1
Mục lục
CHƢƠNG 1: MỞ ĐẦU 3
1.1 Đặt vấn đề. 3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Nội dung nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng nghiên cứu 4
1.5 Ý nghĩa của đề tài 4
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN 4
2.1. Tổng quan về ngành sản xuất đường. 4
2.1.1 Trên thế giới 4
2.1.2 Nước ta 5
2.2. Quy trình công nghệ sản xuất đường từ mía 6
2.2.1. Nguyên liệu mía đầu vào. 6
2.2.1.1. Phân loại 6
2.2.2. Công nghệ sản xuất đường saccharose từ mía (quy mô lớn - sản xuất hiện đại) 6
2.2.3. Công nghệ sản xuất đường saccharose từ mía (quy mô nhỏ - sản xuất truyền thống) 16
CHƢƠNG 3: CÁC VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH SẢN
XUẤT 18
3.1 Quá trình thất thoát nguyên, vật liệu trong khâu vận chuyển, bảo quản vật liệu. 18
3.2 Nước thải 19
3.2.1 Các nguồn phát sinh nước thải trong quá trình sản xuất 19
3.2.2 Đặc trưng của nước thải nhà máy đường 19
3.3 Khí thải 21
3.4 Chất thải rắn 21
3.5 Ô nhiễm mùi 22
CHƢƠNG 4: KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TRONG TOÀN BỘ QUY TRÌNH SẢN XUẤT MÍA
ĐƢỜNG 22
4.1. Các phƣơng pháp xử lý nƣớc thải 22
3
CHƢƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề.
Ngành cơng nghiệp mía đƣờng là một trong những ngành cơng nghiệp chiếm vị trí
quan trọng trong nền kinh tế nƣớc ta.Trong năm 1998, cả nƣớc đã sản xuất đƣợc
700.000 tấn đƣờng, đáp ứng đƣợc nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc.Trong những năm
gần đây, do sự đầu tƣ cơng nghệ và thiết bị hiện đại, các nhà máy đƣờng đã khơng
ngừng nâng cao chất lƣợng sản phẩm.
Tuy nhiên nƣớc thải của ngành cơng nghiệp mía đƣờng ln chứa một lƣợng lớn
các chất hữu cơ bao gồm các hợp chất của cacbon, nitơ, phốtpho. Các chất này dễ bò
phân hủy bởi các vi sinh vật, gây mùi thối làm ô nhiễm nguồn nước tiếp nhận.
Phần lớn chất rắn lơ lửng có trong nước thải ngành công nghiệp mía đường ở
dạng vô cơ. Khi thải ra môi trường tự nhiên, các chất này có khả năng lắng và tạo
thành một lớp dày ở đáy nguồn nước, phá hủy hệ sinh vật làm thức ăn cho cá.Lớp
bùn lắng này còn chứa các chất hữu cơ có thể làm cạn kiệt oxy trong nước và tạo
ra các lọai khí như H
2
S, CO
2
, CH
4
. Ngoài ra, trong nước thải còn chứa một lượng
đường khá lớn gây ô nhiễm nguồn nước.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Kiểm sốt ơ nhiễm phát sinh trong tồn bộ quy trình sản xuất mía đƣờng của nhà
máy.
Đề xuất cơng nghệ xử lý nƣớc thải phù hợp.
Đƣa ra giải pháp khắc phục, giảm thiểu ơ nhiễm nhằm nâng cao lợi ích kinh tế và
ngành công nghiệp sản xuất đƣờng ở Châu Âu. Từ đó, sản xuất đƣờng đạt đƣợcnhiều
đột phá: từ khoảng 820,000 tấn vào đầu những năm đầu cách mang công nghiệp,đến
18 triệu tấn trƣớc chiến tranh thế giới I (1914 - 1918).
Hiện nay, trên thế giới, sản xuất đƣờng đạt khoảng 160 triệu tấn/năm. Các nƣớc
sản xuất đƣờng lớn trên thế giới là Brazil, Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc chiếm 50%
5
sản lƣợng và 56% xuất khẩu của thế giới. Theo báo cáo mới nhất từ Hiệp hội mía
đƣờng thế giới ISO, sau 2 năm nhu cầu tiêu thụ vƣợt tổng cung thế giới lên đến 15
triệu tấn, lƣợng đƣờng tồn kho đang ở mức rất thấp và phải cần ít nhất 2 năm để phục
hồi lại mức tồn kho trƣớc đây.
