Các giải pháp nâng cao trình độ chuyên môn lực lượng lao động ở Tổng Công ty Dệt-May Việt Nam Vinatex - Pdf 35

Chuyên đề tốt nghiệp
MỞ ĐẦU

Nền kinh tế thế giới ngày nay đang đi từ việc lấy kỹ thuật làm
trung tâm để lấy con người làm trung tâm.Nguồn lực con người ngày
càng trở lên một trong những nguồn lực quan trọng của mỗi quốc
gia ,mỗi doanh nghiệp.Một đất nước có kinh tế mạnh là nhờ có nhiều
doanh nghiệp mạnh .Doanh nghiệp có mạnh hay không là nhờ vào đội
ngũ công nhân viên trong doanh nghiệp.Hiện nay chi phí cho việc đào
tạo trong nội bộ công ty được xem như là chi phí đầu tư lâu dài cần
thiết cho sự phồn thịnh của công ty trong tương lai.Có một nguồn nhân
lực với chất lượng cao là một yếu tố cạnh tranh mạnh của các doanh
nghiệp trong cơ chế thị trường .
Trong sự nghiệp CNH-HĐH Đảng ta xác định phải “lấy việc phát
huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và
bền vững.”Đối với các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường ,và nhất là
để hội nhập vào môi trường quốc tế,chuẩn bị nội lực để cạnh tranh khi
Việt Nam tham gia vào AFTA thì vấn đề đào tạo để có một nguồn nhân
lực có chất lượng cao là yếu tố sống còn.
Theo phương hướng chiến lược của Vinatex đặt ra, từ nay đến
năm 2010 Tổng Công ty “lấy nhiệm vụ xuất khẩu làm hướng chính” ,
“nhiệm vụ trọng tâm của các đơn vị Dệt-May trong thời gian tới phải
thâm nhập vào thị trường EU,Mỹ,chủ động tìm thị trường tiêu
thụ,không thụ động trông chờ như trước đây.”Để đạt được mục tiêu
chiến lược đã đề ra,vấn đề hàng đầu là các doanh nghiệp Dệt-May của
Tổng Công ty cần có nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng được
yêu cầu của giai đoạn mới.
Nguyễn Kiều Hưng
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Trong khuôn khổ đề tài này có tính cấp thiết của vấn đề nhân lực

pháp chuyên gia,tổng hợp và kế thừa các tài liệu có sẵn.
*Những đóng góp của luận văn:
-Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận có liên quan đến đào tạo
nguồn nhân lực của các doanh nghiệp Dệt-May thuộc Vinatex để làm
cơ sở đề xuất những giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân
lực trong các doanh nghiệp của Vinatex.
-Xây dựng một số quan điểm làm cơ sở cho việc hoàn thiện công
tác đào tạo nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp Dệt-May thuộc
Vinatex giai doạn từ nay đến 2010
-Chuyên đề tập trung hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực
trong các doanh nghiệp Dệt-May thuộc Vinatex nhằm đáp ứng nhu cầu
về nguồn nhân lực trong giai đoạn tăng tốc phát triển của ngành Dệt-
May Việt Nam.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng,nhưng do trình độ còn nhiều hạn chế
và thời gian có hạn ,nên chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót và
hạn chế nhất định.Em rất mong được sự góp ý của các thầy cô cùng các
bác,các chú,các cô,anh,chị ở trung tâm đào tạo cán bộ thuộc Tổng
Công ty Dệt-May Việt Nam.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới thầy TS.Lê Huy Đức
(trưởng khoa KHPT)-giáo viên hướng dẫn và cô TS.Trần Thuỷ Bình
(phó giám đốc trung tâm đào tạo)-cán bộ hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ
em rất nhiều trong quá trình thực hiện hoàn thành bài viết này.
Em xin cảm ơn tất cả!
Sinh viên: Nguyễn Kiều Hưng
Nguyễn Kiều Hưng
5
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I
SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN
I-Nguồn nhân lực và vai trò của nguồn nhân lực

