MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin mà ở đó khối
lượng tri thức của loài người tăng lên với tốc độ cực kỳ nhanh chóng. Người
ta tính được sau 10 năm thì lượng tri thức tăng lên gấp đôi. Đứng trước thực
tế này, GD nhà trường đã có những thay đổi căn bản: từ quan niệm học tập
chỉ trong một thời gian nhất định bằng quan niệm: “học thường xuyên, học
liên tục, học suốt đời”. Để có thể học tập suốt đời đạt hiệu quả, đương nhiên
mỗi người phải lựa chọn cho mình một cách phù hợp nhất, lấy tự học làm nền
tảng.
Việt nam đang bước vào giai đoạn CNH – HĐH với mục tiêu đến năm
2020 sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp. Nhân tố quyết định thắng lợi của
cuộc CNH – HĐH là con người là nguồn lực người Việt Nam được phát triển
về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao. Để làm
được điều này giáo dục Việt Nam đang phải đứng trước một bài toán: phải đổi
mới một cách toàn diện từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp và phương
tiện dạy học. Về PPDH, nghị quyết TW2 khóa WIII (12/1996) đã chỉ rõ:
“phải đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD – ĐT, khắc phục lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng
các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học
(QTDH), đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu, tự giải quyết
vấn đề, phát triển năng lực thực hành sáng tạo cho người học, …”
Để thực hiện nhiệm vụ đó, trong quá trình dạy học các môn học ở nhà
trường, bên cạnh việc đổi mới nội dung, vận dụng các phương pháp dạy học
mới cần bồi dưỡng cho sinh viên kỹ năng tự học, tự nghiên cứu góp phần
nâng cao chất lượng dạy học. Bởi tự học là con đường phát triển nội lực của
mỗi cá nhân, là động lực chính của quá trình giáo dục và đào tạo.
Ở nhà trường sư phạm, Giáo dục học là môn khoa học (cũng là môn
nghiệp vụ) quan trọng giúp sinh viên rèn luyện nghiệp vụ của người giáo
viên, những kỹ năng sư phạm, hình thành ý thức đạo đức và tình cảm nghề
nghiệp. song việc giảng dạy môn giáo dục học trong nhà trường sư phạm còn
4. Giả thuyết khoa học.
Hiện nay chất lượng tự học môn GDH của SV người dân tộc ở trường
CĐSP Gia Lai còn thấp. Nếu trong quá trình dạy học, giảng viên sử dụng một
cách đồng bộ, toàn diện, có hệ thống các biện pháp tổ chức tự học trên lớp
cho sinh viên như lập kế hoạch bài dạy, tổ chức thực hiện bài dạy trên lớp
theo quy trình hợp lý, có kế hoạch và công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả học
tập phù hợp với đối tượng và bồi dưỡng rèn luyện cho sinh viên những kỹ
năng tự học cơ bản (nhất là kỹ năng đọc sách ở nhà) thì chất lượng tự học
môn GDH của SV người dân tộc trường CĐSP Gia Lai sẽ được nâng cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động tự học của học sinh, sinh viên.
5.2. Nghiên cứu thực trạng hoạt động tự học môn GDH của snh viên
người dân tộc ở trường CĐSP Gia Lai .
5.3. Đề ra biện pháp nhằm nâng cao chất lượng tự học môn GDH cho
sinh viên người dân tộc ở trường CĐSP Gia Lai.
6. Phạm vi nghiên cứu.
Vì điều khách quan cũng như trình độ của bản thân nên đề tài chỉ tập
trung nghiên cứu hoạt động tự học môn GDH của sinh viên người dân tộc
trường CĐSP Gia Lai.
7. Phương pháp nghiên cứu.
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
Trong đề tài này tôi sử dụng các phương pháp như phân tích, tổng hợp,
khái quát hóa, hệ thống hóa các nguồn tài liệu để nhằm mục đích xây dựng cơ
sở lý luận cho đề tài nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp quan sát sư phạm.
