lệ thấp cân của trẻ sơ sinh,
tuổi thọ trung bình, cơ cấu giới tính, tuổi tác, mức GDP/đầu ngời v.v...
2.2Chỉ tiêu biểu hiện trình độ văn hoá của nguồn nhân lực
Trình độ văn hoá của nguồn nhân lực là trạng thái hiểu biết của
ngời lao động đối với những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội.
Trong chừng mực nhất định, trình độ văn hoá dân c biểu mặt bằng dân

Chỉ số phát triển con ngời (HDI-Human development index) chỉ số
này đợc tính theo ba chỉ tiêu chủ yếu
-Tuổi thọ bình quân.
-Thu nhập bình quân GDP/ngời;
-Trình độ học vấn (tỷ lệ biết chữ và số năm đi học trung bình của
dân c).
Chỉ số HDI là chi tiêu đánh giá sự phát triển con ngời về mặt kinh
tế có tính đến chất lợng cuộc sống và công bằng ,tiến bộ xã hội.
Ngoài những chỉ tiêu trên, ngời ta còn xem xét năng lực phẩm chất
nguồn nhân lực thông qua các chỉ tiêu: truyền thống lịch sử, nền văn
hoá, văn minh, phong tục tập quán của dân tộc... Chỉ tiêu này nhấn mạnh
đến ý trí, năng lực tinh thần của ngời lao động.
II-Nhân tố ảnh hởng đến trình độ chuyên môn.
1.Trình độ lành nghề của nguồn nhân lực thể hiện mặt chất lợng của
sức lao động.
Nguyễn Kiều Hng 11
Chuyên đề tốt nghiệp
Trình độ lành nghề của nguồn nhân lực biểu hiện ở sự hiểu biết lý
thuyết về kỹ thuật của sản xuất và kỹ năng lao động để hoàn thành
những công việc có trình độ phức tạp nhất định, thuộc một nghề nghiệp,
một chuyên môn nào đó. Trình độ lành nghề có liên quan chặt chẽ với
lao động phức tạp. Lao động có trình độ lành nghề là lao động có trình
độ cao hơn, là lao động phức tạp. Trong cùng một đơn vị thời gian, lao
động lành nghề thờng tạo ra một giá trị lớn hơn so với lao động giản
đơn. Trình độ lành nghề biểu hiện tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật (đối với
công nhân) và ở tiêu chuẩn nghiệp vụ viên chức, tức là các tiêu chuẩn
về trình độ học vấn, chính trị, tổ chức quản lý... để đảm nhận các chức
vụ đợc giao (đối với cán bộ chuyên môn).Để đạt tới trình độ lành nghề
nào đó, trớc hết phải đào tạo nghề cho nguồn nhân lực, tức là giáo dục
kỹ thuật sản xuất cho ngời lao động để họ nắm vững một nghề, một

sự cần thiết phải nâng cao trình độ chuyên môn của lao động
1.Đặc điểm kinh tế kỹ thuật chủ yếu của tổng công ty Dệt-May
1.1Vị trí ngành công nghiệp Dệt-May
1.1.1Vị trí ngành công nghiệp Dệt-May trên thế giới
Ngành công nghiệp dệt may gắn liền với nhu cầu không thể thiếu
đợc của mỗi con ngời vì vậy từ rất lâu trên thế giới ngành công nghiệp
này từng bớc trởng thành và đi lên cùng với sự phát triển ban đầu của
chủ nghĩa t bản. Bối cảnh ngành công nghiệp dệt may lúc đó là ngành
thu hút nhiều lao động với kỹ năng không cao, có tỷ trọng lợi nhuận t-
ơng đối cao và có điều kiện mở rộng thơng mại quốc tế-vốn đầu t ban
đầu cho một cơ sở sản xuất không lớn nh ngành công nghiệp nặng, hoá
chất...Do vậy trong quá trình công nghiệp hoá t bản từ rất sớm ở các n-
ớc phát triển Anh, ý cho đến các nớc công nghiệp mới nh Hàn Quốc,
Nguyễn Kiều Hng 13
Chuyên đề tốt nghiệp
Đài Loan, Hồng Kông, Singapore...ngành dệt may đều có vị trí quan
trọng trong tiến trình công nghiệp hoá của họ.
Ngành công nghiệp dệt may vốn dĩ đã sử dụng nhiều lao động,
tuy đã đợc cơ khí hoá, điện tử hoá rất cao vẫn không bù đắp lại hiệu quả
kinh tế tơng xứng, nên từ những năm 1750-1950 xu hớng chuyển dịch
ngành công nghiệp dệt-may xang các nớc có nhiều lao động rẻ. Tuy
nhiên ngành dệt-may cũng đã gắn bó với họ hàng mấy trăm năm.
Nừu nhìn vào thực chất hiện nay ở các nớc, thuộc G7+1 nh Đức,
ý, Pháp...ngành dệt-may đang phá sản, đóng cửa và bán thiết bị second-
hand với giá rất rẻ mà trình độ công nghệ còn rất phát triển mới sử dụng
khoảng 5- 8 năm thậm trí thiết bị mới xuất hiện ở hội chợ lần trớc
(ITMA lần X ở Paris) một số ít ở hội chợ lần cuối (ITMA lần XI-1991 ở
Hanover) song cũng không phải toàn bộ những công nghệ đỉnh cao của
dệt-may nh nguyên liệu sợi nicro, fiber, sợi lycra, sử lý cao cấp tơ tằm,
tổng hợp biến tính giả len, giả tơ sáng tạo mốt cần lao động kỹ thuật