dân và những người thất nghiệp, song có nhu cầu tìm việc làm.
Nguồn nhân lực được nghiên cứu về số lượng và chất lượng. Số
lượng nguồn nhân lực được đo lường thông qua chỉ tiêu quy mô và tốc
độ tăng. Các chỉ tiêu này có liên quan mật thiết với chỉ tiêu quy mô và
tốc độ tăng dân số. Quy mô và tốc độ tăng dân số càng lớn thì quy mô
và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược lại. Tuy nhiên sự tác
động đó phải sau một khoảng thời gian nhất định mới có biểu hiện rõ
(vì con người phải phát triển đến một mức độ nhất định mới trở thành
người có sức lao động,có khả năng lao động).
Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn
nhân lực, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất
bên trong của nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực là chỉ tiêu
phản ánh trình độ phát triển kinh tế và đời sống người dân trong một
xã hội nhất định. Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện thông qua một hệ
thống các chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu chủ yếu sau:
1.2Phân loại nguồn nhân lực
1.2.1 Căn cứ vào nguồn gốc hình thành người ta chia ra làm 3
loại:
-Một là: nguồn nhân lực có sẵn trong dân số, bao gồm những
người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động. Theo thống kê của
liên hợp quốc nhóm này là dân số hoạt động (Active population).
Độ tuổi lao động là giới hạn về tâm sinh lý mà theo đó con người
có đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động. Việc quy định giới
Nguyễn Kiều Hưng
7
Chuyên đề tốt nghiệp
hạn độ tuổi lao động phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng
nước và trong từng thời kỳ. ở nước ta quy định giới hạn độ tuổi lao
động là từ tròn 15 tuổi đến tròn 55 tuổi (đối với nữ) và tròn 60 tuổi
(đối với nam).

động có ích và cần thiết, khi có thuận lợi, loại hoạt động này có thể gia
nhập hoạt động kinh tế xã hội.
-Những người tốt nghiệp ở các trường phổ thông trung học và
chuyên nghiệp song chưa có việc làm, được coi là nguồn nhân lực dự
trữ quan trọng và có chất lượng. Đây là nguồn nhân lực ở độ tuổi thanh
niên có học vấn có trình độ cao. Tuy nhiên đối với nguồn nhân lực này
cần được phân chia tỷ mỉ hơn để có thể sử dụng hợp lý hơn (số tốt
nghiệp PTTH, số tốt nghiệp THCN, đại học, CN kỹ thuật, Cao đẳng...)
-Những người hoàn thành nghĩa vụ quân sự .
-Những người trong độ tuổi lao động đang bị thất nghiệp...
1.2.2 Căn cứ vào vai trò của từng bộ phận nguồn nhân lực
người ta chia ra thành 3 loại
-Nguồn lao động chính: Đây là bộ phận nguồn nhân lực nằm
trong độ tuổi lao động và là bộ phận quan trọng nhất.
-Nguồn lao động phụ: Đây là bộ phận dân cư nằm ngoài độ tuổi
lao động có thể và cần phải tham gia vào nền sản xuất xã hội đặc biệt
ở các nước kém phát triển. ở nước ta quy định số người dưới tuổi lao
động thiếu từ 1-3 tuổi và trên tuổi lao động vượt từ 1-5 tuổi thực tế có
tham gia lao động được quy đổi ra lao động chính với hệ số quy đổi là
1/3 và 1/2 ứng với người dưới tuổi và tên tuổi. Hiện nay có ý kiến
cho rằng không nên tính số trẻ em dưới tuổi lao động vào nguồn nhân
lực.
Nguyễn Kiều Hưng
9
Chuyên đề tốt nghiệp
-Nguồn lao động bổ xung: Là bộ phận nguồn nhân lực được bổ
xung từ các nguồn khác (số người hết hạn nghĩa vụ quân sự, số người
trong độ tuổi lao động thôi học ra trường, số người lao động ở nước
ngoài trở về...)
2.Các chỉ tiêu thể hiện chất lượng nguồn nhân lực