Quan sát hoạt động học tập của sinh viên trong mối quan hệ với hoạt
động giảng dạy của giảng viên, hoạt động học tập của sinh viên (khu ký túc
xá) để tìm hiểu hoạt động tự học của sinh viên ( cách đọc sách, cách học, lập
kế hoạch, trao đổi với bạn…)
sinh của mình rằng: “Không giận thì không muốn biết vì không gợi mở cho,
không bực vì không bày vẽ thì không bày vẽ cho, một vật có bốn góc bảo cho
biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa [22; tr 60]
Từ những năm trước công nguyên, Xôcơrat(469 – 390 TCN) đã đưa ra
quan niệm nổi tiếng của mình: giáo dục phải giúp cho con người khẳng định
chính mình. Dựa vào quan điểm đó vào trong dạy học, ông cho rằng cần phải
để cho người học tự suy nghĩ, tự tìm tòi, giúp cho người học tự thấy cái sai
lầm của mình và tự khắc phục cái sai lầm đó. [22]
Cho đến mãi thế kỷ 17, ông tổ của nền giáo dục Cận đại –
J.A.Cômenxki (1592 – 1670) đã khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì
không trở thành nhân tài”. Theo ông thì dạy học phải làm thế nào để người
học tự tìm tòi, suy nghĩ từ đó mà nắm lấy bản chất của sự vật hiện tượng. Ông
cũng nghiên cứu về vấn đề quan điểm giáo dục “đánh thức năng lực nhạy
cảm, phán đoán của người học”, tìm ra phương pháp cho phép giáo viên giảng
ít hơn, học sinh học tập, làm việc nhiều hơn. Ông đề ra một số nguyên tắc dạy
học mà ngày nay vẫn có nhiều tác dụng nhằm phát huy tính tích cực học tập
của học sinh: Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong dạy học; Nguyên tắc
tôn trọng đặc điểm đối tượng; Nguyên tắc đi từ cái chung đến cái riêng… [1].
Dựa vào thành tự này của ông mà ngày nay được nhiều nhà giáo dục học xây
dựng thành hệ thống các nguyên tắc dạy học: Đảm bảo tính vững chắc của tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo và tình mềm dẻo của tư duy; Đảm bảo tính vừa sức
chung và vừa sức riêng trong dạy học; Đảm bảo tình thống nhất giữa cái cụ
thể và cái trừu tượng trong dạy học…
Các nước Đông Âu và Liên Xô (cũ) cũng có nhiều công trình nghiên
cứu về tự học như: N.A.RuBaKin (1862 – 1946) trong tác phẩm “ tự học như
thế nào” đã phân tích rõ mối quan hệ giữa “Tự học và đặc tính riêng của từng
người” đồng thời vạch ra các yếu tố giúp người học vượt qua khó khăn trong
quá trình học tập đó là phải có ý chí, có lòng đam mê học tập và đặc biệt là
phải có phương pháp tự học tốt.
Ngoài việc chỉ ra nguyên nhân dẫn đến người học gặp khó khăn trong
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước Tây Âu và Mỹ đã quan tâm
tới việc tìm ra phương pháp giáo dục mới dựa trên cơ sở tiếp cận “Lấy học
sinh làm trung tâm” mong muốn nhằm phát huy năng lực nội tâm và sáng tạo
của người học. Đại diện cho tư tưởng tiến bộ này là J.Dewey (1859 – 1925)
đã đề xướng “học sinh là mặt trời, xung quanh có quy tụ mọi phương tiện
giáo dục”. Từ đó mà một loạt các phương pháp đã được thực nghiệm theo tư
tưởng này là: Phương pháp hợp tác, phương pháp cá thể hóa và phương pháp
tích cực. Từ việc sử dụng các phương pháp dạy học này trên lớp mà vai trò
của giáo viên đã có bước thay đổi căn bản, họ trở thành người điều khiển,
trọng tài, tổ chức làm việc, giúp đỡ học sinh biết cách làm và cách học.