Malayxia 412.000 4.400 23,9 7.260 0,4
Indonexia 4.200.000 50.000 23,7 135.000 0,8
Philipin 1.418.000 41.500 24,3 12.160 0,2
Việt Nam 630.000 1.600 13,2 11.120 0,2
Ghi chú:p.c.c, per capita capacity : đơn vị ngàn ngời.
Biểu II : Tiêu dùng hàng dệt của một số nớc trong vùng
Các nớc Bông Nhân tạo Khác Tổng
cộng
Thái Lan 2,5 0,3 - 2,8
Indonexia 0,7 1,3 - 2,0
Malayxia 1,5 4,8 0,1 6,4
N.Triều Tiên 5,6 8,3 0,4 14,3
Hồng Kông 5,3 5,2 1,4 11,9
T.Quốc 3,5 1,6 0,4 5,5
Việt Nam 0,32 0,5 0,02 0,84
Nguyễn Kiều Hng 15
Chuyên đề tốt nghiệp
Ngành công nghiệp dệt-may của họ có trình độ công nghệ tiên
tiến, trình độ quản lý khá cao, năng xuất lao động cao, nên tiền lơng
của lao động dệt-may cao mà giá thành sản phẩm vẫn hạ, tạo sức cạnh
tranh về hàng dệt-may ngay tại các nớc phát triển và đã tạo đợc giá trị
kim ngạch xuất khẩu khổng lồ so với ta trong nhiều năm phát triển công
nghiệp hoá ở đất nớc họ
Nguyễn Kiều Hng 16
Chuyên đề tốt nghiệp
Giá trị xuất khẩu hàng dệt-may của một số nớc qua các năm
Các nớc Đơn vị Năm 2000
Đài Loan Tỉ USD 3,927
Nam Triều Tiên Tỉ USD 2,871
Hồng Kông Tỉ USD 72,082

xét về mối tơng quan trong toàn ngành công nghiệp Việt Nam ngành
dệt-may vẫn đang chiếm một vị trí quan trọng. Về giá trị tổng sản lợng .
Chiếm gần 10% năm 92 (khi đã có dầu lửa) trong toàn ngành công
nghiệp đất nớc. Nộp ngân sách cho Nhà nớc khoảng 400 tỷ và tham gia
xuất khẩu trên 300 triệu đôla chiếm tỷ trọng hơn 10% kim ngạch xuất
khẩu toàn quốc.
Các chỉ tiêu ngành công nghiệp dệt-may qua các năm
Chỉ tiêu Ngành dệt Ngành may mặc
2000 2001 2002 2000 2001 2002
Giá trị TSLợng(tỷ
đồng giá cố định )
Trong đó tỉ lệ %
Công nghiệp QDTW
Công nghiệp QDDP
Phi quốc doanh
Sản phẩm chủ yếu
Sợi toàn bộ
(ngàn tấn)
Vải lụa các loại
(triệu mét)
Vải bạt (ngàn mét)
Vải màn (triệu mét)
Quần áo dệt kim
(triệu cái)
Len đan (tấn)
1258,
6
51,5
16,0
32,5

219,
1
22,2
35,1
42,7
241,8
22,3
41,4
36,3
Nguyễn Kiều Hng 18
Chuyên đề tốt nghiệp
Len thảm
Thảm len (ngàn m)
Thảm cóc (ngàn mét)
Khăn bông (triệu cái)
Bít tất (ngàn đôi)
Quần áo may sẵn
(triệu cái)
Các cơ sở dệt-may
-Cơ sở QDTW
-Cơ sở QDĐP
-HTX và t nhân
Lao động (ngàn ngời)
-Lao động CN QDTW
-Lao động CN QDĐP
-Lao động ngoàI QD
651
414
213
1.556

36,3
150,2
125,3
17
68
-
174,0
22,8
26,4
124,8
106,
1
18
78
-
136,
4
23,2
31,7
81,5
63,9
18
81
40.21
152,1
22,4
41,5
88,2
Ghi chú : - Vè sợi chỉ số bình quân đã tăng (trớc Nm < 40, Hiện nay
Nm >40 )

