TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
BÁO CÁO MÔN: TỔNG QUAN DU LỊCH
CÁC TÁC ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA DU
LỊCH
Danh sách nhóm “Hải đường”
1. Nguyễn Văn Chiến 10157022 DH10DL
2. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh 10157057 DH10DL
3. Võ Châu Việt Khuê 10157080 DH10DL
4. Nguyễn Thị Cẩm Lệ 10157085 DH10DL
5. Bùi Hữu Long 10157095 DH10DL
6. Lê Thị Kim Ngân 10157119 DH10DL
7. Lê Thị Mỹ Nhung 10157137 DH10DL
8. Nguyễn Thị Thu Thân 10157175 DH10DL
9. Huỳnh Thị Huyền Trân 10157212 DH10DL
I. TÁC ĐỘNG CỦA DU LỊCH ĐẾN KINH TẾ-XÃ HỘI.
A. VỀ MẶT KINH TẾ.
1.Đối với du lịch nội địa :
- Du lịch tham gia tích cực vào qúa trình tạo nên thu nhập quốc dân( sản xuất ra đồ lưu
niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng các cơ sở vật chất kĩ thuật…) làm tăng tổng sản
phẩm quốc nội.
- Tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng.
- Bên cạnh đó, du lịch nội địa phát triển tốt sẽ củng cố sức khỏe cho nhân dân lao động và
do vậy góp phần làm tăng năng suất lao động xã hội. Ngoài ra du lịch nội địa giúp cho
việc sử dụng cơ sở vật chất kĩ thuật của du lịch quốc tế được hiệu quả hơn.
2. Đối với du lịch quốc tế chủ động:
a - Du lịch tham gia tích cực vào việc làm tăng thu nhập quốc dân thông qua thu ngoại
tệ, đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.
Dịch vụ du lịch có giá trị xuất khẩu cao và hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất trong
các hoạt động xuất khẩu dịch vụ đặc biệt là theo góc độ thu ngoại tệ và thu hút lao động,
tạo công ăn việc làm. Xuất nhập khẩu dịch vụ có ảnh hưởng lớn đến cán cân thanh toán
vốn đầu tư vào du lịch và khách sạn vào gần 406 triệu USD, chiếm khoảng 1/5 tổng vốn
được cấp của tất cả các ngành kinh tế (2.75 tỷ). Hàng loạt các dự án đầu tư xây dựng
khách sạn, khu du lịch có quy mô và chất lượng cao tại các trung tâm du lịch lớn của
nước ta đã được cấp phép như dự án khu nghỉ mát đa năng Đan Kia - Suối Vàng thuộc
thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng do bốn tập đoàn đầu tư lớn của Nhật Bản là Mitsui,
Mitsubishi, Sumitomo và Limtec liên doanh đầu tư. Đây là dự án rất lớn với số vốn đầu
tư lên tới 1,2 tỷ USD; dự án của tập đoàn Rockingham (Hoa Kỳ) đầu tư vào đảo Phú
Quốc với tổng số vốn đầu tư 1 tỷ USD; tập đoàn Keangnam (Hàn Quốc) triển khai thực
hiện xây dựng tổ hợp khách sạn 5 sao, trung tâm thương mại, văn phòng, căn hộ cao cấp
trên diện tích 4.6ha tại khu Cầu Giấy; tập đoàn Riviera (Nhật Bản) đầu tư xây dựng
khách sạn 5 sao tại vị trí sát trung tâm Hội Nghị Quốc Gia. Tại khu vực miền Trung, tập
đoàn Banyan Tree (Singapo) đã nhận giấy phép đầu tư 276 triệu USD xây dựng khách
sạn 5 sao, nhà hàng, sân golf tại khu kinh tế Chân Mây ( Thừa Thiên Huế); tập đoàn
Indochina Capital đầu tư xây dựng khu du lịch biển 5 sao Ngũ Hành Sơn với 250 phòng,
150 căn hộ cao cấp và 40 biệt thự cùng nhiều dịch vụ giải trí cao cấp khác với tổng số
vốn đầu tư 80 triệu USD trên diện tích 20ha ; Tập đoàn Winvest LLC (Mỹ) cũng đã nhận
giấy phép đầu tư khu du lịch 5 sao Saigon Atlantic tại Vũng Tàu với số vốn đầu tư 300