thực hành về một chuyên môn nghề nghiệp nào đó được biểu hiện
thông qua các chỉ tiêu.
-Số lượng lao động được đào tạo và chưa qua đào tạo;
-Cơ cấu lao động được đào tạo;
+ Cấp đào tạo (sơ cấp, trung cấp, cao cấp);
+ CN kỹ thuật và cán bộ chuyên môn;
+ Trình độ đào tạo (Cơ cấu bậc thợ, cơ cấu ngành nghề
v.v...)
Chỉ tiêu trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực là chỉ
tiêu quan trọng nhất phản ánh chất lượng nguồn nhân lực, thông qua
chỉ tiêu quan trọng này cho thấy năng lực sản xuất của con người trong
ngành, trong một quốc gia, một vùng lãnh thổ, khả năng sử dụng khoa
học hiện đại vào sản xuất.
2.4 Chỉ số phát triển con người
Chỉ số phát triển con người (HDI-Human development index) chỉ
số này được tính theo ba chỉ tiêu chủ yếu
-Tuổi thọ bình quân.
-Thu nhập bình quân GDP/người;
-Trình độ học vấn (tỷ lệ biết chữ và số năm đi học trung bình của
dân cư).
Nguyễn Kiều Hưng
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Chỉ số HDI là chi tiêu đánh giá sự phát triển con người về mặt
kinh tế có tính đến chất lượng cuộc sống và công bằng ,tiến bộ xã hội.
Ngoài những chỉ tiêu trên, người ta còn xem xét năng lực phẩm
chất nguồn nhân lực thông qua các chỉ tiêu: truyền thống lịch sử, nền
văn hoá, văn minh, phong tục tập quán của dân tộc... Chỉ tiêu này nhấn
mạnh đến ý trí, năng lực tinh thần của người lao động.
II-Nhân tố ảnh hưởng đến trình độ chuyên môn.

nhưng chưa được đào tạo một nghề, một chuyên môn nào, ngoài trình
độ văn hoá phổ thông. Không những vậy, nền kinh tế mở cửa, nhiều
thành phần kinh tế hoạt động, cơ cấu công nghệ thay đổi, sản xuất
ngày càng phát triển, trong điều kiện khoa học kỹ thuật đang phát
triển mạnh mẽ, phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, nhiều
nghề, chuyên môn cũ thay đổi, nhiều nghề mới ra đời. Từ đó đòi hỏi
trình độ lành nghề của nguồn nhân lực cần phảI được đào tạo, nâng
cao thêm cho phù hợp với yêu cầu của sản xuất. Chúng ta đang bước
vào thời kỳ CNH, HDH sau những thắng lợi của sự nghiệp đổi mới.
Song do nhiều nguyên nhân, chất lượng nguồn nhân lực còn ở mức độ
thấp. Bởi vậy đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phải đáp ứng mục
tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài” như
Đảng ta đã xác định.
2.Cơ cấu lao động được đào tạo:
-Cấp đào tạo(sơ cấp,trung cấp,cao cấp)
-Công nhân kỹ thuật và cán bộ chuyên môn
-Trình độ đào tạo(cơ cấu bậc thợ,cơ cấu ngành nghề v.v...)
III-Đặc điểm kinh tế kỹ thuật chủ yếu của tổng công ty Dệt May và
sự cần thiết phải nâng cao trình độ chuyên môn của lao động
1.Đặc điểm kinh tế kỹ thuật chủ yếu của tổng công ty Dệt-May
Nguyễn Kiều Hưng
13
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1Vị trí ngành công nghiệp Dệt-May
1.1.1Vị trí ngành công nghiệp Dệt-May trên thế giới
Ngành công nghiệp dệt may gắn liền với nhu cầu không thể
thiếu được của mỗi con người vì vậy từ rất lâu trên thế giới ngành
công nghiệp này từng bước trưởng thành và đi lên cùng với sự phát
triển ban đầu của chủ nghĩa tư bản. Bối cảnh ngành công nghiệp dệt
may lúc đó là ngành thu hút nhiều lao động với kỹ năng không cao, có