2.1.2 Nước ta
Ngành sản xuất đƣờng tại Việt Nam đã có từ lâu đời, từ khi ngƣời dân chúng ta
biết làm nên mật mía từ cây mía, nhƣng ngành công nghiệp mía đƣờng tại Việt Nam
chỉ mới bắt đầu phát triển vào đầu những năm 1990, vẫn còn rất non trẻ và khá lạc
hậu. Cho đến giai đoạn hiện nay ngành mía đƣờng tại Việt Nam vẫn chƣa phát triển
mạnh để có thể trở thành ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế.Nƣớc ta sản xuất
3 loại đƣờng chính:
Đƣờng tinh luyện RE hay còn gọi là đƣờng cát trắng
Đƣờng vàng RS
Đƣờng xay (hay đƣờng thô)
Đặc trƣng của ngành mía đƣờng Việt Nam là có tính thời vụ, thƣờng chủ yếu thu
hoạch, vận chuyển và sản xuất trong thời gian khoảng 5 tháng (tháng 11 đến tháng 4
năm sau), sau đó tồn kho thành phẩm để bán cho các tháng còn lại trong năm. Vì vậy
nên chi phí tồn trữ hàng hóa này rất cao và giá thành sản phẩm khá cao. Hiện tại, sản
xuất đƣờng trong nƣớc mới chỉ đáp ứng đƣợc khoảng 70% nhu cầu tiêu thụ, phần còn
lại chủ yếu nhập khẩu từ Trung Quốc và Thái Lan.
Hiện nay cả nƣớc có khoảng 40 nhà máy sản xuất mía đƣờng đa số là nhà máy
quốc doanh. Các nhà máy lớn nhƣ là: nhà máy đƣờng Nghệ An Tatte & Lyle, nhà
máy đƣờng Sơn La, nhà máy đƣờng Biên Hòa, nhà máy đƣờng Lam Sơn, nhà máy
mía.
2.2.2. Công nghệ sản xuất đường saccharose từ mía (quy mô lớn - sản xuất
hiện đại)
7
2.2.2.1. Sơ đồ công nghệ. 8
2.2.2.2. Thuyết minh quy trình
2.2.2.2.1. Trích nước mía
Mục đích
Nhằm lấy kiệt lƣợng đƣờng trong cây mía.
Tiến hành trích nƣớc mía
Có 2 phƣơng pháp lấy nƣớc mía:
Phƣơng pháp ép( thực chất là ép có kết hợp với thẩm thấu nƣớc).
Phƣơng pháp khuếch tán( thực chất là khuếch tán kết hợp ép).
Phƣơng pháp ép
Ép khô: ép mía không cho nƣớc vào (không thẩm thấu), sản phẩm thu đƣợc là
nƣớc mía nguyên. Phƣơng pháp này hiệu suất lấy đƣờng thấp, đạt từ 92 – 95%,
nhƣng thuận lợi cho quá trình bốc hơi. Nó chỉ áp dụng ở các xe nƣớc mía, lò mía thủ
công, hoặc trong nhà máy nhƣng vào đầu vụ sản xuất và những lúc muốn kiểm tra
máy ép.
Ép ƣớt: ép mía có cho nƣớc sạch thẩm thấu vào bã. Gồm 3 phƣơng pháp nhỏ :
Ép thẩm thấu đơn: có cho nƣớc thẩm thấu vào bã nhƣng không cho nƣớc mía
loãng hoàn lƣu về giàn ép.
Ép thẩm thấu kép: có cho nƣớc thẩm thấu và có hoàn lƣu nƣớc mía loãng về giàn
ép theo nguyên tắc thẩm thấu kép theo nguyên tắc : nƣớc mía loãng đƣa về bã còn ít
đƣờng, nƣớc mía đặc hơn đƣa về bã còn nhiều đƣờng hơn.