-Thiết bị dệt kim đợc bổ xung mới, hiện đại của Nhật, Hàn Quốc,
Đài Loan ở nhà máy Thành Công, Đông Phơng, Hà Nội, Nha Trang,
Hoàng Thị Loan, 19/5 ...
-Bổ xung thêm nhiều máy nhuộm cao áp văng định hình, làm mền
xốp vải, chống nhầu, chống co, in hoa trục , in hoa lới nhằm đồng bộ và
Nguyễn Kiều Hng 20
Chuyên đề tốt nghiệp
đa dạng hoá dây chuyền nhuộm hoàn tất, gia công đợc nhiều loại mặt
hàng jacket ,shirting, suiting, khăn bông, dệt kim từ nguyên liệu cotton
B/C và tổng hợp đã nâng cao đợc đáng kể chất lợng vải xuất khẩu
-Từ 3 năm trở lại đây nhiều nhà máy dệt và nhà máy may đã trang
bị đợc thêm nhiều máy may thêu hiện đại của Barudan, Tajima Juki,
Brother, Pfaff, Pegasus, Adler... để may thêu các mặt hàng sơ mi,
jacket, BHLD T-Shirt, poloshirt cải thiện một bớc chất lợng mặt hàng
may xuất khẩu và nội địa ở các nhà máy dệt và các nhà máy may TW và
địa phơng.
Nguyên liệu dệt trong nớc đã bắt đầu khởi sắc. Bông xơ đạt 3000
tấn. Đay: hơn 20.000 tấn đay tơ và tơ nõn: 850 tấn.
Nhờ chính sách mở cửa của Nhà nớc ngành dệt-may đã giao lu
buôn bán với trên 200 công ty của 30 nớc trên Thế giới. Bớc đầu đã hoà
nhập đợc với thị trờng dệt-may thế giới nh Nhật Bản, EC, úc, Canada,
Bắc Âu, Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore với các sản phẩm
may sẵn, quần áo dệt kim, khăn bông, jacket, thảm len, sợi bông, sợi
đay...
Tạo đợc nhiều công trình liên doanh và 100% vốn nớc ngoàI nh
Dona Bochang, Pankrim, Total, Hanjoo, Trung Nam, Saigon-joudo,
Donatex,...
Nhìn chung nhiều công nghệ mới ra đời, mặt hàng dệt-may đa
dạng hơn, phong phú hơn, chất lợng cao hơn, năng suất cao hơn, giảm
hao phí, hạ giá thành...

*Dệt kim mặc nót và ngoài : 13.500 tấn/năm
*Dệt kim dọc và màn : 1500 tấn/năm
+Về nhuộm hoàn tất : Năng lực nhuộm hoàn tất đợc 450 triệu mét
vải dệt thoi và 15.000 tấn sản phẩm dệt kim với 10.000 tấn sản phẩm
khăn bông nguyên liệu 100% Co, P/C và tổng hợp.
Nguyễn Kiều Hng 22
Chuyên đề tốt nghiệp
+Khăn bông : 10.000 tấn
+Mền : 1 triệu chiếc
+Len Min Acrylic : 1500 tấn và 1,6 triệu áo.
+Len thảm và dệt thảm : 1500 tấn và 0,5 triệu m
2
thảm len
+Chỉ khâu : 500 tấn.
+Đay : 3 vạn tấn và 25 triệu bao và 5 triệu m
2
thảm đay.
+May mặc sẵn khoảng 300 triệu sản phẩm, trong đó : may công
nghiệp 150 triệu của 125 cơ sở với 39.744 máy may các loại và hơn 9
vạn lao động, ngoài ra còn 40.000 hộ cá thể và tổ hợp.
+Ngoài ra còn có các đơn vị hợp tác liên doanh với nớc ngoài với
công suất:
+Kéo sợi : 5 vạn cọc
+Dệt : 500 máy
+May mặc : 20 triệu sản phẩm.
Từ giai đoạn bớc vào cơ chế thị trờng tốc độ tăng kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt-may đã tăng từ 582 triệu đôla năm 2001 lên 1261 triệu
đôla năm 2002

