TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN HỮU YẾN NHI
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MỘT SỐ LOẠI THỨC ĂN
CÔNG NGHIỆP CHO NUÔI CÁ TRA GIỐNG
(Pangasius hypophthalmus)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
nhãn hiệu khác nhau. Theo điều tra của Trần Văn Nhì (2005) có khoảng 18 công
ty sản xuất thức ăn cho cá và có nhiều loại sản phẩm xuất hiện ở các vùng nuôi
tuy nhiên người nuôi không biết được chất lượng của chúng thế nào, chúng ảnh
hưởng như thế nào đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá nuôi.
Chính từ thực tế trên, nhằm góp phần xác định chất lượng của một số loại thức ăn
công nghiệp việc thực hiện đề tài “Đánh giá chất lượng một số loại thức ăn
công nghiệp nuôi cá tra giống (Pangasius hypophthalmus)” là rất cần thiết.
Việc đánh giá này không chỉ xác định được loại thức ăn nào có chất lượng tốt mà
còn xác định được loại thức ăn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi.
Mục tiêu của đề tài:
Đánh giá chất lượng thức ăn công nghiệp trên thị trường để tìm ra được loại thức
ăn chất lượng, đảm bảo cá tăng trưởng tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho
người sử dụng.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2
Nội dung của đề tài:
- Phân tích thành phần hóa học của thức ăn.
- Đánh giá ảnh hưởng của các loại thức ăn công nghiệp lên tỉ lệ sống, sinh trưởng
và thành phần hóa học của cá tra.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của từng loại thức ăn.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
3
CHƯƠNG 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Sinh học của cá tra
2.1.1 Hệ thống phân loại
Theo Robert và Vidthayanon (1991), cá tra thuộc:
2000). Cá tra càng lớn phổ thức ăn của chúng càng rộng. Trong ao, bè nuôi chúng
có thể sử dụng được tấm, cám, rau, bèo, phế phẩm của các nhà máy chế biến thủy
sản, thức ăn chế biến dạng ẩm với hàm lượng protein thấp. Nhìn chung, loài cá
này có tính ăn tạp thiên về động vật (Trương Thủ Khoa và Trần Thi Thu Hương,
1993; Lê Như Xuân và ctv, 2000).
2.1.4 Sự tăng trưởng
Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh. Cá tra bột hết noãn hoàng có chiều
dài trung bình từ 1,0-1,1 cm, sau 14 ngày ương đạt 2,0-2,3 cm và khối lượng là
0,52 g/con. Sau một năm tuổi cá đạt 0,7- 1,5 kg và đến 3- 4 tuổi đạt 3- 4 kg. Cá
còn nhỏ tăng nhanh về chiều dài, khi cá đạt 2,5 kg là bước vào thời kỳ tích lũy
mỡ, cần có chế độ nuôi dưỡng thích hợp để phát dục tốt. Tuy nhiên, tốc độ tăng
trưởng còn tùy thuộc rất lớn vào mật độ nuôi, chất lượng và số lượng thức ăn
cung cấp. Độ béo cũng tăng dần theo sự phát triển của cá, ở năm đầu tiên độ béo
tăng nhanh nhất, qua các năm sau độ béo biến đổi không đáng kể. Cá có trọng
lượng 11,2 g có độ béo 0,99%, cá 560 g có độ béo 1,6% nhưng cá 3 tuổi nặng
3,62 kg có độ béo là 1,62%. Cá đực có độ béo cao hơn cá cái (Trần Thanh Xuân,
1994).
2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của cá da trơn
2.2.1 Nhu cầu protein
Protein là thành phần hóa học chủ yếu của động vật thủy sản, chiếm khoảng 60-
75% khối lượng khô của cơ thể (Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2004a). Nó là chất
dinh dưỡng rất quan trọng, là thành phần chủ yếu tham gia cấu tạo cơ thể, thay tổ
chức cũ, xây dựng tổ chức mới; là thành phần chủ yếu của các enzyme, một số
hormone; trong cơ thể thì không có vật chất nào có khả năng thay thế protein
(Phạm Minh Thành, 2001). Ngoài ra, protein cũng là thành phần trong thức ăn có
giá trị kinh tế nhất, quyết định đến giá thành thức ăn (Phạm Minh Thành, 2001).
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
5
Protein vào cơ thể được thủy phân thành các acid amin và sẽ được ruột hấp thu,
sau đó sẽ đến các tổ chức khác trong cơ thể, tại đây chúng được sử dụng để sinh
Kết quả nghiên cứu mức protein thích hợp cho cá tra và cá basa (5-6 g) lần lượt
là 27,8% và 32,2% (Lê Thanh Hùng và ctv, 2000).