Phƣơng pháp này cho sữa vôi vào nƣớc mía, nâng pH nƣớc mía từ (5,0 - 5,5) lên
(7,0 – 7,2) rồi mới gia nhiệt lên 105
0
C nhằm giảm sự chuyển hóa đƣờng. Lƣợng vôi
cho vào khoảng 0,5– 0,9 kg cho mỗi tấn mía.
Vôi hóa nóng
10
Nƣớc mía hỗn hợp (pH = 5,0 - 5,5) gia nhiệt lên 105
0
C rồi mới cho sữa vôi vào
nâng pH lên (7,0 – 7,2) để kết tủa.
Đối với phƣơng pháp vôi – nhiệt đƣờng saccharose ít bị chuyển hóa do nƣớc mía
đƣợc trung hòa trƣớc khi xử lý nhiệt, tuy nhiên lƣợng kết tủa và keo tụ ít. Ngƣợc lại,
ở phƣơng pháp nhiệt – vôi, lƣợng keo tụ, kết tủa thu đƣợc nhiều nhƣng nƣớc mía bị
gia nhiệt trong điều kiện pH thấp nên đƣờng saccharose bị chuyển hóa nhiều hơn.
Vôi hóa phân đoạn (vôi – nhiệt – vôi – nhiệt)
Phƣơng pháp này, pH và nhiệt độ nƣớc mía nâng lên từ từ, xen kẽ nhau.
Công đoạn gia vôi 1 nâng pH nƣớc mía lên (6,0 – 6,5) nhằm giảm sự chuyển hóa
đƣờng do pH thấp trƣớc công đoạn gia nhiệt 1. Đồng thời gia vôi sơ bộ tạo nhiều ion
Ca
2+
.
Gia nhiệt 1: nâng nhiệt độ dung dịch lên 90 – 100
0
C để tăng tốc độ phản ứng keo
tụ, kết tủa. Ngay sau đó, gia vôi lần 2 nâng pH dung dịch lên 7,2 – 7,5; ở pH này xảy
ra hàng loạt phản ứng keo tụ kết tủa và keo tụ.
Gia nhiệt 2 : nâng nhiệt độ dung dịch lên 103 – 105
0
3
, đồng thời trung hòa dịch đƣờng, tránh sự chuyển hóa đƣờng trong điều
kiện nhiệt độ cao và pH thấp.
Đây là phƣơng pháp phổ biến sản xuất đƣờng kính trắng, đƣờng thu đƣợc có chất
lƣợng cao. Tuy nhiên, đƣờng bị chuyển hóa nhiều do pH thấp nên thu hồi thấp.
Sunfit hóa kiềm nhẹ
Nƣớc mía hỗn hợp đƣợc gia nhiệt lên 70 – 75
0
C, và thêm sữa vôi vào nâng pH
dung dịch lên 8 – 8,3 để tạo nhiều nhân Ca
2+
. Sau đó tiến hành xông SO
2
làm giảm
pH đến 6,0 – 6,5. Trong điều kiện nhiệt độ cao và nhân Ca
2+
đã hình thành trƣớc,
phản ứng tạo kết tủa CaSO
3
xảy ra nhanh và mạnh mẽ.
Nƣớc mía sau khi xông SO
2
sẽ đƣợc trung hòa bằng sữa vôi, nhằm tạo thêm keo
ngƣng kết và thêm kết tủa CaSO
3.
.
Sản phẩm làm sạch bằng phƣơng pháp sunfit hóa kiềm nhẹ yêu cầu chất lƣợng
nguyên liệu cao hơn so với phƣơng pháp acid. Tuy nhiên, đƣờng ít bị chuyển hóa nên
thu hồi cao.
Phƣơng pháp carbonat hóa
Bx – nồng độ
thích hợp để chuẩn bị cho quá trình kết tinh đƣờng.
Các biến đổi của nguyên liệu
Nồng độ dung dịch tăng do sự bốc hơi nƣớc, saccharose bị caramel hóa gây sẫm
màu nƣớc đƣờng.
Ở nhiệt độ cao, saccharose dễ bị chuyển hóa thành đƣờng glucose và fructose.
Các đƣờng khử này lại bị phân hủy thành các chất màu và acid hữu cơ.Quá trình này
diễn ra nhanh hơn nếu dung dịch đƣờng có tính acid.
Một số chất không đƣờng trong quá trình cô đặc bị thủy phân tạo thành acid.