Ngành dệt-may đang có xu hướng chuyển dịch từ Hàn Quốc-Hồng
Kông-Đài Loan...xang các nước có lao động dồi dào và rẻ hơn như
Inđônêxia, Bănglađét, Việt Nam...chúng ta đang tiếp nhận các công
trình liên doanh, hoặc 100% vốn từ các nước đó. Song sự phát triển
rực rỡ ở các nước NIC Châu á, giá trị gia tăng công nghiệp (MVA) từ
7,8% năm 1970 lên 14,2% năm 1989 đã vượt qua tỷ lệ tăng trưởng ở
các nước phát triển G7. Sự tăng trưởng MVA tương đối nhanh hơn ở
các nước này lúc đầu chủ yếu là hàng dệt-may, thực phẩm chế biến và
ít lâu sau là hàng điện tử (mạnh tổ hợp) sự phát triển công nghiệp ở
các nước này có khác nhau, trong đó Nam Triều Tiên sớm giảm vai trò
của hàng dệt-may và nâng tầm quan trọng của việc xuất khẩu sản
phẩm kim loại, máy móc. Song nhìn chung các nước thuộc khối NIC
Châu Á vẫn có công xuất dệt may khá lớn so với Việt Nam và tiêu
dùng hàng vải đầu người cũng cao hơn Việt Nam nhiều.
Biểu I: Công suất kéo sợi và dệt vải của Việt Nam và một số nước
trong vùng
Các nước Kéo sợi Dệt vải
Cọc sợi Ro-to p.c.c Máy
dệt
p.c.c
Đài Loan 3.755.000 121.500 203,8 74.000 3,7
N.Triều Tiên 3.659.000 39.700 87,3 52.560 1,2
Nguyễn Kiều Hưng
15
Chuyên đề tốt nghiệp
Hồng Công 264.000 71.000 58,2 12.990 2,3
Thái Lan 2.800.000 35.000 51,1 63.500 1,1
Malayxia 412.000 4.400 23,9 7.260 0,4
Indonexia 4.200.000 50.000 23,7 135.000 0,8
Philipin 1.418.000 41.500 24,3 12.160 0,2

Malayxia Tỉ USD 8,08
Singapor Tỉ USD 5,23
Việt Nam Tỉ USD 1,1
Trong thập kỷ qua :Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapor
là những nước sản xuất và xuất khẩu dệt-may cho các nước tư bản
phát triển. Ngày nay họ đã chiếm 1/4 khối lượng buôn bán hàng dệt và
1/3 hàng may mặc trên thế giới. Các nhà dự báo ngành dệt trên thế
giới nhận định: Ngành dệt-may các nước NIC đã bước vào giai đoạn
chuyển giao sản xuất sang các nước có mức lương thấp. Họ là những
nước đầu tư quan trọng tại khu vực vòng cung Thái Bình Dương Châu
Á trong đó có Việt Nam
1.1.2Vị trí ngành công nghiệp Dệt-May Việt Nam
Sản phẩm của ngành dệt-may là một nhu cầu thiết yếu của con
người nên nó đã được hình thành từ rất sớm ở Việt Nam, phát triển từ
tiểu thủ công đến công nghiệp, từ phân tán đến tập trung. Là một nước
nghèo với thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm thấp nhất thế
giới và đang xây dựng mục tiêu phấn đấu tăng thu nhập bình quân đầu
người để cải thiện đời sống nhân dân. Công nghiệp Việt Nam chậm
phát triển nên ngành công nghiệp dệt-may cũng ở trong tình trạng
chung là nhỏ bé và phụ thuộc bên ngoài.
Nguyễn Kiều Hưng
17
Chuyên đề tốt nghiệp
Song ngành dệt-may đã thu hút được nhiều lao động xã hội gần
6 vạn người chiếm 22,7% lao động công nghiệp toàn quốc. GiảI quyết
được công ăn việc làm, tạo sự ổn định chính trị-kinh tế-xã hội do đó
được Đảng và nhà nước đã quan tâm cho phát triển từ nhiều thập kỷ
qua, nên xét về mối tương quan trong toàn ngành công nghiệp Việt
Nam ngành dệt-may vẫn đang chiếm một vị trí quan trọng. Về giá trị
tổng sản lượng . Chiếm gần 10% năm 92 (khi đã có dầu lửa) trong

16,3
33,7
40,3
280,4
1370
1406,
8
49,4
16,7
33,9
42,5
275,7
1452
202,5
24,6
36,7
3
8,7
219,
1
22,2
35,1
42,7
241,8
22,3
41,4
36,3
Nguyễn Kiều Hưng
18
Chuyên đề tốt nghiệp

371,1
64,4
39,4
266,3
43,3
26,1
728
558
109,2
2726
31
87
-
306,5
64,3
39,9
202,1
41,5
17,7
810
260
110,2
2768
31
81
46.08
2
248,6
62,1
36,3

