luận văn: ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MỘT SỐ LOẠI THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP CHO NUÔI CÁ TRA GIỐNG (Pangasius hypophthalmus) - Pdf 11

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN HỮU YẾN NHI

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MỘT SỐ LOẠI THỨC ĂN
CÔNG NGHIỆP CHO NUÔI CÁ TRA GIỐNG
(Pangasius hypophthalmus)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN


Tuy nhiên, trên thị trường ngày nay có rất nhiều loại thức ăn công nghiệp với
nhãn hiệu khác nhau. Theo điều tra của Trần Văn Nhì (2005) có khoảng 18 công
ty sản xuất thức ăn cho cá và có nhiều loại sản phẩm xuất hiện ở các vùng nuôi
tuy nhiên người nuôi không biết được chất lượng của chúng thế nào, chúng ảnh
hưởng như thế nào đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá nuôi.
Chính từ thực tế trên, nhằm góp phần xác định chất lượng của một số loại thức ăn
công nghiệp việc thực hiện đề tài “Đánh giá chất lượng một số loại thức ăn
công nghiệp nuôi cá tra giống (Pangasius hypophthalmus)” là rất cần thiết.
Việc đánh giá này không chỉ xác định được loại thức ăn nào có chất lượng tốt mà
còn xác định được loại thức ăn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi.
Mục tiêu của đề tài:
Đánh giá chất lượng thức ăn công nghiệp trên thị trường để tìm ra được loại thức
ăn chất lượng, đảm bảo cá tăng trưởng tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho
người sử dụng.

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2

Nội dung của đề tài:
- Phân tích thành phần hóa học của thức ăn.
- Đánh giá ảnh hưởng của các loại thức ăn công nghiệp lên tỉ lệ sống, sinh trưởng
và thành phần hóa học của cá tra.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của từng loại thức ăn.

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
3

CHƯƠNG 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU


thức ăn chế biến… Tuy nhiên, ấu trùng Artemia và trùn chỉ cho tỉ lệ sống cao và
sinh trưởng của cá tốt nhất (Lê Thanh Hùng và ctv, 2002; trích bởi Dương Thuý
Yên, 2003).
Cá con 20 ngày tuổi sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến (Lê Như Xuân và ctv,
2000). Cá tra càng lớn phổ thức ăn của chúng càng rộng. Trong ao, bè nuôi chúng
có thể sử dụng được tấm, cám, rau, bèo, phế phẩm của các nhà máy chế biến thủy
sản, thức ăn chế biến dạng ẩm với hàm lượng protein thấp. Nhìn chung, loài cá
này có tính ăn tạp thiên về động vật (Trương Thủ Khoa và Trần Thi Thu Hương,
1993; Lê Như Xuân và ctv, 2000).
2.1.4 Sự tăng trưởng
Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh. Cá tra bột hết noãn hoàng có chiều
dài trung bình từ 1,0-1,1 cm, sau 14 ngày ương đạt 2,0-2,3 cm và khối lượng là
0,52 g/con. Sau một năm tuổi cá đạt 0,7- 1,5 kg và đến 3- 4 tuổi đạt 3- 4 kg. Cá
còn nhỏ tăng nhanh về chiều dài, khi cá đạt 2,5 kg là bước vào thời kỳ tích lũy
mỡ, cần có chế độ nuôi dưỡng thích hợp để phát dục tốt. Tuy nhiên, tốc độ tăng
trưởng còn tùy thuộc rất lớn vào mật độ nuôi, chất lượng và số lượng thức ăn
cung cấp. Độ béo cũng tăng dần theo sự phát triển của cá, ở năm đầu tiên độ béo
tăng nhanh nhất, qua các năm sau độ béo biến đổi không đáng kể. Cá có trọng
lượng 11,2 g có độ béo 0,99%, cá 560 g có độ béo 1,6% nhưng cá 3 tuổi nặng
3,62 kg có độ béo là 1,62%. Cá đực có độ béo cao hơn cá cái (Trần Thanh Xuân,
1994).
2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của cá da trơn
2.2.1 Nhu cầu protein
Protein là thành phần hóa học chủ yếu của động vật thủy sản, chiếm khoảng 60-
75% khối lượng khô của cơ thể (Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2004a). Nó là chất
dinh dưỡng rất quan trọng, là thành phần chủ yếu tham gia cấu tạo cơ thể, thay tổ
chức cũ, xây dựng tổ chức mới; là thành phần chủ yếu của các enzyme, một số
hormone; trong cơ thể thì không có vật chất nào có khả năng thay thế protein
(Phạm Minh Thành, 2001). Ngoài ra, protein cũng là thành phần trong thức ăn có
giá trị kinh tế nhất, quyết định đến giá thành thức ăn (Phạm Minh Thành, 2001).