Sự tạo cặn trong thiết bị do một phần khoáng chƣa đƣợc loại bỏ.
Phƣơng pháp thực hiện
Quá trình cô đặc đƣợc thực hiện ngay sau quá trình lắng lọc. Do nồng độ đƣờng
trƣớc và sau quá trình cô đặc khác nhau nhiều nên để giảm bớt sự biến đổi của đƣờng
và tiết kiệm năng lƣợng, cần sử dụng thiết bị cô đặc nhiều nồi liên tiếp nhau. Hơi thứ
(hơi nƣớc do nƣớc mía bốc lên) của nồi trƣớc sẽ đƣợc tận thu làm hơi đốt của nồi
sau.
Trong quá trình cô đặc, nhiệt độ sôi của dung dịch đƣờng thay đổi theo áp suất,
nồng độ đƣờng saccharose và tinh độ của nƣớc mía hỗn hợp. Ngoài ra, trong các nhà
máy công nghiệp, cần lƣu ý đến tổn thất áp suất do áp suất thủy tĩnh gây ra bởi chiều
13
cao cột nƣớc. Điều này dẫn đến sự chênh lệch về điểm sôi giữa bề mặt và đáy cột
nƣớc. Do đó, cần duy trì ổn định chiều cao dung dịch đƣờng trong thiết bị. Tổn thất
nhiệt do đƣờng ống cũng là một vấn đề cần lƣu ý khi tính toán lƣợng cho quá trình cô
đặc. Thông thƣờng lấy tổn thất nhiệt của nồi trƣớc qua nồi sau là 1 – 1,5
0
C.
2.2.2.2.6. Kết tinh đƣờng
Khái niệm kết tinh
Là quá trình tách chất rắn hoà tan trong dung dịch dựa trên sự chuyển đổi trạng
độ c, bên ngoài lớp phim đó là dung dịch đƣờng đang cô đặc có nồng độ quá bão hoà
C > c. Trong quá trình kết tinh thì các phân tử đƣờng sẽ khuếch tán lên bề mặt tinh
thể có sẵn làm cho nó lớn lên khi nào còn sự chênh lệch nồng độ. Sự chênh lệch nồng
độ ( C – c ) – gradient nồng độ.
Tốc độ kết tinh:
Định nghĩa: Tốc độ kết tinh là số gam đƣờng kết tinh lên 1m
2
bề mặt tinh thể trong
thời gian 1 phút.
2.2.2.2.7. Phƣơng pháp nấu đƣờng
Phƣơng pháp nấu gián đoạn ( nấu từng mẻ )
Gồm 4 giai đoạn :
Giai đoạn 1: Cô đặc đầu
Cho nguyên liệu siro hoặc mật vào thiết bị kết tinh rồi cô đặc lên đến nồng độ quá
bão hoà mong muốn.
Giai đoạn 2: Khởi tinh ( Bắt đầu tạo ra nhân tinh thể )
Có 3 phƣơng pháp khởi tinh:
Phương pháp tự nhiên
15
Phương pháp kích thích
Phương pháp tinh chủng:
Giai đoạn 3 : Nuôi tinh
Dùng nguyên liệu để nuôi tinh thể lớn lên, vừa mở hơi cô đặc dung dịch đƣờng
non, vừa cho nguyên liệu vào. Chú ý giữ vững độ quá bão hoà để tránh sự tan hạt.
Nếu độ quá bão hoà giảm nhanh dẫn đến sự tan hạt hoặc nếu độ quá bão hoà tăng
nhanh quá sẽ sinh ra nguỵ tinh.
Giai đoạn 4
Sau khi tinh thể lớn đủ kích thƣớc, đã đạt yêu cầu ngƣời ta tiến hành cô đặc cuối,
Sấy đƣờng nhằm tách lớp nƣớc trên bề mặt hạt đƣờng, tăng thời gian bảo quan và
tạo độ bóng sáng cho thành phẩm.