Nguyễn Kiều Hưng
19
Chuyên đề tốt nghiệp
Với sự lỗ lực để khắc phục những yếu kém của ngành dệt-may
Việt Nam để vươn lên trong nền kinh tế thị trường. Những hoạt động
tiêu biểu cho sản xuất ngành dệt-may đã thực hiện được:
-Bước đầu đổi mới cơ chế ngành để thích nghi với cơ chế kinh
tế thị trường.
-Đã tập trung đầu tư vào giải quyết được một phần những tồn tại
trong sản xuất, tuy vốn đầu tư chỉ đảm bảo được 10-15% yêu cầu.
-Loại bỏ đi và nâng cấp được một phần những thiết bị quá cũ,
hư hỏng nhiều và đã lạc hậu về công nghệ ( những thiết bị thuộc thập
kỷ 50-60) như ở nhà máy dệt Nam Định, 8-3,Thắng Lợi, Việt Thắng...
các nhà máy may Thăng Long, X-10, Chiến Thắng, Việt Tiến...
-Đổi mới được trên 15 vạn cọc sợi mới của Pháp-Nhật-Ấn Độ ở
3 nhà máy Thắng Lợi, Đông Nam, Dệt Nam Định.
-Đầu tư mới được 30 vạn cọc sợi mới của Nhật-Ý-Đức cho 4 nhà
máy mới ở Hà Nội, Vinh, Huế và Nha Trang
-Trang bị thêm 1000 nhà máy dệt không thoi khổ rộng (trên 1,6
m) loại thổi khí, kiến cứng, kiếm mềm, thoi kẹp của Nhật, Hàn Quốc,
Bỉ, Pháp, Tiệp, Liên Xô(Cũ) ở các nhà máy trung ương và địa phương
như Thành Công, Việt Thắng, Đông Á, Phong Phú, 8-3,Nam Định, Lụa
Nam Định, dệt Long An...
-Gần 2000 máy dệt thoi khổ rộng (1,6m) và cải tạo từ khổ vải
0,80m lên 1,2m của nhiều cơ sở sản xuất TW và địa phương
-Công suất kéo sợi đay và dệt vải đay được mở rộng ở cả cơ sở
TW và địa phương của các thiết bị Anh-ấn Độ (hiện nay nhà nước có 8
nhà máy kéo sợi đay)
-Năng lực len thảm, len mịn được bổ xung các thiết bị Pháp, Ba
Lan, Đức...

21
Chuyên đề tốt nghiệp
Nhìn chung nhiều công nghệ mới ra đời, mặt hàng dệt-may đa
dạng hơn, phong phú hơn, chất lượng cao hơn, năng suất cao hơn,
giảm hao phí, hạ giá thành...
Tuy nhiên do vốn đầu tư còn quá ít (xấp xỉ 10-15%) so với yêu
cầu nên sự hoà nhập được với thị trương dệt thế giới còn hạn chế chỉ
khoảng trên 10% sản phẩm dệt may là tương đương được với các nước
phát triển. Riêng may mặc sự hoà đồng vào thị trường thế giới có khá
hơn (60-70%)
1.2Các đặc điểm chủ yếu:
1.2.1Năng lực
Ngành công nghiệp dệt-may Việt-Nam hiện nay vừa phải đảm
nhận một nhu cầu ăn mặc thiết yếu của nhân dân vừa phải nâng cao
trình độ công nghệ để xuất khẩu được sản phẩm dệt-may ra thế giới thì
mới tồn tại để có kim ngạch tự cân đối phần nhập. Sau khi thị trường
comecon tan rã thì ngành dệt-may Việt Nam chưa hoà nhập được với
Hiệp hội dệt thế giới và các nước trong vùng trong phân công lao động
và mậu dịch quốc tế. Sự tồn tại tại độc lập với thị trường dệt thế giới ,
lại lấy nhiệm vụ xuất khẩu làm chính là khó khăn phải sớm được khắc
phục.
Ngành dệt-may tồn tại và phát triển qua 4 thập kỷ qua bao gồm
cả 3 khu vực.
-Khu vực dệt-may QDTW thuộc Bộ công nghiệp chủ quản.
-Khu vực dệt-may QDĐP thuộc UBND các tỉnh chủ quản.
-Khu vực dệt-may thuộc HTX và tư nhân
Ngành dệt-may phân tán trên 28 tỉnh và thành phố, hầu như
chưa có một khu công nghiệp dệt-may tập trung.Năng lực cụ thể các
sản phẩm ngành dệt may hiện có:
Nguyễn Kiều Hưng

+Kéo sợi : 5 vạn cọc
+Dệt : 500 máy
+May mặc : 20 triệu sản phẩm.
Nguyễn Kiều Hưng
23
Chuyên đề tốt nghiệp
Từ giai đoạn bước vào cơ chế thị trường tốc độ tăng kim ngạch
xuất khẩu hàng dệt-may đã tăng từ 582 triệu đôla năm 2001 lên 1261
triệu đôla năm 2002