nghiên cứu của Huỳnh Văn Hiền (2003), nhu cầu đạm cho cá tra giống cỡ nhỏ (2
gam) sinh trưởng tối đa là 38%, khoảng thích hợp cho cá tăng trưởng tốt, giảm
giá thành sản xuất và đem lại hiệu quả kinh tế cao là 26-30%. Theo (NRC, 1998;
trích bởi Trần Thị Phương Lan, 2002) nhu cầu protein đa số các loài cá trơn bột là
40%, cá hương 30-35%, cá 110 g trở lên thì 25-30%
Kết quả nghiên cứu mức protein thích hợp cho cá tra và cá basa (5-6 g) lần lượt
là 27,8% và 32,2% (Lê Thanh Hùng và ctv, 2000).
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
6

Nhu cầu protein trên cá basa giống cỡ nhỏ (16,4-16,9 g) là 41,6% cao hơn so với
cỡ lớn hơn (75,4-81,3 g) là 34,3% (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 1998).
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thanh Hiền và ctv trên cá Hú giai đoạn
giống nhỏ (0,81-0,91 g) thì cá tăng trưởng nhanh và sử dụng thức ăn hiệu quả
nhất ở 45% protein, khoảng protein thích hợp là 29,3-35% (Trần Thị Thanh Hiền
và ctv, 2004b).
Theo nghiên cứu trên đối tượng cá tra bần giống thì mức protein 42% sẽ làm cho
cá tăng trưởng tối đa, nhưng cá sẽ tăng trưởng chậm và có phần không tăng khi
hàm lượng protein vượt quá 45% (Trần Bình Tuyên, 2000).
2.2.2 Nhu cầu carbohydrate
Carbohydrate chủ yếu cung cấp năng lượng cho cơ thể (1g sau khi đốt cháy cung
cấp khoảng 4,3 Kcal), là thành phần của nhân tế bào, kích thích nhu động ruột,
khi thừa sẽ tích lũy mỡ dạng glycogen, khi đủ sẽ tiết kiệm được protein (Phạm
Minh Thành, 2001). Carbohydrate còn quyết định độ kết dính của viên thức ăn.
Đây là nguồn năng lượng rẻ tiền nên tỷ lệ của nó trong thức ăn thích hợp sẽ giảm
được giá thành thức ăn mà vẫn đảm bảo được sự sinh trưởng của cá.
Carbohydrate có hai dạng, carbohydrate dạng đường và dạng không phải đường
(tinh bột, dextrin, glycogen và cellulose), dạng không phải đường là một trong
những thành phần dinh dưỡng quan trọng cần thiết cho cá.
Tuy nhiên, đối với dạng xơ nếu chúng được sử dụng nhiều trong thức ăn sẽ làm