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
6
Nhu cầu protein trên cá basa giống cỡ nhỏ (16,4-16,9 g) là 41,6% cao hơn so với
cỡ lớn hơn (75,4-81,3 g) là 34,3% (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 1998).
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thanh Hiền và ctv trên cá Hú giai đoạn
giống nhỏ (0,81-0,91 g) thì cá tăng trưởng nhanh và sử dụng thức ăn hiệu quả
nhất ở 45% protein, khoảng protein thích hợp là 29,3-35% (Trần Thị Thanh Hiền
và ctv, 2004b).
Theo nghiên cứu trên đối tượng cá tra bần giống thì mức protein 42% sẽ làm cho
cá tăng trưởng tối đa, nhưng cá sẽ tăng trưởng chậm và có phần không tăng khi
hàm lượng protein vượt quá 45% (Trần Bình Tuyên, 2000).
2.2.2 Nhu cầu carbohydrate
Carbohydrate chủ yếu cung cấp năng lượng cho cơ thể (1g sau khi đốt cháy cung
cấp khoảng 4,3 Kcal), là thành phần của nhân tế bào, kích thích nhu động ruột,
khi thừa sẽ tích lũy mỡ dạng glycogen, khi đủ sẽ tiết kiệm được protein (Phạm
Minh Thành, 2001). Carbohydrate còn quyết định độ kết dính của viên thức ăn.
Đây là nguồn năng lượng rẻ tiền nên tỷ lệ của nó trong thức ăn thích hợp sẽ giảm
được giá thành thức ăn mà vẫn đảm bảo được sự sinh trưởng của cá.
Carbohydrate có hai dạng, carbohydrate dạng đường và dạng không phải đường
(tinh bột, dextrin, glycogen và cellulose), dạng không phải đường là một trong
những thành phần dinh dưỡng quan trọng cần thiết cho cá.
Tuy nhiên, đối với dạng xơ nếu chúng được sử dụng nhiều trong thức ăn sẽ làm
tăng lượng chất cặn trong thuỷ vực nuôi (do xơ không được tiêu hoá sẽ theo phân
thải ra môi trường nước), làm giảm hoạt động của enzyme tiêu hoá, làm chậm tốc
độ tiêu hoá và làm giảm khả năng hấp thu khoáng của cơ thể (xơ sẽ kết dính với
một số chất khoáng).
Theo kết quả nghiên cứu của Huỳnh Văn Hiền (2003), thức ăn có cùng mức
protein nhưng mức carbohydrate khác nhau thì ảnh hưởng đến tăng trọng, hệ số
(PUFA) nhóm n-3 và n-6. Đồng thời cung cấp các hợp phần khác tham gia vào
cấu trúc màng cơ bản và là dung môi để hòa tan và vận chuyển các chất tan trong
mỡ như vitamin A, D, E, K…Năng lượng thức ăn không được sử dụng ngay mà
được dự trữ dưới dạng glycogen và mỡ. Cá da trơn có khả năng dự trữ năng
lượng rất thấp nên mỡ là dạng dự trữ năng lượng chính. Lipid được dự trữ trong
gan, cơ và các dạng mô mỡ bao quanh thành ruột, hay tạo lớp mỡ rất lớn như cá
basa chiếm 25% thể trọng cá khi cá ăn thức ăn có quá nhiều năng lượng
(Mertrampf, 1992; trích bởi Trần Văn Nhì, 2005).
Lipid được bổ sung vào thức ăn thường là dầu động vật (dầu mực) và dầu thực
vật (dầu nành). Ngoài ra, lipid còn là chất tạo mùi kích thích tôm, cá,….Nếu trong
thành phần thức ăn của cá thiếu những acid béo cần thiết sẽ làm giảm tỷ lệ sống,
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
8
ăn mòn vi đuôi, thoái hoá gan (gan căng phồng lên, tái đi và có sự ứ đọng mỡ),
làm giảm tốc độ tăng trưởng và giảm tỷ lệ sống của cá con,…(Phạm Minh Thành,
2001).
Theo kết quả tổng quan về nhu cầu dinh dưỡng của một số loài cá trơn (Dương
Thúy Yên, 2000), các loài cá trơn có thể sử dụng mức lipid trong thức ăn khá lớn.
Cá nheo Mỹ vẫn tăng trưởng tốt ở mức lipid 15% hoặc hơn (Wilson và Moreau,
1996). Nhưng nếu lipid trong thức ăn quá nhiều sẽ dẫn đến sự tích lũy mỡ trong
thịt cá nhiều làm giảm chất lượng cá. Hơn nữa, lượng lipid nhiều còn ảnh hưởng
đến độ bền chặt của viên thức ăn và khó bảo quản. Do đó, Wilson và Moreau
(1996) đề nghị mức lipid thích hợp trong thức ăn của cá nheo Mỹ là từ 5-6%.
Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (1998) cá basa (16,4-16,9 g) cho ăn 7,7%
lipid tăng trưởng tốt nhất và cá giảm tăng trưởng khi lipid trong thức ăn từ 11,3-
20,8%. Wing (2000) cho biết cá lăng lớn nhanh nhất ở mức 8% dầu cọ thô hoặc
tinh chế. Từ các kết quả này, có thể đề nghị mức lipid trong thức ăn của một số
loài cá trơn từ 5-8%.
Kết quả thí nghiệm trên cá basa (17-19g) thì cá tăng trưởng tốt nhất ở nghiệm
thức 75% carbohydrate và 25% lipid (Mai Viết Thi, 1998).
biotin, folic acid và các vitamin đa lượng: cholin, inositol, vitamin C.
Nhu cầu vitamin A của cá nheo Mỹ là 450-900 UI/kg thức ăn (Robinson, 1989).
Ngoài cá nheo Mỹ, các đối tượng cá trơn khác ít được nghiên cứu về nhu cầu
vitamin do đó có thể xem nhu cầu của các loài cá trơn khác cũng tương tự như cá
nheo Mỹ.
2.2.6 Nhu cầu khoáng
Muối khoáng là những chất vô cơ rất cần thiết đối với cá để chúng xây dựng nên
cấu trúc bộ xương của cơ thể và giúp duy trì cân bằng áp suất thẩm thấu giữa dịch
cơ thể với môi trường ngoài. Đến nay, người ta đã xác định được 11 nguyên tố
cần thiết cho cá trơn bao gồm 4 nguyên tố đa lượng (canxi, phospho, magiê, kali)
và 7 khoáng vi lượng (sắt, chì, đồng, mangan, iod, cobalt và selenium(Se)).
Cá nheo Mỹ có thể hấp thu canxi từ môi trường nước đủ đáp ứng nhu cầu
(Robinson,1986; trích bởi Dương Thúy Yên, 2000).
Trong một số nguyên liệu làm thức ăn cho ca trơn có nhiều magiê, natri, kali và
chloride cung cấp đủ nhu cầu. Riêng canxi và phospho thường bổ sung vào thức
ăn với tỉ lệ 1:1 hoặc 2:1. Trong thực tế, để tránh hiện tượng thiếu khoáng, các nhà
sản xuất và nghiên cứu thường bổ sung premix khoáng từ 1-3% trong thức ăn.
Do cá hấp thu muối khoáng từ môi trường ngoài nên rất khó xác định nhu cầu
muối khoáng của cá, đặc biệt là khoáng vi lượng.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
10
2.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng thức ăn công nghiệp trong nuôi cá tra
Trong năm 2004, ở các tỉnh khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long nuôi cá tra với
sản lượng trên 300.000 tấn. Vì vậy, lượng thức ăn sử dụng nuôi cá là rất lớn.
Theo số liệu điều tra, ước tính số lượng thức ăn công nghiệp cung cấp cho thị
trường nuôi cá tra trong năm 2004 là khoảng 300.000 tấn, đáp ứng 66% yêu cầu
(giả thiết tất cả các hộ nuôi cá tra sử dụng thức ăn công nghiệp). Năm 2004, có
khoảng 18 công ty sản xuất thức ăn cho cá và cá nhiều loại sản phẩm xuất hiện ở
các vùng nuôi. Một số công ty sản xuất thức ăn với sản lượng lớn (60.000-
(Huỳnh Thị Tú và ctv, 2006).
Giá cả của các loại thức ăn viên hiện nay có sự biến động lớn từ 4.500 – 7.500
đồng/kg. Giá cả khác nhau tuỳ theo loại thức ăn và thành phần dưỡng chất trong
thức ăn. Nhìn chung, giá thức ăn công nghiệp được tính trên hàm lượng đạm có
trong thức ăn (đồng/độ đạm), giá trung bình là 200 – 250 đồng/độ đạm.
2.4 Tiêu chuẩn ngành về thức ăn hỗn hợp dạng viên cho cá Tra và Ba sa
Theo tiêu chuẩn ngành 28 TCN 188:2004 (trích bởi Trần Thị Thanh Hiền và ctv,
2004a) quy định các yêu cầu về chất lượng và an toàn vệ sinh thú y của thức ăn
hỗn hợp dạng viên (gọi tắt là thức ăn viên); được phối chế từ nhiều loại nguyên
liệu đảm bảo có đủ các chất dinh dưỡng; sử dụng để ương giống và nuôi cá tra và
basa thương phẩm. Tiêu chuẩn này được áp dụng trong phạm vi cả nước đối với
các cơ sở sản xuất và kinh doanh thức ăn viên cho cá tra và cá basa.