Vào những năm 30 của thế kỷ 20, T.Makiguchi (1871 – 1944) nhà sư
phạm xuất sắc Nhật Bản trong tác phẩm nổi tiếng của mình “giáo dục vì cuộc
sống sáng tạo”. Ông cho rằng: “giáo dục có thể coi là quá trình hướng dẫn tự
học mà động lực của nó là: Kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt tới
hạnh phúc của bản thân và cộng đồng”. [23; tr 19].
Năm 1986, hai nhà giáo dục Ấn Độ S.D.Sharma và Shakti R.Almed
trong tác phẩm “ dạy học ở đại học” đã nêu: Hoạt động tự học của sinh viên là
nội dung chính là quá trình điều khiển quá trình hoạt động tự học của sinh
viên một cách gián tiếp thông qua các nhiệm vụ nhận thức được thiết kế để
hoàn thành mục đích, nhiệm vụ dạy học được xác định. [21; tr79, 123].
Năm 1991 R.Roysinngh [20], Tác giả đã nghiên cứu vai trò của năng
lực tự học trong việc học tập thường xuyên và học tập suốt đời, đề cao vai trò
chuyên gia cố vấn của người thầy trong việc học tập thường xuyên, học tập
suốt đời trong việc hình thành phát triển năng lực tự học của người học.
Như vậy, vấn đề tự học trong lịch sử giáo dục đã được quan tâm, đề cập
và nghiên cứu từ lâu với nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau, song tựu
trung đều nhấn mạnh vai trò to lớn của tự học, tự nghiên cứu trong hoạt động
học tập của học sinh, sinh viên và nó vẫn là vấn đề được các nhà giáo dục
ngày nay đặc biệt quan tâm và nghiên cứu.
Ở Việt nam, hoạt động tự học cũng đã được quan tâm song vấn đề này
Hoành “Vị trí của tự học, tự đào tạo trong quá trình dạy học, giáo dục và đào
tạo”, Nguyễn Hiến Lê “Tự học một nhu cầu tất yếu của thời đại”…Bên cạnh
đó còn rất nhiều các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp
dưới sự hướng dẫn của các thầy cô giáo, các nhà khoa học trong khoa Tâm lý
giáo dục thuộc trường ĐHSP Hà nội và các nhà khoa học thuộc Viện khoa
học giáo dục Việt Nam.
Tất cả các công trình, nghiên cứu trên đều nhấn mạnh, khẳng định một
cách dứt khoát rằng tự học có ý nghĩa và vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự
hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người, là nhân tố trọng yếu nâng
cao chất lượng dạy và học, là yếu tố cơ bản để người học lĩnh hội tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo và hình thành thái độ mới.
Các tác giả rất coi trọng tới phương pháp tự học, kỹ năng tự học và việc
hình thành kỹ năng tự học cho học sinh, sinh viên vì nó được xem xét như là
nhân tố bên trong quan trọng để người học hoàn thành nhiệm vụ học tập.
Môi trường tự học cũng được coi là yếu tố bên ngoài tạo điều kiện quan
trọng giúp cho việc tự học đạt kết quả cao…
Như vậy vấn đề tự học đã được quan tâm tự rất lâu trong lịch sử giáo
dục và được nghiên cứu ở nhiều góc độ, cấp độ khác nhau cả trong và ngoài
nước đều khẳng định vai trò, vị trí, ý nghĩa và bản chất của hoạt động tự học
của học sinh, sinh viên và đưa ra các biện pháp để nâng cao chất lượng tự
học. Song trong thực tế thì việc tự học của học sinh, sinh viên chưa đáp ứng
được mong đợi của các nhà khoa học, các thầy cô giáo, các bậc làm cha mẹ
và đây đang là mối lo hàng đầu trong các trường học, cơ sở đào tạo và nhất là
các trường sư phạm Hơn nữa chưa có tác giả nào nghiên cứu về biện pháp
nâng cao chất lương hoạt động tự học cho sinh viên người dân tộc ở trường
CĐSP Gia Lai. Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm tìm ra các biện pháp nâng cao
chất tự học cho sinh viên dân tộc thiểu số trong trường sư phạm là việc rất cần
thiết.