hưởng đến khả năng tiêu hoá carbohydrate mà còn làm giảm sự tiêu hoá protein
(Cowey, 1972, Shimeno, 1977; trích bởi Dương Thuý Yên, 2000).
2.2.3 Nhu cầu lipid (chất béo)
Lipid gồm có hai dạng là glycerol và acid béo. Lipid là nguồn dinh dưỡng cung
cấp năng lượng chính cho động vật thủy sản (1 g lipid sau khi đốt cháy cung cấp
9,3 Kcal). Giá trị của lipid được chú ý chính là thành phần các acid béo của lipid,
đặc biệt là các acid béo thiết yếu, điển hình là acid béo cao phân tử không no
(PUFA) nhóm n-3 và n-6. Đồng thời cung cấp các hợp phần khác tham gia vào
cấu trúc màng cơ bản và là dung môi để hòa tan và vận chuyển các chất tan trong
mỡ như vitamin A, D, E, K…Năng lượng thức ăn không được sử dụng ngay mà
được dự trữ dưới dạng glycogen và mỡ. Cá da trơn có khả năng dự trữ năng
lượng rất thấp nên mỡ là dạng dự trữ năng lượng chính. Lipid được dự trữ trong
gan, cơ và các dạng mô mỡ bao quanh thành ruột, hay tạo lớp mỡ rất lớn như cá
basa chiếm 25% thể trọng cá khi cá ăn thức ăn có quá nhiều năng lượng
(Mertrampf, 1992; trích bởi Trần Văn Nhì, 2005).
Lipid được bổ sung vào thức ăn thường là dầu động vật (dầu mực) và dầu thực
vật (dầu nành). Ngoài ra, lipid còn là chất tạo mùi kích thích tôm, cá,….Nếu trong
thành phần thức ăn của cá thiếu những acid béo cần thiết sẽ làm giảm tỷ lệ sống,
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
8

ăn mòn vi đuôi, thoái hoá gan (gan căng phồng lên, tái đi và có sự ứ đọng mỡ),
làm giảm tốc độ tăng trưởng và giảm tỷ lệ sống của cá con,…(Phạm Minh Thành,
2001).
Theo kết quả tổng quan về nhu cầu dinh dưỡng của một số loài cá trơn (Dương
Thúy Yên, 2000), các loài cá trơn có thể sử dụng mức lipid trong thức ăn khá lớn.
Cá nheo Mỹ vẫn tăng trưởng tốt ở mức lipid 15% hoặc hơn (Wilson và Moreau,
1996). Nhưng nếu lipid trong thức ăn quá nhiều sẽ dẫn đến sự tích lũy mỡ trong
thịt cá nhiều làm giảm chất lượng cá. Hơn nữa, lượng lipid nhiều còn ảnh hưởng
đến độ bền chặt của viên thức ăn và khó bảo quản. Do đó, Wilson và Moreau

Khả năng tổng hợp vitamin của động vật thủy sản rất kém hoặc không có do đó
không đủ đáp ứng nhu cầu, cho nên việc cung cấp vitamin vào thức ăn cho động
vật thủy sản là rất cần thiết. Nhu cầu vitamin chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố
như kích cỡ và giai đoạn phát triển của đối tượng nuôi, các yếu tố môi trường
nuôi, mối tương tác với các thành phần dinh dưỡng khác và đặc biệt là quá trình
chế biến và bảo quản.
Hiện nay có khoảng 15 vitamin được xác định gồm:
- Vitamin tan trong dầu: A, D, E, K.
- Vitamin tan trong nước: B1, B2, B6, B12, pantothenic acid, nicotinic acid,
biotin, folic acid và các vitamin đa lượng: cholin, inositol, vitamin C.
Nhu cầu vitamin A của cá nheo Mỹ là 450-900 UI/kg thức ăn (Robinson, 1989).
Ngoài cá nheo Mỹ, các đối tượng cá trơn khác ít được nghiên cứu về nhu cầu
vitamin do đó có thể xem nhu cầu của các loài cá trơn khác cũng tương tự như cá
nheo Mỹ.
2.2.6 Nhu cầu khoáng
Muối khoáng là những chất vô cơ rất cần thiết đối với cá để chúng xây dựng nên
cấu trúc bộ xương của cơ thể và giúp duy trì cân bằng áp suất thẩm thấu giữa dịch
cơ thể với môi trường ngoài. Đến nay, người ta đã xác định được 11 nguyên tố
cần thiết cho cá trơn bao gồm 4 nguyên tố đa lượng (canxi, phospho, magiê, kali)
và 7 khoáng vi lượng (sắt, chì, đồng, mangan, iod, cobalt và selenium(Se)).
Cá nheo Mỹ có thể hấp thu canxi từ môi trường nước đủ đáp ứng nhu cầu
(Robinson,1986; trích bởi Dương Thúy Yên, 2000).
Trong một số nguyên liệu làm thức ăn cho ca trơn có nhiều magiê, natri, kali và
chloride cung cấp đủ nhu cầu. Riêng canxi và phospho thường bổ sung vào thức
ăn với tỉ lệ 1:1 hoặc 2:1. Trong thực tế, để tránh hiện tượng thiếu khoáng, các nhà
sản xuất và nghiên cứu thường bổ sung premix khoáng từ 1-3% trong thức ăn.
Do cá hấp thu muối khoáng từ môi trường ngoài nên rất khó xác định nhu cầu
muối khoáng của cá, đặc biệt là khoáng vi lượng.