Thức ăn viên cho cá tra và cá basa gồm 6 loại sử dụng cho các giai đoạn phát
triển của cá với các số hiệu từ số 1 đến số 6.
Thức ăn viên cho cá tra và cá basa khi sản xuất phải có dạng hình trụ (hoặc mảnh)
đều nhau, bề mặt mịn, kích cỡ theo đúng số hiệu của từng loại thức ăn quy định.
Màu sắc và mùi vị đặc trưng của nguyên liệu phối chế, thức ăn có màu nâu vàng
đến nâu, không có mùi men mốc và mùi lạ khác.
Bên cạnh đó, đường kính viên thức ăn không lớn hơn 12mm, chiều dài so với
đường kính nằm trong khoảng 1,0-1,5 lần. Khi chế biến thức ăn tỷ lệ vụn nát
không lớn hơn 2% khối lượng, đồng thời độ bền không nhỏ hơn 30 phút. Hơn
nữa, năng lượng thô không nhỏ hơn 1500-3300 kcal cho 1 kg thức ăn, độ ẩm
không lớn hơn 11%, hàm lượng protein thô không nhỏ hơn 18-40%, hàm lượng
lipid thô không nhỏ hơn 3-8%, hàm lượng xơ thô không lớn hơn 6-8% và hàm
lượng tro không lớn hơn 10-16% khối lượng tuỳ theo số hiệu của từng loại thức
ăn quy định. Ngoài ra, cát sạn (tro không hoà tan trong HCl 10%) không lớn hơn
2%, hàm lượng phospho không nhỏ hơn 1%, natri clorua không lớn hơn 2,5%,
hàm lượng lyzin không nhỏ hơn 0,9-2,0%, methionin không nhỏ hơn 0,4-0,9%
khối lượng tuỳ theo số hiệu của từng loại thức ăn quy định.
Cùng với các quy định trên, các chỉ tiêu vi sinh và an toàn vệ sinh thú y của viên
- Máy đo pH, nhiệt kế…
3.4 Nguồn cá thí nghiệm
- Từ nguồn giống sản xuất nhân tạo.
- Cá được chọn đồng cỡ, không nhiễm bệnh, không dị tật, không xây xát, có kích
cỡ trung bình từ 45- 55 gam/con.
- Cá được giữ trong giai từ 7-10 ngày trước khi bắt đầu thí nghiệm.
3.5 Hệ thống thí nghiệm
- Hệ thống thí nghiệm gồm 20 giai (1m
3
) bằng lưới đặt trong ao sâu 2m, diện tích
1000m
2
.
- Nguồn nước thí nghiệm lấy từ một nhánh sông nhỏ của sông Hậu.
Hình 3.1: Hệ thống giai thí nghiệm
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
14
3.6 Bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 lần lập lại cho mỗi nghiệm
thức.
- Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức với 5 loại thức ăn khác nhau. Nguồn thức ăn là
những loại thức ăn công nghiệp dùng cho giai đoạn giống của các công ty ngoài
nước và trong nước được bán phổ biến trên thị trường.
- Mật độ cá thí nghiệm 30 con/ giai. Cỡ cá: 45-55 g/con.
- Thời gian thí nghiệm 2 tháng.
3.7 Chăm sóc và quản lý
- Cá được cho ăn theo nhu cầu , mỗi ngày cho ăn 2 lần, vào lúc 8 giờ và 17 giờ.
- Nước trong giai thông với nước ao và ao được thay nước theo triều cường.
- Cá được theo dõi hàng ngày.
- Tro: mẫu sau khi làm ẩm độ được đem nung ở nhiệt độ 560
0
C trong khoảng 4
giờ (khi mẫu có màu trắng hoàn toàn).
- Protein thô: phương pháp Kjenldal.
- Lipid thô: thủy phân trong Chloroform bằng hệ thống Soxlet.
- Năng lượng thô: được đo bằng máy Parr 6100 Calorimeter.
3.9 Các chỉ tiêu thu thập tính toán và xử lý số liệu
3.9.1 Các chỉ tiêu
Tăng trưởng
- Tốc độ tăng trưởng tương đối (Specific growth rate, SGR) w
c
: Khối lượng cuối (gam)
w
đ
: Khối lượng đầu (gam)
T: Thời gian nuôi
- Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối theo ngày (DWG)
Lượng thức ăn tiêu tốn được ghi nhận hằng ngày và tính hiệu quả sử dụng thức
ăn, sử dụng protein.
- Hệ số thức ăn (Feed conversion ratio, FCR)