triệu USD. Cũng tại Vũng Tàu, tập đoàn Plantium Dragon Empire đang khảo sát để đầu
tư dự án khu du lịch vui chơi giải trí với số vốn lên đến 550 triệu USD…Điều này đã góp
phần giải quyết tình trạng thiếu phòng khách sạn cao cấp ở các trung tâm du lịch lớn như
Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội, đặc biệt vào mùa cao điểm trong năm (điển hình như năm
APEC 2006). Năm 2006, Hà Nội đã đón hơn 3 triệu lượt khách quốc tế, tăng hơn 100%
so với năm 2000 nhưng số lượng phòng khách sạn so với năm 2000 chỉ tăng 35% (9.207
phòng lên 12.425 phòng). Hiện nay, Hà Nội còn 8 khách sạn 5 sao với 2.361 phòng, 6
khách sạn 4 sao với 992 phòng, 21 khách sạn 3 sao với 1.363 phòng.
Bên cạnh việc các tập đoàn nước ngoài đầu tư trực tiếp thì làn sóng đầu tư gián
tiếp vào lĩnh vực du lịch - dịch vụ cũng rất sôi động. Quĩ VinaLand đã mua 70% cổ phần
của Sofitel Metropole, khách sạn lâu đời, sang trọng và đắt khách nhất Hà Nội hiện nay.
Còn Quỹ VinaCapital cũng không chịu thua kém khi mua 52,5% cổ phần của khách sạn 5
sao Hilton Hà Nội vào tháng 7/2006, nâng tổng số cổ phần của Quỹ tại khách sạn này lên
f - Du lịch như đầu mối “xuất nhập khẩu” ngoại tệ, phát triển quan hệ ngoại hối quốc tế.
Hoạt động du lịch được đẩy mạnh và rộng khắp đã đem lại một hiệu quả thiết thực
về kinh tế. Chỉ tính riêng trong 9 tháng của năm 2000, Chương trình đã thực hiện xuất
khẩu tại chỗ ước đạt trên 800 triệu USD, tăng khoảng 150 triệu USD.
3. Đối với du lịch quốc tế thụ động.
Khác với du lịch quốc tế chủ động, du lịch quốc tế thụ động là một hình thức nhập
khẩu đối với đất nước có khách đi ra nước ngoài. Cái mà họ nhận được đó chính là các
“lợi ích vô hình”. Đó là nâng cao hiểu biết, học hỏi kỹ thuật mới, củng cố sức khỏe…của
người dân. Nhưng nếu đi với mục đích kinh doanh, du lịch quốc tế thụ động có tác động
gián tiếp đến nền kinh tế bởi nó là hình thức đem tiền đi tiêu nhưng họ có thể thu về là
bản hợp đồng đầu tư thu lợi nhuận ….
4. Các tác động khác về mặt kinh tế của việc phát triển hoạt động kinh doanh du lịch
nói chung :
a – Khu vực du lịch đã mang lại cho Việt nam cơ hội to lớn trong quá trình chuyển đổi từ
một nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp chuyển sang một nền kinh tế dựa vào dịch
vụ :
Nhiều gia đình dân tộc nghèo khó trước kia chỉ sống bằng nông nghiệp nay đã
được cải thiện đời sống nhờ du lịch. Cụ thể như, người dân tộc Hmông Sapa trước đây là
một đơn vị kinh tế thuần nông. Cơ cấu kinh tế truyền thống của Hmông ở Sapa gồm 3 bộ
phận cấu thành là trồng trọt (lúa, ngô, thảo quả), hái lượm và nghề thủ công, trong đó chủ
yếu là trồng trọt. Hầu hết mức sống, nguồn thu nhập của người làm nhờ vào trồng trọt và
chăn nuôi, còn nghề thủ công chỉ đóng vai trò phụ và luôn phụ thuộc vào trồng trọt nên
cuộc sống thiếu thốn nghèo khổ. Điều kiện trồng trọt lại khó khăn, đòi hỏi phải có nhiều
lao động. Sapa lại không có điều kiện để phát triển các ngành công nghiệp. Nhưng du
lịch phát triển, các làng Hmông có cảnh quan đẹp, giữ được bản sắc văn hóa trở thành
những điểm du lịch hấp dẫn. Do đó, đời sống kinh tế của người Hmông được cải thiện.