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Theo kết quả điều tra về tình hình nuôi và sử dụng thức ăn cho cá tra nuôi ao và
bè ở An Giang có 66,7% hộ nuôi bè ở vùng nuôi truyền thống và 93,3% hộ nuôi
bè ở vùng nuôi mới; 55,5% hộ nuôi ao ở vùng nuôi truyền thống và 66,7% hộ
nuôi ao ở vùng nuôi mới có bổ sung thức ăn công nghiệp trong khoảng 3-4 tuần
đầu. Vì những hộ sử dụng thức ăn viên cho rằng giai đoạn 3-4 tuần đầu cá mới
thả còn yếu, khả năng bắt mồi chậm nếu sử dụng thức ăn tự chế thì dễ làm rớt
mồi, ô nhiễm môi trường nước và hao phí thức ăn. Hầu hết các hộ nuôi hiện nay
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
11

đều cho rằng thức ăn viên giá quá cao nếu sử dụng nhiều thì nuôi cá không có lãi
(Huỳnh Thị Tú và ctv, 2006).
Giá cả của các loại thức ăn viên hiện nay có sự biến động lớn từ 4.500 – 7.500
đồng/kg. Giá cả khác nhau tuỳ theo loại thức ăn và thành phần dưỡng chất trong
thức ăn. Nhìn chung, giá thức ăn công nghiệp được tính trên hàm lượng đạm có
trong thức ăn (đồng/độ đạm), giá trung bình là 200 – 250 đồng/độ đạm.
2.4 Tiêu chuẩn ngành về thức ăn hỗn hợp dạng viên cho cá Tra và Ba sa
Theo tiêu chuẩn ngành 28 TCN 188:2004 (trích bởi Trần Thị Thanh Hiền và ctv,
2004a) quy định các yêu cầu về chất lượng và an toàn vệ sinh thú y của thức ăn
hỗn hợp dạng viên (gọi tắt là thức ăn viên); được phối chế từ nhiều loại nguyên
liệu đảm bảo có đủ các chất dinh dưỡng; sử dụng để ương giống và nuôi cá tra và
basa thương phẩm. Tiêu chuẩn này được áp dụng trong phạm vi cả nước đối với
các cơ sở sản xuất và kinh doanh thức ăn viên cho cá tra và cá basa.
Thức ăn viên cho cá tra và cá basa gồm 6 loại sử dụng cho các giai đoạn phát
triển của cá với các số hiệu từ số 1 đến số 6.
Thức ăn viên cho cá tra và cá basa khi sản xuất phải có dạng hình trụ (hoặc mảnh)
đều nhau, bề mặt mịn, kích cỡ theo đúng số hiệu của từng loại thức ăn quy định.
Màu sắc và mùi vị đặc trưng của nguyên liệu phối chế, thức ăn có màu nâu vàng
đến nâu, không có mùi men mốc và mùi lạ khác.
Bên cạnh đó, đường kính viên thức ăn không lớn hơn 12mm, chiều dài so với

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
13

CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian nghiên cứu
Tháng 03 năm 2006 – tháng 05 năm 2006.
3.2 Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiêm được bố trí trong giai đặt trong ao tại Quận Ninh Kiều Tp Cần Thơ.
3.3 Vật liệu thí nghiệm
- 20 giai 1m
3

- Máy đo pH, nhiệt kế…
3.4 Nguồn cá thí nghiệm
- Từ nguồn giống sản xuất nhân tạo.
- Cá được chọn đồng cỡ, không nhiễm bệnh, không dị tật, không xây xát, có kích
cỡ trung bình từ 45- 55 gam/con.
- Cá được giữ trong giai từ 7-10 ngày trước khi bắt đầu thí nghiệm.
3.5 Hệ thống thí nghiệm
- Hệ thống thí nghiệm gồm 20 giai (1m
3
) bằng lưới đặt trong ao sâu 2m, diện tích
1000m
2
.
- Nguồn nước thí nghiệm lấy từ một nhánh sông nhỏ của sông Hậu.