1.2. Khái niệm về hoạt động tự học.
Với việc tìm hiểu, sưu tầm, tìm tòi và bằng kinh nghiệm học hỏi của bản
tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có
chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa
học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi…) để chiếm lĩnh một
lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của
mình” [25; tr 59, 60]
- Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học đại học”
thì “Tự học là một hình thức tổ chức cơ bản ở đại học. Đó là một hình thức
hoạt động nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ
năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp , hoặc
không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định” [9; tr 174].
- Theo Phan Thị Hồng Vinh trong cuốn “Phương pháp dạy học Giáo dục học”
thì “Tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của sinh viên do sinh viên
tự thực hiện trong thời gian tự học trên lớp hay ngoài lớp” [32tr 170].
- Theo Trịnh Quang Từ: “Tự học là quá trình độc lập, nỗ lực tìm tòi, khám
phá tri thức của sinh viên dưới sự tổ chức và điều khiển gián tiếp của giáo
viên nhằm củng cố, mở rộng, đào sâu những tri thức đã lĩnh hội qua các hình
thức lên lớp có giáo viên điều khiển trực tiếp…” [28; tr 23].
- Theo Nguyễn Thị Tính: “Tự học là một quá trình, trong đó dưới vai trò chủ
đạo của giáo viên, người học tự mình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
thông qua các hoạt động trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, phán
đoán…) và cả các hoạt động thực hành (khi phải sử dụng các thiết bị đồ dùng
học tập). Tự học gắn liền với động cơ, tình cảm và ý chí …của người học để
vượt qua chướng ngại vật hay vật cản trong học tập nhằm tích lũy kiến thức
cho bản thân người học từ kho tàng tri thức của nhân loại, biến kinh nghiệm
này thành kinh nghiệm và vốn sống của cá nhân người học” [24; tr 17].
Từ những nghiên cứu, công trình khoa học trên của các tác giả, nhà
khoa học cho thấy hoạt động tự học được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác
nhau song tựu chung các tác giả đều có nhìn nhận chung về hoạt động tự học
với bản chất là quá trình nhận thức tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri
thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho chính người học.
lượng và hiệu quả của của quá trình học tập của bản thân hay quá trình trình
đào tạo của nhà trường. Mọi tác động về nội dung, phương pháp và hình thức
tổ chức dạy học đều hướng vào mục đích là làm sao để phát huy nỗ lực, năng
lực nội sinh của mỗi người học thì mới đem lại hiệu quả. Sinh viên không
những là đối tượng tác động của giáo viên mà còn là chủ thể tích cực, sáng
tạo trong quá trình dạy học – đó chính là sự nhận thức độc đáo có tính chất
nghiên cứu của sinh viên bậc đại học. Chính việc chủ động, tích cực, sáng tạo,
độc lập của mình, sinh viên sẽ giải quyết được mâu thuẫn bên trong cơ bản
của quá trình dạy học luôn đặt ra. Mâu thuẫn luôn đặt ra, học sinh không
ngừng giải quyết từ đó mà tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, năng lực nhận thức …
của sinh viên không ngừng được nâng lên và hoàn thiện, nhờ vậy mà sinh
viên không ngừng thích ứng được với những đòi hỏi không ngừng của xã hội.
Tự học còn là hình thức hoạt động có tính chất cá nhân, do bản thân
người học nỗ lực thực hiện ở trên lớp hay ngoài lớp hoặc diễn ra khi học sinh
còn ngồi trên ghế nhà trường hay trong suốt cuộc đời. Cho nên “tự học là hoạt
động độc lập của học sinh - sinh viên diễn ra song song với quá trình dạy
học, có liên hệ mật thiết với quá trình này. Có lúc không bám sát chương trình
hay sách giáo khoa, tự đề thêm nhiệm vụ, sử dụng thêm tài liệu lý luận và
thực tiễn tùy theo hứng thú khoa học và nghề nghiệp, tùy theo hứng thú và
khả năng, tùy theo trình độ nhận thức của bản thân về nhiệm vụ, cuối cùng
tùy theo thói quen làm việc của mỗi cá nhân.