Họ chuyển sang sản xuất hàng thổ cẩm, đồ trang sức, dẫn khách du lịch thay vì làm
nông nghiệp như trước đây. Hiện nay, tỉ lệ gia đình người Hmông tham gia hoạt động du
lịch chiếm hơn 90%. Hay như ở bản Lác, một bản của người dân tộc Thái ở Mai Châu –
Hòa Bình. Từ một làng dân tộc bình thường, do nhận thấy tiềm năng và có định hướng
rộng, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tăng 22,8% so với cùng kỳ năm 2006.
e - Tận dụng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành kinh tế khác :
Hoạt động du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ của một số ngành sản xuất, do đó phát triển du
lịch sẽ mở mang và hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế của đất nước. Bên cạnh đó còn tận
dụng nguồn lực, điều kiện vật chất kỹ thuật để bổ sung cho nhu cầu cần thiết nhưng chưa
được đáp ứng của ngành. Ở những vùng phát triển du lịch, do nhu cầu đi lại, ăn uống,
nghỉ ngơi vui chơi, thông tin liên lạc, vận chuyển nên mạng lưới giao thông, cầu cống,
điện nước được hoàn thiện phục vụ nhu cầu du lịch ngày càng tăng. Ví dụ: để thuận tiện
cho việc đi lại và mở thêm tuyến đường giao thông nối giữa các tỉnh, nhà nước đã đầu tư
xây dựng cầu Yên Lệnh nối giữa Hưng Yên và Hà Nam. Ngoài việc đảm bảo an toàn, nó
còn giúp cho sự giao lưu buôn bán dễ dàng hơn, đi lại thuận tiện giúp cho hoạt động du
lịch hai tỉnh ngày càng tăng bên cạnh sự phát triển ngành giao thông vận tải.
B. VỀ MẶT XÃ HỘI
1. Du lịch góp phần giải quyết việc làm cho nhân dân điạ phương:
Du lịch với tính chất là ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng và
xã hội hóa cao, du lịch phát triển sẽ tạo nhiều công ăn việc làm cho lao động nông thôn
mà không cần phải đào tạo công phu, từ đó góp phần từng bước nâng cao tích lũy và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Hiện nay tỷ lệ hộ kinh tế làm dịch vụ trong nông
thôn mới chỉ chiếm 11,2%. Tiếp tục khuyến khích phát triển mạnh thêm du lịch sẽ giúp
cho nông thôn giải quyết hàng loạt vấn đề: tạo công ăn việc làm, nâng cao dân trí, phát
triển kết cấu hạ tầng nông thôn, từ đó, làm thay đổi cơ cấu kinh tế và lao động trong nông
thôn theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, phát triển nông thôn văn minh, hiện đại phù hợp
với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Một thực tế nữa là, ở nước ta trên 3/4 số các khu di tích văn hóa, lịch sử, khu du
lịch sinh thái, nghỉ dưỡng của đất nước đều nằm tại các vùng nông thôn, miền núi và
vùng hải đảo. Song thu nhập hiện từ du lịch mới tập trung chủ yếu ở hai thành phố du
lịch lớn của đất nước là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (chiếm 62% tổng doanh thu),
vì thế phát triển du lịch ở các vùng miền nông thôn không những sẽ đánh thức những
tiềm năng trên để phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, mà còn làm tăng thêm thu nhập cho đông đảo người dân sống ở
1
, một
trong những biện pháp cạnh tranh thu hút nguồn khách du lịch lớn để phát triển du lịch
2. Du lịch làm giảm quá trình đô thị hóa ở các nước có nền kinh tế phát triển:
Hiện nay tốc độ đô thị hóa tại các nước phát triển là rất lớn. Do công nghiệp là thế
mạnh, là ngành kinh tế đem lại hiệu quả cao nhất cho đất nước nên việc xây dựng các
khu công nghiệp, cơ sở hạ tàng hiện đại cho phù hợp với sự phát triển đó là điều tất yếu.