Hình 3.1: Hệ thống giai thí nghiệm
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

0
C) cho đến khi phân tích.
Phân tích thành phần hóa học theo phương pháp O.A.O.C (2000) gồm các chỉ
tiêu: Protein thô, lipid thô, năng lượng thô, tro và ẩm độ. Các chỉ số tính bằng
khối lượng khô.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
15

Lượng thức ăn cho cá ăn (g)
FCR =
Khối lượng cá gia tăng (g)
- Độ ẩm: sấy mẫu ở nhiệt độ 105
0
C trong khoảng 4 giờ (đến khi trọng lượng
không đổi).
- Tro: mẫu sau khi làm ẩm độ được đem nung ở nhiệt độ 560
0
C trong khoảng 4
giờ (khi mẫu có màu trắng hoàn toàn).
- Protein thô: phương pháp Kjenldal.
- Lipid thô: thủy phân trong Chloroform bằng hệ thống Soxlet.
- Năng lượng thô: được đo bằng máy Parr 6100 Calorimeter.
3.9 Các chỉ tiêu thu thập tính toán và xử lý số liệu
3.9.1 Các chỉ tiêu
Tăng trưởng
- Tốc độ tăng trưởng tương đối (Specific growth rate, SGR) w
c

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
16

- Hiệu quả sử dụng thức ăn (FCE)
FCE =
FCR
1- Hiệu quả sử dụng protein (PER)
- Tỉ lệ sống của cá (Survival rate, SR%)
- Chỉ số protein tích luỹ (NPU)
-Chi phí thức ăn/kg cá tăng trọng.

Chi phí (đồng/kg cá) = Đơn giá x FCR
3.9.2 Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý theo chương trình excell version 5.0 và statistica. So sánh
trung bình giữa các nghiệm thức dựa vào ANOVA và phép thử DUCAN ở mức ý
nghĩa p < 0,05.
Số cá thu hoạch
SR(%) = x100

Sau 8 tu
ần
Sáng 29 30 29 30 31 Nhiệt độ

(
0
C)
Chiều

31 32 30 32 33
Sáng 3,7 3,1 2,7 3,3 2,2 Oxy
(mg/L)
Chiều

5,9 7,0 3,9 6,0 3,3
Sáng 8,2 7,8 8,1 7,7 8,1
pH
Chiều

8,0 8,0 8,0 8,0 7,9
NO
2
-
(mg/L) 0,01 0,03 0,03 0,04 0,04
TAN (mg/L) 0,55 0,60 0,54 0,45 0,84
Nhiệt độ là một nhân tố môi trường ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hoạt động sống
như sinh trưởng, dinh dưỡng, sinh sản và di cư của thủy sinh vật, đặc biệt là đối
với cá vì cá là một loài động vật biến nhiệt (Trương Quốc Phú, 2000). Trong suốt
thời gian thí nghiệm nhiệt độ dao động từ 29-33
0