2.2.3. Công nghệ sản xuất đường saccharose từ mía (quy mô nhỏ - sản
xuất truyền thống)
2.2.3.1. Sơ đồ công nghệ 2.2.3.2. Thuyết minh quy trình
2.2.3.2.1. Ép mía
17
Ngay khi mía đƣợc đem đi ép, ngƣời ta cắt chúng thành từng miếng nhỏ để
thuận tiện cho vệc thu nhận nƣớc mía ở chu trình ép sau đó. Thông thƣờng có 3
hay nhiều bộ nghiền 3 trục đƣợc sử dụng để ép nƣớc mía ra khỏi cây mía. Các
chất bã còn lại đƣợc tận dụng làm nhiên liệu cho lò hơi
2.2.3.2.2. Tinh chế nƣớc mía
Mục đích là nhằm loại bỏ tối đa các chất bã có trong nƣớc mía theo khả năng có
thể. Quá trình lọc đƣợc thực hiện nhờ đƣa SO2 vào, sau đó đƣa vôi vào và tiến hành
gia nhiệt. Độ pH đạt đƣợc là 8 - 8,5. Nƣớc mía ép đã xử lý hóa chất sẽ để lại một chất
kết tủa trong bình, chất kết tủa này sẽ đƣợc lọc qua bộ lọc chân không. Nƣớc mía
sạch thu từ bình và nƣớc mía thu từ bộ lọc chân không đƣợc trộn chung với nhau.
2.2.3.2.3. Chƣng cất
Nƣớc mía đƣợc cô đặc trong thiết bị chƣng cất chân không nhiều tầng để đạt đƣợc
lƣợng đƣờng saccarozo là 55 - 65%. Hơi nƣớc sử dụng đƣợc cung cấp từ lò hơi sử
dụng bã miá làm chất đốt.
2.2.3.2.4. Kết tinh đƣờng
Nƣớc ép cô đặc hay xi rô đƣợc đem cho tiếp tục chƣng cất đến khi bão hòa thành
3.1 Quá trình thất thoát nguyên, vật liệu trong khâu vận chuyển, bảo quản vật liệu.
Trong quá trình vận chuyển mía đƣờng từ đồng ruộng đến nhà máy cần phải đảm
bảo thuận tiện, nhanh nhất về mặt thời gian, để nâng cao lƣợng đƣờng trong mía bởi
mía thu hoạch sau 24 giờ chƣa đƣa vào nhà máy, chữ đƣờng trong mía sẽ giảm đáng
kể. Hiện nay tổn thất sau thu hoạch cây mía từ 10% đến 20%-30%. Ở Thái Lan,
Philippines, nhà nƣớc ƣu tiên việc chuyển nông sản nói chung, nhất là cây mía về nhà
máy càng sớm càng tốt để hạn chế thất thoát, lãng phí nguồn lực xã hội. Đồng thời
cũng xem xét cự li vận chuyển, hạn chế việc rơi vãi mía trên đƣờng vận chuyển, và
nhiều nguyên nhân khách quan khác dẫn đến việc thất thoát nguyên liệu.
Đƣờng sau khi sản suất thành phẩm cần bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh
tiếp xúp với ánh sáng mạnh nếu không đƣờng sẽ hút ẩm, không còn chất lƣợng tốt
khi lƣu thong trên thị trƣờng.
19
3.2 Nước thải
3.2.1 Các nguồn phát sinh nước thải trong quá trình sản xuất
Trong quá trình sản xuất nhà máy mía đƣờng dùng rất nhiều nƣớc có thể gấp 12 –
15 lần nguyên liệu ,do đó lƣợng nƣớc thải phát sinh ra rất nhiều ,đƣợc phân loại nhƣ
sau:
Nƣớc thải loại 1:
Là nƣớc thải từ các cột ngƣng tụ tạo chân không của các thiết bị ( bốc hơi, nấu
đƣờng ). Đây là loại nƣớc thải bị ô nhiễm rất nhẹ, thƣờng có trị số BOD5 thấp ( 20-
25mg/l ), SS = 30-50 mg/l, COD = 50-60 mg/l Lƣu lƣợng nƣớc thải loại này
thƣờng từ 0,97-1,2m3/ tấn mía
Nƣớc thải loại 2
Là nƣớc thải từ các nguồn nƣớc làm nguội máy, thiết bị trong dây chuyền sản xuất
của nhà máy.Theo nguồn nhiễm bẩn, nƣớc thải loại 2 bao gồm nƣớc làm nguội dầu (
nhiễm bẩn dầu nhớt ), nƣớc làm nguội đƣờng ( nhiễm bẩn đƣờng ) do không tránh
khỏi đƣợc những dò rỉ nhất định, nƣớc lam nguội máy, thiết bị khi thải ra sẽ bị nhiễm
bẩn ( dầu mỡ, đƣờng ) giá trị BOD5 thƣờng dao động từ 200-400mg/l.