Bên cạnh những điểm tích cực, quá trình đô thị hóa đã đem lại nhiều hậu quả cho xã hội.
Dân cư tập trung đông dúc tại các thành phố lớn gây ra sự quá tải còn ở các vùng quê,
miến núi lại không đủ lực lượng lao động tham gia sản xuất. Chính vì thế mà gây ra sự
mất cân đối giữa các vùng kinh tế. Nhưng khi du lịch đã được sự quan tâm phát triển của
địa phương thì sự tập trung dân cư không đồng đều được giảm hẳn. Do tài nguyên du lịch
thường tập trung ở những vùng đồng quê hay miền núi, vì vậy để khai thác nguồn và phát
triển hiệu quả cần đầu tư về mọi mặt: giao thông, thông tin liên lạc, văn hóa, xã hội… Du
lịch phát triển làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội các vùng miền.
3. Du lịch là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả
Không chỉ quảng cáo hàng hóa nội địa ra nước ngoài thông qua các du khách mà
du lịch còn là phương thức hiệu quả nhất, mang hình ảnh đất nước, con người, truyền
thống, văn hóa Việt Nam giới triệu với bạn bè năm châu. Đến Với Việt Nam, du khách
được làm quen với các mặt hàng công nghiệp, thủ công nghiệp nổi tiếng như gốm sứ, dệt
thổ cẩm, dệt lụa… Như vậy, du lịch đã góp phần đánh thức và bảo tồn các ngành nghề
thủ công mỹ nghệ cổ truyền
4. Du lịch làm tăng tầm hiểu biết chung về văn hóa – xã hội
Du lịch nội địa và quốc tế đến nay là một trong những phương tiện hàng đầu để
trao đổi văn hoá, tạo cơ hội cho mỗi con người được trải nghiệm. Du lịch ngày càng được
thừa nhận rộng rãi là một động lực tích cực cho việc bảo vệ di sản thiên nhiên văn hoá.
Du lịch có thể nắm bắt các đặc trưng về kinh tế của di sản và sử dụng chúng vào việc bảo
vệ bằng cách gây quỹ, giáo dục cộng đồng và tác động đến chính sách. Đây là một bộ
phận chủ yếu của nhiều nền kinh tế quốc gia và khu vực và có thể là một nhân tố quan
trọng trong phát triển, khi được quản lý hữu hiệu.
nâng cấp một số di tích trọng điểm tại các địa phương, góp phần làm cho những di tích ấy
trường tồn với thời gian và trở thành "điểm sáng" văn hóa tại địa phương, được nhân dân
mến mộ, cảm kích. Ngoài ra, bằng các hoạt động của mình, du lịch đã góp phần hỗ trợ và
mở ra biên độ rộng lớn cho hoạt động giao lưu hợp tác kinh tế, văn hóa quốc tế; trong
năm 2006, chúng ta đã cử 389 đoàn với 1.501 người ra nước ngoài và đón 168 đoàn nước
ngoài với 1.514 người vào nước ta làm việc theo các văn bản hợp tác.
Trong kinh tế thị trường, do điều kiện khách quan, hoạt động du lịch thích ứng
nhanh hơn và trong chừng mực nhất định, chính hoạt động du lịch đã đi trước một bước,
đảm nhiệm vai trò "kích cầu" các hoạt động văn hóa đi nhanh và mạnh hơn. Kinh doanh
văn hóa du lịch đã đem lại nguồn thu không nhỏ. Mấy năm trước, tại lễ hội 110 năm Sa
Pa đã thu hút năm vạn người tham dự và tổng doanh thu của lễ hội này đạt hơn năm tỷ
đồng.