2
-
trong ao dao động từ 0,01-0,04 ppm trong suốt quá trình thí nghiệm. Ở hàm
lượng NO
2
-
này rất thích hợp đối với cá nuôi vì nó nằm trong khoảng thích hợp
nhất 0,01-0,1 ppm (Nguyễn Văn Bé, 1987).
Tổng đạm (TAN) dao động từ 0,45-0,84 ppm. Hàm lượng TAN thích hợp cho ao
nuôi cá tra thâm canh là <4 ppm (Dương Nhựt Long, 2003). Vậy hàm lượng TAN
vẫn nằm trong giới hạn cho phép để cá sinh trưởng và phát triển tốt.
4.2 Thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn
Thức ăn đóng một vai trò quan trọng đối với cá. Cá thông qua việc sử dụng thức
ăn để biến đổi các thành phần của thức ăn thành những chất đặc trưng của cơ thể
như: protein, chất béo, acid amin,…từ đó cá tăng lên về kích thước và khối lượng.
Vì vậy, chất lượng thức ăn có ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng của cá. Đặc
biệt cá được nuôi trong ao nhỏ (nơi mà không có hay thiếu thức ăn tự nhiên của
loài) thì thành phần dinh dưỡng của thức ăn nhân tạo đóng vai trò hết sức quan
trọng.
Bảng 4.2: Thành phần hoá học của các loại thức ăn thí nghiệm (tính theo khối
lượng tươi)

Nghiệm thức Thành phần
I
II
III
IV
V
Protein (%) 28.529.627.528.8 30.3
Ẩm độ (%) 8,518,199,067,65 5,12

sẽ làm giảm độ tiêu hoá thức ăn, động vật thuỷ sản sinh trưởng chậm (Trần Thị
Thanh Hiền và ctv, 2004a). Hàm lượng xơ trong thức ăn phân tích từ 2,1-5,5%
đạt yêu cầu so với quy định về hàm lượng xơ cho loại thức ăn này.
Chiết chất không đạm NFE phần lớn là tinh bột và đường, chúng dễ tiêu hoá và
hấp thu trong đường tiêu hoá của tôm cá. Khi phân tích trong thức ăn hàm lượng
NFE thấp nhất trong thức ăn II 44,7% và cao nhất trong thức ăn III 53,2%.
Năng lượng trong thức ăn phân tích đạt 3.627 – 3.969 kcal/kg đạt yêu cầu so với
nhu cầu năng lượng của một số loài cá trơn là khoảng 2.750- 3100 kcal/kg (Trần
Thị Thanh Hiền và ctv, 2004a). Trong khi năng lượng ghi trên bao bì là năng
lượng trao đổi thì thấp hơn rất nhiều so với năng lượng thô phân tích được và
năng lượng phân tích đạt yêu cầu so với năng lượng thô do tiêu chuẩn ngành quy
định là không nhỏ hơn 2.100 kcal/kg.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
20
4.3 Tỷ lệ sống
Bảng 4.3 cho thấy ở các nghiệm thức tỷ lệ sống của cá đạt khá cao từ 96,7%-
99,2%. Trong đó, tỷ lệ sống cao nhất ở nghiệm thức II, III, IV và thấp nhất ở
nghiệm thức V. Tuy nhiên, tỷ lệ sống giữa các nghiệm thức không khác biệt có ý
nghĩa thống kê (p>0,05). Điều này đã nói lên rằng 5 loại thức ăn công nghiệp thí
nghiệm không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá tra. Nguyên nhân làm cho cá chết
ở một số nghiệm thức trong thí nghiệm là do cá bị ký sinh.
Bảng 4.3: Tỷ lệ sống của cá tra qua 2 tháng thí nghiệm
Nghiệm thức SR (%)
I 98,3 ± 1,92
a

II 99,2 ± 1,67

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
21

này chứng tỏ các loại thức ăn thí nghiệm đạt chất lượng tốt, không làm ảnh hưởng
đến tỷ lệ sống của cá thí nghiệm.

4.4 Tăng trưởng
Tăng trưởng của cá là một trong những chỉ tiêu dùng để đánh giá chất lượng của
thức ăn. Tăng trưởng của cá được thể hiện qua tốc độ tăng trưởng tương đối và
tốc độ tăng trưởng tuyệt đối ngày.
Bảng 4.4: Khối lượng đầu, khối lượng cuối, tốc độ tăng trưởng tương đối, tốc độ
tăng trưởng tuyệt đối.
Nghiệm thức W
đ
(g/con) W
c
(g/con) SGR (%/ngày) DWG (g/ngày)
I 47,1 ± 3,7 238,1 ± 7,2 2,70 ± 0,08
ab
3,18 ± 0,06
ab