1.3. Vai trò, vị trí của hoạt động tự học.
Ở bất kỳ hoạt động học nào thì giáo viên luôn giữ một vai trò quan
trọng đặc biệt không thể thiếu được đó là: Người tổ chức, điều khiển, hướng
dẫn, chỉ đạo hoạt động học tập của sinh viên. Qua thực tế cho thấy, dù giáo
viên có kiến thức uyên thâm đến đâu, phương pháp giảng dạy hay đến mấy
nhưng học sinh lại không đầu tư thời gian, công sức lao động cá nhân, không
có niềm khao khát, say mê với tri thức, không có kế hoạch và phương pháp
học tập hợp lý, không có sự tự giác, tích cực học tập thì việc học tập chẳng
thể đạt được kết quả như mong muốn.
hiểu tri thức” [29; tr 100]. Như vậy, chính hoạt động tự học sẽ trang bị tri thức
cho người học phục vụ cho quá trình học tập.
- Tự học giúp sinh viên nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và nghề nghiệp
trong tương lai. Chính trong quá trình tự học mà giúp sinh viên từng bước
biến vốn hiểu biết, kinh nghiệm của loài người thành vốn hiểu biết, kinh
nghiệm riêng của cá nhân. Hoạt động tự học đã tạo điều kiện cho sinh viên
hiểu sâu tri thức, mở rộng kiến thức, củng cố và ghi nhớ vững chắc tri thức,
biết vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập.
- Tự học không những giúp sinh viên không ngừng nâng cao chất lượng và
hiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn giúp họ có được
hứng thú, thói quen và phương pháp tự học thường xuyên để làm phong phú
thêm, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của bản thân. Giúp họ tránh được sự lạc
hậu trước sự biến đổi không ngừng của khoa học và công nghệ trong thời đại
ngày nay.
- Tự học, thường xuyên, tích cực, tự giác, độc lập không chỉ không chỉ giúp
sinh viên mở rộng, đào sâu kiến thức mà còn giúp họ hình thành nên những
phẩm chất trí tuệ và rèn luyện nhân cách của mình. Tạo cho họ có nếp sống và
làm việc một cách khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, óc
phê phán, lòng say mê nghiên cứu khoa học.
- Trong quá trình học tập ở bậc đại học, nếu bồi dưỡng được ý chí và năng lực
tự học cần thiết thì sẽ khơi dậy được tiềm năng to lớn vốn có trong họ, tạo nên
động lực nội sinh của quá trình học tập, vượt lên mọi khó khăn, trở ngại bên
ngoài, khả năng tự học chính là nhân tố nội lực, nhân tố quyết định chất lượng
đào tạo.
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp vai trò của giáo viên
và tập thể học sinh trong nhà trường, các lực lượng này có tác dụng lớn trong
việc động viên, khuyến khích, hướng dẫn sinh viên tự học một cách đúng
hướng và hiệu quả.
Ngoài ra, tự học còn có vai trò trong việc giáo dục tình cảm và những
phẩm chất đạo đức của bản thân người học. Bởi học sinh – sinh viên không
nhiệm vụ của quá trình tự học đối với người học.
Qúa trình tự học là quá vận động của người học từ chỗ chưa biết đến
chỗ biết và ngày càng đầy đủ, sâu sắc, hoàn thiện hơn. Từ chỗ nắm tri thức
đến chỗ hình thành vững kỹ năng, kỹ xảo ngày càng ở mức độ cao hơn. Từ
chỗ vận dụng những điều đã học vào tình huống quen thuộc đến chỗ vận dụng
dụng chúng vào những tình huống mới trên cơ sở đó ngày càng hoàn thiện các
năng lực và phẩm chất đạo đức, trí tuệ, thế giới quan khoa học và các phẩm
chất đạo đức khác.