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, văn hóa ngày càng mở
rộng, cả hoạt động văn hóa và du lịch đều có tác dụng lớn và rất quan trọng trong sự
nghiệp CNH, HÐH đất nước. Văn hóa thể hiện vai trò là "mục tiêu và động lực" ở chỗ
tập trung xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, ở chỗ chăm lo vun
đắp, bồi dưỡng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, lối sống, tâm hồn, tình cảm,
đồng thời tạo lập môi trường văn hóa, xã hội vui tươi, lành mạnh, phục vụ đắc lực công
việc sản xuất, lao động, học tập của nhân dân. Tất nhiên, với ưu thế là các loại hình nghệ
thuật phong phú, đa dạng, các hoạt động văn hóa đã và đang góp phần không nhỏ đấu
tranh với tệ nạn xã hội, với lối sống và tập quán lạc hậu, phê phán bài trừ các khuynh
hướng tư tưởng và quan điểm sai trái.
Du lịch sinh thái đã mang lại nhiều lợi ích cụ thể trong lĩnh vực bảo tồn và phát
triển bền vững. Ở Cốsta Rica và Vênêxuêla, một số chủ trang trại chăn nuôi đã bảo vệ
nhiều diện tích rừng nhiệt đới quan trọng, và do bảo vệ rừng mà họ đã biến những nơi đó
thành điểm du lịch sinh thái hoạt động tốt, giúp bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên đồng thời
tạo ra công ăn việc làm mới cho dân địa phương. Ecuađo sử dụng khoản thu nhập từ du
lịch sinh thái tại đảo Galápagó để giúp duy trì toàn bộ mạng lưới vườn quốc gia. Tại Nam
Phi, du lịch sinh thái trở thành một biện pháp hiệu quả để nâng cao mức sống của người
da đen ở nông thôn, những người da đen này ngày càng tham gia nhiều vào các hoạt động
Sự viếng thăm thường hằng của khách du lịch cũng có thể làm cho hệ sinh thái, văn
hoá và lối sống cộng đồng chủ nhà bị xuống cấp.
Du lịch phải đem lại lợi lộc cho các cộng đồng chủ nhà và tạo cho họ một phương
thức quan trọng và một động lực để chăm nom và duy trì di sản và các tập tục văn hoá
của họ. Sự tham gia và hợp tác giữa các cộng đồng địa phương hoặc bản địa đại diện, các
nhà bảo tồn, các điều hành viên du lịch, chủ sở hữu tài sản, các nhà hoạch định chính
sách, các nhà làm kế hoạch phát triển quốc gia và các nhà quản lý di tích là cần thiết để
thực hiện được một ngành kinh doanh du lịch bền vững và nâng cao việc bảo vệ các
nguồn lực của di sản cho các thế hệ tương lai.
Một mặt, du lịch mang lại nguồn ngoại tệ và tạo ra nhiều việc làm cho người lao
động, trong đó có những công việc không đòi hỏi trình độ học vấn hay trình độ chuyên
môn cao và đa phần ở các vùng sâu vùng xa nơi người lao động địa phương vốn rất khó
tìm được việc làm. Mặt khác, du lịch phát triển nhanh nhưng quản lý yếu kém sẽ dẫn tới
những hậu quả nghiêm trọng.Ở Siem Reap, Campuchia, nơi có khu đền Angkor Wat nổi
tiếng thế giới, những tác động tiêu cực của một ngành du lịch phát triển quá nhanh nhưng
được quản lý kém đã bộc lộ rõ. Các khách sạn mọc lên như nấm. Năm 2002, tổng công
suất phòng chỉ có 2.500, nay đã tăng lên tới 5.000 phòng. Cuối năm nay, thành phố này
có tới 8.000 phòng. Nguồn điện không đủ để cung cấp cho nhu cầu của cư dân địa
phương. Hệ thống xử lý rác thải yếu kém. Dòng sông bị ô nhiễm bởi nguồn nước thải
chưa xử lý. Thêm vào đó là mối lo ngại rằng việc tiêu thụ một lượng nước lớn có thể làm
cạn kiệt các mạch nước ngầm dẫn đến sụt lở đất và kéo theo việc sụp đổ của các ngôi đền
Angkor Wat. Đây là những vấn đề nghiêm trọng.