2.900-11.000
730
Chất thải than
-
750-1.200
Nƣớc rửa xe các loại
-
15.000-18.000
Phần lớn chất rắn lơ lửng là chất vô cơ. Nƣớc rửa mía cây chủ yếu chứa các hợp
chất vô cơ. Trong điều kiện công nghệ bình thƣờng, nƣớc làm nguội, rửa than và
nƣớc thải từ các quy trình khác có tổng chất rắn lơ lửng không đáng kể. Chỉ có một
phần than hoạt tính bị thất thoát theo nƣớc, một ít bột trợ lọc, vải lọc do mục nát tạo
thành các sợi nhỏ lơ lửng trong nƣớc. Nhƣng trong điều kiện các thiết bị lạc hậu, bị
rò rỉ thì hàm lƣợng các chất rắn huyền phù trong nƣớc thải có thể tăng cao.
Các chất thải của nhà máy đƣờng làm cho nƣớc thải có tính axit. Trong trƣờng hợp
ngoại lệ, độ pH có thể tăng cao do có trộn lẫn CaCO
3
hoặc nƣớc xả rửa cột resin.
Ngoài các chất đã nói trên, trong nƣớc thải nhà máy đƣờng còn thất thoát lƣợng
đƣờng khá lớn, gây thiệt hại đáng kể cho nhà máy. Ngoài ra còn có các chất màu
anion và cation(chất màu của các axit hữu cơ, muối kim loại tạo thành) do việc xả
rửa liên tục các cột tẩy màu resin và các chất không đƣờng dạng hữu cơ(các axit hữu
cơ), dạng vô cơ(Na
2
O, SiO
2
, P
2
O
, tro và khí
than. Trong mía không có các kim loại nặng và chất độc hại, chủ yếu là lƣợng khí
than thải vào không khí.
Hơi của lò đốt lƣu huỳnh khi gặp sự cố có thể thoát 1 phần ra ngoài. Khí SO
2
rất
độc cho ngƣời, hấp thụ hơi nƣớc tạo thành axit H
2
SO
4
gây ăn mòn các bề mặt kim
loại.
Sự tỏa hơi của nƣớc mía có chứa một lƣợng đƣờng nhỏ phát tán vào không khí và
bụi đƣờng ở các công đoạn sàng, đóng bao
3.4 Chất thải rắn
Rỉ đƣờng: sản phẩm phụ của sản xuất đƣờng. Lƣợng mật thƣờng chiếm 5% lƣợng
mía ép, mật rỉ sử dụng để sản xuất cồn, sản xuất mì chính, nấm men
Bã mía: chiếm 26,8% - 32% lƣợng mía ép, với lƣợng ẩm khỏang 50%. Phần chất
khô khoảng 46% Zenluloza và 24,6% Hemizenluloze
Các nhà máy đƣởng sử dụng bã mía làm nhiên liệu đốt lò hơi và chạy máy phát
điện. Bã mía còn đƣợc sử dụng làm nhiên liệu sản xuất giấy, ván ép
22
Bùn lọc: là cặn thải của công đoạn làm trong nƣớc mía thô. Bùn có độ ẩm 75 -
77% chiếm 3,82 - 5,07% lƣợng mía ép
Tro lò hơi: chiếm 1,2% lƣợng bùn mía. Thành phần chính của tro là SiO 2 chiếm
71 - 72%. Ngoài ra còn có Fe
2
O
3
nƣớc thải có thời gian tự phân hủy từ 70-150 ngày BOD của nƣớc thải từ 190-1015
ppm sẽ giảm xuống từ 10-15 ppm. Đây là phƣơng pháp xử lý đơn giản tuy nhiên đòi
hỏi tốn nhiều thời gian và có diện tích đất rộng, do đó chỉ phù hợp với nhà máy
đƣờng đặt ở xa khu dân cƣ, hoang vắng, đất rộng, ngƣời thƣa.