Cơ sở có tính chất phương pháp luận của hoạt động tự học là quan điểm
về bản chất hoạt động của con người. Vì theo TLH hoạt động có vai trò quyết
định trực tiếp đến sự hình thành phát triển nhân cách. Điều này đã được
C.Mác khẳng định: “Sự hình thành con người không chỉ là kết quả của những
tác động bên ngoài mà là một quá trình hiện thực khách quan của sự thay đổi
tự chuyển hóa” [15; tr78].
Như vậy, hoạt động tự học tất yếu đòi hỏi phải có sự nỗ lực tích cực và
tự điều chỉnh hành vi của bản thân, hoạt động đó sẽ đem lại hiệu quả cao, khi
tính mục đích trở thành một phẩm chất độc lập của nhân cách gắn liền với
việc xây dựng ý chí, niềm tin của quá trình hoạt động của họ.
Vậy yếu tố nào thúc đẩy hoạt động tự học của học sinh – sinh viên?
Qúa trình tự học cũng giống như quá trình dạy học đều có động lực là kết quả
của việc giải quyết các mâu thuẫn vốn có trong quá trình tự học của người
học. Trong quá trình đó phải kể đến mâu thuẫn cơ bản đó là mâu thuẫn giữa
một bên là yêu cầu, nhiệm vụ nhận thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo tự học
được đề ra với một bên là trình độ, khả năng hiện có của người học. Giải
quyết được mâu thuẫn này trong quá trình tự học sẽ giúp cho người học phát
triển về mặt nhận thức nói riêng và nhân cách nói chung. Từ đó có thể thấy
thực chất hoạt động tự học của học sinh – sinh viên là quá trình học tập, một
quá trình nhận thức không có sự điều khiển trực tiếp của giáo viên mà chỉ tổ
chức hướng dẫn một cách gián tiếp hoạt động cho học sinh. Đó là một quá
trình học tập vất vả hơn nhiều so với quá trình học tập có sự lãnh đạo, điều
tạo. Tùy theo mức độ huy động các chức năng tâm lý trong quá trình nhận
thức mà có những mức độ khác nhau của tính tích cực, thể hiện từ thấp đến
cao.
Mức độ thấp: thể hiện sự tái hiện, bắt chước.
Mức độ thể hiện sự tìm tòi trong nhận thức.
Mức độ thể hiện sự sáng tạo trong nhận thức.
- Tính độc lập trong nhận thức: Được thể hiện ở khả năng giải quyết vấn đề
một cách tự chủ, độc lập, luôn tìm phương pháp mới để nắm tri thức. Đó là
khả năng vận dụng tri thức đã biết vào những hoàn cảnh mới để nắm tri thức
mới, củng cố và mở rộng kiến thức đã học. Tính độc lập trong quá trình nhận
thức được biểu hiện ở trong suy nghĩ đó là khả năng tự nhận xét, phán đoán,
suy luận trước những ý kiến của người khác tự mình tiến hành các thao tác tư
duy để lĩnh hội tri thức không phụ thuộc vào ý kiến của người khác, diễn đạt
những vấn đề lĩnh hội theo quan điểm của mình và được thể hiện cả trong
hành động.
Như vậy, tính độc lập nhận thức của học sinh là hoạt động có hệ thống
trên lớp và ngoài lớp để tự mình tìm tòi tri thức, nêu ra vấn đề, giải quyết vấn
đề và tự bản thân kiểm tra kết quả, hoàn thành một cách sáng tạo nhiệm vụ
nhận thức.