1.2.2Thiết bị và công nghệ

thì cơ cấu sở hữu t nhân có phát triển hơn. Mấy năm gần đây một số
công ty QDTW, QDĐP, công ty trách nhiệm hữu hạn đã đợc trang bị
hiện đại hơn, sảnphẩm có chất lợng cao, quy mô khá lớn từ 3-4 triệu sản
phẩm/năm nh Huy Hoàng, Leagamex, may XK Sài Gòn, X40 Hà
Nội...một số công ty XNK ở các bộ, các địa phơng tạo cơ cấu mới cho
ngành may XK
Tuy nhiên các công ty, xí nghiệp may TW vẫn là chủ lực may
hàng XK, có kỹ thuật và có tay nghề cao. Liên hiệp may vẫn là nòng cốt
Nguyễn Kiều Hng 24
Chuyên đề tốt nghiệp
của Hiệp hội may Việt Nam. Tóm lại hiện tại cơ cấu sở hữu ngành dệt-
may Việt Nam thì cơ cấu sở hữu t nhân cha có sức mạnh đáng kể.
1.2.4 Phân bổ và quy mô sản xuất
Trong điều kiện lịch sử đã qua, nhằm tận dụng lao động ở khắp
miền đất nớc và sử dụng lao động nữ ở các ngành công nghiệp khác nên
xu hớng từ miền xuôi đến miền núi, từ vùng mỏ đến thành phố đều có
thể đặt nhà máy dệt nên ngành dệt-may phân bổ khá phân tán với quy
mô lớn lại xây dựng kinh tế trong chiến tranh nên đầu t tốn kém và hiệu
quả thấp.
Xét về kinh tế thì phân bổ tập trung vào cụm công nghiệp là hợp
lý, có điều kiện tận dụng hạ tầng, dịch vụ thuận lợi trong quản lý và
hoạt động thị trờng, thông tin, văn hoá, xã hội và vệ sinh môi trờng.
Thực tế đã chứng minh các t nhân nớc ngoài chỉ muốn vào liên doanh và
xây dựng cơ sở sản xuất 100% ở các thành phố lớn có điều kiện hạ tầng
tốt.
1.2.5 Cơ cấu sản phẩm
Tuy hiện nay sản phẩm dệt-may đã đa dạng và phong phú, nhng
hớng vào thị trờng mới của t bản ta còn nhiều khoảng trống rất lớn. Sợi
bông cao cấp có chải kỹ cho mặt hàng sơ mi và cho sản phẩm dệt kim
mặt ngoài có sử lý hoàn tất cao cấp cha nhiều sợi OE nhằm giảm giá

nớc không đáng kể, chất lợng thấp. Sản phẩm từ phế liệu tơ tằm để kéo
sợi spunsilk có giá trị kinh tế cao còn bỏ trống.
-Nguồn tơ sợi tổng hợp sử dụng hiện tại vẫn còn phải nhập hàng
năm khoảng 25.000 tấn xơ PE và khoảng 6000 tấn tơ petex với ngoại tệ
Nguyễn Kiều Hng 26
Chuyên đề tốt nghiệp
nhập khoảng 40 triệu đôla. Nhiều hãng nớc ngoài đã có tiếp xúc với
ngành dệt để xin đầu t sản xuất xơ tổng hợp.
-Nguồn đay đã có trên 20.000 tấn đay tơ nhng cha có chính sách
bảo hộ của nhà nớc, bao đay tràn từ bên ngoài vào Việt Nam và bao pp
tự phát triển tràn lan đang làm ảnh hởng lớn đến cơ sở kéo sợi, dệt bao
đay và nông dân trồng đay.
1.2.7Đầu t và phát triển
Gần 20 năm qua 1987 đến 2003 nhà nớc đã dành cho ngành dệt
các nguồn tín dụng của Pháp, Nhật Bản, CHLBĐức,CHDCĐức (cũ) và
Hungri đầu t bổ sung 42 vạn cọc sợi và nguồn tín dụng ấn Độ cho Nam
Định và 8-3 bổ sung đổi mới dây sợi và nhuộm.
Ngoài ra bằng nguồn vốn tự có (khấu hao cơ bản để lại-thậm chí
cả vốn lu động) vay ngân hàng, vay trả chậm nớc ngoài...để cố gắng cải
thiện công nghệ sản xuất song ngành dệt cũng nh may cha đủ sức cạnh
tranh. Các thiết bị cũ còn tồn tại, kể cả thiết bị may CHDC Đức, Tiệp,
Liên Xô (cũ)...vẫn còn hoạt động sản xuất ở một số cơ sở. Về hợp tác
đầu t với nớc ngoài còn quá ít : Có Dona-Bochang với Đài Loan , có
Trung Nam với Hàn Quốc-có pankrim Hàn Quốc và Sài Gòn joubo dệt
jean của địa phơng, total, Donatex...
Nhìn chung quá trình đầu t đã qua nếu không có thì ngành dệt-
may không thể tồn tại trong cơ chế thị trờng. Song quy mô từng cơ sở
còn lớn cha phù hợp với đặc thù ngành công nghiệp SMI.
Các nguồn vốn nói trên tuy còn rất ít ỏi so với nhu cầu nh ng cũng
đã tạo cho ngành dệt ít nhiều bộ mặt mới, trụ đợc bớc đầu trong cơ chế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status