- Du lịch gây ra một số tệ nạn xã hội do kinh doanh các loại hình không lành mạnh
Bên cạnh những tác động tích cực làm tăng tầm hiểu biết và ý thức con người đối
với nền văn hóa, một số nhân tố tiêu cực đã làm xấu đi bộ mặt của ngành nghề, gây ra
những ấn tượng không tốt. Đó là việc tranh dành, lôi kéo khách hay những hoạt động
buôn bán tại các lễ hội, các hình thức vui chơi có thưởng với mục đích lừa đảo hay kinh
doanh cá loại hình không lành mạnh trong nhà hàng khách sạn….
- Du lịch phát triển đã làm thay đổi một số nét truyền thống của một dân tộc
VD: ảnh hưởng đến một số thiết chế xã hội của người Hmông ở Sapa
nhiệm. . Phụ nữ ít có cơ hội được bàn bạc, quyết định các vấn đề quan trọng.
Nhưng hiện nay, phụ nữ tham gia vào hoạt động dịch vụ du lịch khá đông. người
con gái tham gia sản xuất thổ cẩm, bán hàng rong. Thu nhập của họ khá cao. Phụ nữ tham
gia dẫn khách du lịch. Một người phụ nữ tham gia dịch vụ du lịch có thu nhập bằng hoặc
hơn cả gia đình sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, vai trò của phụ nữ trong gia đình được
nâng cao. Du lịch góp phần quan trọng vào vấn đề bình đẳng nam nữ.Trong gia đình
người Hmông trước đây, chỉ có người chồng mới có quyền giữ tiền. Nhưng hiện nay đã
xuất hiện một số trường hợp người vợ quản lý tiền hoặc xu hướng chung là cả vợ và
chồng đều có tiền riêng, đều quản lý tiền.Trong xã hội truyền thống người vợ đóng vai trò
đối nội, đảm đang việc nhà, nội trợ, chăm sóc chồng con. Nhưng hiện nay, người vợ cũng
tham gia các công việc “đối ngoại”:đi họp thôn thay chồng, tiếp khách khi khách đến nhà.
Như vậy, người phụ nữ Hmông tham gia các hoạt động du lịch, mở rộng sự giao tiếp.
hiểu biết đã dần dần thoát khỏi sự đóng khung trong không gian hạn hẹp của gia đình mà
đã vươn tới không gian xã hội.
Quan hệ bố mẹ và con cái trong gia đình người Hmông cũng có sự biến đổi. Hiện
nay, khi gia đình ba thế hệ này giảm nhanh chóng, bố mẹ khó có điều kiện chăm sóc con
cái. người mẹ bên cạnh việc nương rẫy phải mua và bán hàng lưu niệm. người mẹ bán
hàng rong phải đi từ sáng sớm đến tối khuya mới về, thậm chí ở lại thị trấn hàng tuần mới
về nhà một lần. Vì vậy, trẻ em ít được bố mẹ quản lý, các trẻ em bận làm nhiều việc nhà,
tham gia dịch vụ du lịch. Do đó chất lượng học tập của các em rất thấp. Nguyên nhân bỏ
học để có thời gian tham gia các hoạt động du lịch chiếm tỷ lệ khá cao chiếm 51,7%.