II 48,8 ± 1,6 272,3 ± 28,6 2,86 ± 0,20
b
3,73 ± 0,49
b

III 50,8 ± 1,7 256,8 ± 8,5 2,70 ± 0,09
ab
3,43 ± 0,15

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
22

bằng bột đậu nành trong thức ăn của cá basa giống. Khối lượng cuối và tốc độ
tăng trưởng tương đối (SGR) giảm theo mức tăng của bột đậu nành trong thức ăn.
Tuy nhiên, cả khối lượng cuối và SGR của cá ăn thức ăn có thay thế 25% bột đậu
nành (2,0%/ngày) thì không khác biệt có ý nghĩa so với cá ăn thức ăn không có
thay thế bột đậu nành (2,13%/ngày)và cá ăn thức ăn có thay thế 43% bột đậu
nành (1,75%/ngày).
Hơn nữa, Lâm Đăng Khoa (2005) nghiên cứu về khả năng sử dụng bột đậu nành
trong công thức thức ăn của cá rô đồng (Anabas testudineus) giai đoạn giống cho
rằng với mức protein và mức lipid tương đương nhau trong thức ăn nhưng tăng
trưởng của cá tăng dần ở mức bột đậu nành từ 0%-30% và đạt cao nhất ở nghiệm
thức 30% bột đậu nành (5,30 g). Khi mức đậu nành vượt qua 40% trong thức ăn
thì tăng trưởng của cá có xu hướng giảm. Khối lượng cá thấp nhất là ở nghiệm
thức 60% bột đậu nành (4,36 g). Hàm lượng bột đậu nành có thể sử dụng tối đa
trong thức ăn cho cá rô đồng là 40%.
Tóm lại, khi cho cá ăn thức ăn với mức protein tương đương nhau nhưng khác
nhau về nguồn protein khi phối trộn vào thức sẽ làm ảnh hưởng đến sinh trưởng
của cá. Vì thế, có thể nói rằng thức ăn loại IV được phối chế từ những nguồn
nguyên liệu thích hợp cho cá tra hơn các loại thức ăn còn lại nên giúp cá sinh
trưởng và phát triển tốt nhất.
238.1
256.8
276.2
212.6
272.3
0
50
100

0,59 ± 0,04
abc

III 1,57 ± 0,05
a
0,64 ± 0,02
c

IV 1,66 ± 0,13
ab
0,60 ± 0,04
bc

V 1,95 ± 0,28
c
0,52 ± 0,08
a

Ghi chú: Giá trị thể hiện là số trung bình ± độ lệch chuẩn.
Các số liệu cùng nằm trong một cột có mang chữ cái giống nhau thì sai khác không có ý nghĩa p>0,05.
Theo kết quả ở Bảng 4.5 cho thấy hệ số thức ăn dao động từ 1,57-1,95. Cao nhất
ở nghiệm thức V (1,95) và thấp nhất ở nghiệm thức III (1,57). FCR khác biệt
không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) giữa nghiệm thức II, III và IV. Từ kết quả
này cho thấy ở nghiệm thức III cá chỉ cần 1,57 kg thức ăn để tăng lên 1 kg khối
lượng. Điều này chứng tỏ rằng cá ở nghiệm thức III sử dụng thức ăn một cách tốt
nhất, kế đến là nghiệm thức IV và cá sử dụng thức ăn kém nhất là nghiệm thức V.
Cá ở nghiệm thức V cần một lượng lớn thức ăn hơn so với các nghiệm thức khác
để tăng lên một đơn vị khối lượng.
Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy hàm lượng protein trong thức
ăn càng giảm thì hệ số thức ăn càng tăng. Điển hình như nghiên cứu của Nguyễn

(%)
I 1,85 ± 0,05
bc
1,74 ± 0,05
ab
32,2 ± 2,12
b

II 1,71 ± 0,12
ab
1,82 ± 0,13
abc
32,7 ± 1,93
bc

III 1,57 ± 0,05
a
2,11 ± 0,07
d
38,0 ± 2,56
d

IV 1,66 ± 0,13
ab
1,94 ± 0,14
bcd
36,0 ± 1,93
cd

V 1,95 ± 0,28


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status