1.2.2Thiết bị và công nghệ
2 -Đối với ngành dệt trên 50% thiết bị đã sử dụng trên 25 năm, hư
hỏng nhiều, mất tự động, năng suất thấp, chất lượng sản phẩm kém, giá
thành sản suất còn cao. Tuyệt đại bộ phận ngành kéo sợi chỉ đạt mức
tương đương 95% đến 75% uster, ngay sợi Hà Nội và Nha Trang hiện
đại nhất của ta cũng chỉ đạt xấp xỉ 50%
Công xuất sợi chải kỹ quá ít (xấp xỉ 16%) .Công nghệ kéo sợi
OE quá nhỏ bé (2000 roto đạt xấp xỉ 2,3% sản lượng kéo sợi). Máy dệt
thoi trên 80% là khổ hẹp dưới 54”. Hiện tại máy dệt không thoi mới có
30% (khu vực QDTW). Còn công cụ dệt ở khu vực HTX, tư nhân tuyệt
đại đa số là máy gỗ cũ kỹ. Thiết bị dệt kim còn nhỏ bé, chỉ chiếm tỉ
trọng dưới 20% năng lực và lại trang bị từ lâu nên lạc hậu, hư hỏng
nhiều nhưng đến nay đã một phần được đổi mới. Thiết bị in nhuộm
hoàn tất chỉ có 10% là khá, 35% phải nâng cấp số còn lại 55% phải
thay thế dần. Công nghệ rất lạc hậu, chỉ 25% đạt trình độ tương đương
với các nước trong khu vưc Đông Nam Á. Thiếu công nghệ xử lý làm
đẹp và hoàn tất vải có chất lượng cao, hiện nay hàng dệt vẫn chưa đủ
sức cạnh tranh với hàng nhập vàI thị trường trong nước, đặc biệt là giá
cả, chất lượng mới đáp ứng được một phần nhỏ cho xuất khẩu
-Đối với ngành may mặc tuy đã được trang bị lại nhiều để có

Nguyễn Kiều Hưng
25
Chuyên đề tốt nghiệp
Xét về kinh tế thì phân bổ tập trung vào cụm công nghiệp là hợp
lý, có điều kiện tận dụng hạ tầng, dịch vụ thuận lợi trong quản lý và
hoạt động thị trường, thông tin, văn hoá, xã hội và vệ sinh môi trường.
Thực tế đã chứng minh các tư nhân nước ngoài chỉ muốn vào liên
doanh và xây dựng cơ sở sản xuất 100% ở các thành phố lớn có điều
kiện hạ tầng tốt.
1.2.5 Cơ cấu sản phẩm
Tuy hiện nay sản phẩm dệt-may đã đa dạng và phong phú,
nhưng hướng vào thị trường mới của tư bản ta còn nhiều khoảng trống
rất lớn. Sợi bông cao cấp có chải kỹ cho mặt hàng sơ mi và cho sản
phẩm dệt kim mặt ngoài có sử lý hoàn tất cao cấp chưa nhiều sợi OE
nhằm giảm giá nguyên liệu đầu vào phục vụ hàng dệt kim mặc lót, mặt
hàng khăn bông xuất khẩu có thị trường rất lớn thì tỷ trọng còn quá bé
Các mặt hàng quần áo dệt kim thể thao hoặc vải Jean thun từ
inguyên liệu sợi dãn tính cao (sợi lycra, spandex) còn rất ít, các mặt
hàng jacket mật độ cao sử dụng sợi kéo từ microfiber chưa có. Các
nguyên liệu tổng hợp biến tính, acrylic pha len để sản xuất mặt hàng
complet chưa có.
Đặc biệt về kiểu mốt may mặc của ta còn rất yếu do chưa được
coi trọng về đầu tư cơ sở mode thông tin và tiếp cận thị trường.
Tình trạng chủ yếu là ngành dệt chưa đáp ứng được vải cho
ngành may cả về số lượng và chủng loại chất lượng, thí dụ : 50% mặt
hàng cho EC chưa đáp ứng được cho cả dệt và may.
1.2.6Cung cấp nguyên liệu
Nguyễn Kiều Hưng
26
Chuyên đề tốt nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status