- Tính sáng tạo trong hoạt động nhận thức: Là mức độ cao của tính tích cực và
tính độc lập. Tính sáng tạo là thái độ tích cực cải tạo của chủ thể đối với
khách thể, là sự thống nhất của quá trình hoạt động trí tuệ, ý chí và tình cảm
của con người nhằm hoàn thiện và sáng tạo ra một hoạt động, một sản phẩm
nào đó. Tính sáng tạo được thể hiện ở nhu cầu khao khát tìm tòi, khám phá
bản chất của sự vật, hiện tượng cần nghiên cứu, muốn vận dụng những
phương pháp mới để khắc phục khó khăn trong quá trình lĩnh hội tri thức, tìm
ra những giải pháp mới, yếu tố mới trong quá trình hoàn thiện bài học, đảm
bảo chất lượng tối ưu trong quá trình học tập. Tính sáng tạo có liên quan mật
thiết với năng lực tư duy sáng tạo trong quá trình nhận thức, đó là năng lực
tìm thấy vấn đề mới, phát triển cái mới, tự di chuyển tình huống, sáng tạo ra
đầu từ vệc lập kế hoạch học tập đến việc tổ chức thực hiện kế hoạch (Sử dụng
thời gian, phương pháp, các hình thức tự học cho phù hợp giữa nghe giảng,
ghi chép, đọc sách…tự kiểm tra, đánh giá quá trình đó)
Từ đó có thể nói, Tự học là một quá trình bao gồm các khâu như sau:
- Xây dựng kế hoạch .
Tổ chức hoạt động tự học theo kế hoạch đã đề ra, thể hiện ở sự lựa
chọn, sử dụng những hình thức và phương pháp tự học một cách hợp lý, chú ý
đến tính đặc thù của mô học và đặc điểm tâm lý riêng của mỗi cá nhân người
học. Việc sử dụng các hình thức tự học thể hiện tính chủ động, tính tích cực,
sáng tạo của người học. Ngoài thời gian ở trên lớp, học sinh – sinh viên cần
sử dụng các hình thức tự học khác nhau để hoàn thiện tri thức của mình.
- Khâu cuối cùng của hoạt động tự học, là quá trình tự kiểm tra, đánh giá quá
trình học tập của bản thân. Khâu này có ý nghĩa quan trọng giúp người học
thấy được khả năng nắm tri thức, và qua đó thấy được mặt mạnh, mặt yếu của
bản thân để kịp thời điều chỉnh quy trình học tập cho phù hợp.
Người học thực hiện tốt được những điều kiện trên thì sẽ tận dụng triệt
để thời gian, không ngừng nâng cao tri thức của bản thân, rèn luyện tác phong
làm việc nghiêm túc, khoa học để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.
Như vậy, hoạt động tự học của học sinh – sinh viên tại các trường Cao
đẳng, Đại học thực chất là hoạt động nhận thức thế giới quan có tính chất
nghiên cứu dưới sự hướng dẫn, điều khiển của giáo viên. Hoạt động đó đòi
hỏi người học phải phát huy cao độ tính tích cực, độc lập, chủ động, độc lập,
sáng tạo của bản thân. Có như vậy mới tiếp thu được những kinh nghiệm của
xã hội loài người và như thế nhân cách không ngừng được phát triển.
1.5. Mối quan hệ giữa giáo viên và sinh viên trong quá trình tự học.
Như chúng ta đã biết,quá trình dạy học là quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ
chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, chủ động tích cực tự
tổ chức, tự điều khiển quá trình nhận thức của mình nhằm thực hiện các
nhiệm vụ học tập.
Trong quá trình dạy học, hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học
trọng là phải biết lựa chọn và đặt ra cho người học những mục tiêu vừa đảm
bảo cho sự trưởng thành về nhận thức và sự tự tin về mức độ tiến bộ của họ.
J.A.Cômenxki – ông tổ của nền giáo dục cận đại đã khẳng định rằng: “Giảng
dạy không phải chỉ cung cấp cho học sinh những châm ngôn, ý kiến của nhiều
tác phẩm, tác giả mà là khơi dậy ở học sinh lòng ham hiểu biết để như từ một
thân cây đâm ra nhiều cành lá hoa trái sum xuê” . Làm như vậy giáo viên đã
kích thích cho người học hứng thú, nhu cầu tự học, phát triển năng lực sáng