4.1.3. Hồi lưu nước thải
Nƣớc thải loại 1 (từ các cột ngƣng tụ tạo chân không thùng quay: giàn bốc hơi, nồi
nấu đƣờng, máy lọc chân không thùng quay, có BOD=<30 ppm) đƣợc cho quay trở
23
lại nhà máy để tái sử dụng, tuần hoàn cho các quá trình công nghệ khác. Đôi khi áp
dụng phƣơng pháp hồi lƣu để tái sử dụng nƣớc thải loại 2 (nƣớc làm nguội máy). Tuy
nhiên có nhƣợc điểm là các chất bẩn trong nƣớc thải do không đƣợc xử lý nên sẽ làm
ảnh hƣởng đến sự truyền nhiệt của máy móc thiết bị. Phƣơng pháp này không thể áp
dụng cho nƣớc thải loại 3 (nƣớc vệ sinh, nƣớc thải sinh hoạt, nƣớc xả đáy lò hơi…).
Phƣơng pháp này thích hợp cho các nhà máy đƣờng gặp phải khó khăn về nguồn
nƣớc cấp.
4.1.4. Lọc nước thải
Để xử lý triệt để nƣớc thải, một số nhà máy sử dụng phƣơng pháp lọc nƣớc thải.
Nƣớc thải có thể lọc bằng cát hoặc lọc bằng đất Diatonic. Ở nƣớc ta, một số nhà máy
đƣờng có hệ thống xử lý nƣớc thải với các công nghệ khác nhau: Bằng bể UASB
(Nhà máy đƣờng Bình Dƣơng, Cam Ranh ); kết hợp yếm - hiếu khí ( Việt Trì, Ninh
Hòa ); UASB - hiếu khí - lọc sinh học (Nông Cống); hồ sinh học (Lam Sơn, An Khê,
Kontum ); xử lý hiếu khí (Nhà máy đƣờng Bình Định). Ngoài ra vấn đề tiếng ồn
cũng cần phải đƣợc quan tâm: tiếng ồn do máy móc hoạt động và do xe cộ đi lại gây
ảnh hƣởng trực tiếp tới sức khỏe công nhân và dân cƣ xung quanh, gây tâm lý khó
chịu làm giảm năng xuất lao động. Cần phải bôi trơn máy móc, lắp đệm chống ồn,
phân khu tiếng ồn và trang bị bảo hộ, chống ồn cho công nhân. Thiết bị không đƣợc
phép gây tiếng ồn vƣợt trị số 90 dB trong khu vực sản xuất công nghiệp theo TCVN.
Trồng cây xanh, thảm cỏ ven đƣờng, vỉa hè để hấp thụ tiếng ồn, bụi, khí CO2, SO2,
tạo bóng mát và nguồn cung cấp O2.
Giảm nƣớc thải
4.3.2 Giảm tiêu thụ điện
+ Các nguyên nhân làm cho sử dụng điện tăng
Ý thức sử dụng của công nhân chƣa cao,dùng các thiết bị điện trong khi sản
xuất và sau khi hết ca ra về hay không tắt các thiết bị dùng điện
Sử dụng đèn sợi đốt,sử dụng quạt cũ.
4.3.3 Giảm tiêu thụ than
+ Các nguyên nhân gây ra tổn thất than cao
Than có độ ẩm cao ,lƣợng gió dƣ trong lò cao
Kích thƣớc của than không đồng đều
Chất lƣợng than thấp do chứa nhiều tạp chất
Hệ thống bảo ôn kém
+ Các giải pháp khắc phục:
Che chắn than tránh khi trời mƣa làm ẩm than và mất chất bốc,kiểm soát độ ẩm
của than khi nhập nhiên liệu,kiểm soát đúng lƣu lƣợng gió cấp đúng yêu cầu kĩ
thuật,kiểm soát kích thƣớc than trƣớc khi đƣa vào lò,mua than chất lƣợng tốt hơn,cải
tạo lại lò cũ để quá trình cháy đạt hiệu suất cao hơn,tăng cƣờng hệ thống bảo ôn các
hệ thống gia nhiệt
4.4. Kế hoạch giám sát môi trường