Ảnh hưởng của du lịch đến quan hệ dòng họ. Trong xã hội truyền thống người
Hmông, quan hệ dòng họ được đề cao. Nhưng hiện nay, dưới sự tác động của du lịch,
quan hệ dòng họ đang có sự biến đổi. Trước hết, vai trò của trưởng dòng họ “Hổ Pấu” có
sự thay đổi. Trước kia, người trưởng dòng họ phải là những người nhiều tuổi, có kinh
nghiệm làm ăn, có trách nhiệm cao với dòng họ. Hiện nay, lớp trẻ làm ăn giỏi, thích ứng
với môi trường du lịch hoặc tham gia dịch vụ du lịch ngày càng đông (làm xe ôm, dẫn
khách leo núi, mua đồ lưu niệm ). Có điều kiện kinh tế, giúp đỡ một số thành viên trong
làng, trong dòng họ khi họ khó khăn , nên một số người trẻ tuổi trong dòng họ, trong làng
đã trở thành người có tiếng nói “trọng lượng” trong công việc chung của dòng họ. Hiện
động, có trình độ học vấn nhất định, có khả năng tiếp nhận và phổ biến thông tin. Tốc độ
cuộc sống đã thay đổi nên yếu tố tuổi cao, giàu kinh nghiệm ít trở thành tiêu chí quan
trọng để chọn trưởng làng, xuất hiện xu hướng trẻ hoá trưởng
II. TÁC ĐỘNG CỦA DU LỊCH ĐẾN CHÍNH TRỊ.
1. Những ảnh hưởng tích cực.
- Du lịch là chiếc cầu nối hòa bình giữa các dân tộc trên thế giới.
- Hoạt động du lịch giúp cho các dân tộc xích lại gần nhau hơn, hiểu hơn về giá trị
văn hóa của đất nước bạn, xây dựng và vun đắp cho tình hữu nghị giữa các dân
tộc với nhau.
2. Những ảnh hưởng tiêu cực.
- Du lịch là con đường mà các thế lực phản động thường hay sử dụng để tuyên
truyền, kích động phá hoại chế độ chính trị xã hội, kinh tế, văn hóa của quốc gia
mà họ thù ghét, đối đầu. Đội lốt du khách, có những kẻ đã xâm nhập sâu vào nước
đến để móc nối, xây dựng các cơ sở, tổ chức phản động.
- Đồng thời du lịch cũng gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn
xã hội ở các điểm đến du lịch.
III. TÁC ĐỘNG CỦA DU LỊCH ĐẾN MÔI TRƯỜNG.
Tác động đến môi trường là những ảnh hưởng (xấu hay tốt) do hoạt động phát
triển du lịch gây ra cho môi trường, bao gồm các yếu tố môi trường tự nhiên cũng như
các yếu tố môi trường xã hội - nhân văn. Tác động của du lịch lên các yếu tố sinh thái tự
nhiên có thể là tác động tích cực hoặc tiêu cực.
1. Tác động tích cực:
a) Bảo tồn thiên nhiên: Du lịch góp phần khẳng định giá trị và góp phần vào việc
bảo tồn các diện tích tự nhiên quan trọng, phát triển các Khu Bảo Tồn và Vườn
Quốc Gia.
b) Tăng cường chất lượng môi trường: Du lịch có thể cung cấp những sáng kiến
cho việc làm sạch môi trường thông qua kiểm soát chất lượng không khí, nước,
đất, ô nhiễm tiếng ồn, thải rác và các vấn đề môi trường khác thông qua các
chương trình quy hoạch cảnh quan, thiết kế xây dựng và duy tu bảo dưỡng các
công trình kiến trúc.
xấu xí, dây điện, cột điện tràn lan, bảo dưỡng kém đối với các công trình xây dựng
và cảnh quan. Phát triển du lịch hỗn độn, pha tạp, lộn xộn là một trong những hoạt
động gây suy thoái môi trường tệ hại nhất.
h) Làm nhiễu loạn sinh thái: Việc phát triển hoạt động du lịch thiếu kiểm soát có thể
tác động lên đất (xói mòn, trượt lở), làm biến động các nơi cư trú, đe doạ các loài
động thực vật hoang dại (tiếng ồn, săn bắt, cung ứng thịt thú rừng, côn trùng ).
Xây dựng đường giao thông và khu cắm trại gây cản trở động vật hoang dại di
chuyển tìm mồi, kết đôi hoặc sinh sản, phá hoại rạn san hô do khai thác mẫu vật,
cá cảnh hoặc neo đậu tàu thuyền