TCNCYH 21 (1) - 2003
Tình hình Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
điều trị nội trú tại khoa Hô Hấp bệnh viện bạch mai
trong 5 năm (1996-2000)
Ngô Quý Châu
Đại học Y Hà Nội
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu hồi cứu 3606 bệnh nhân vào điều trị nội trú tại khoa Hô Hấp Bệnh
viện Bạch Mai trong 5 năm (từ 1/1/1996 đến 31/12/2000) theo bảng phân loại quốc tế bệnh tật lần
thứ X. Có 904 ngời khi ra viện đợc chẩn đoán BPTNMT (25,1%), là bệnh lý đứng hàng đầu, trong
đó có 142 BN (15,7%) có biến chứng tâm phế mãn. Tỷ lệ nam/nữ là 2,13. Lứa tuổi thờng gặp là
trên 50 tuổi (81,6%). 275/299 (92,0%) trờng hợp ở bệnh án có thông tin về thói quen hút thuốc là
bệnh nhân đang hoặc tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào hoặc cả 2 loại, và 24 trờng hợp không hút
thuốc (8,0%). Các triệu chứng thờng gặp là: ho khạc đờm (80.75%), khó thở (78.65%), nghe phổi
có tiếng ran rít, ran ngáy (42%). Có 238 BN (29,9%) đợc đo chức năng thông khí với FEV1 so với
trị số lý thuyết: 56,5 27,35 % và tỷ số FEV1/FVC: 64 24,55%. 10/89 BN có tỷ số FEV1/FVC
>75% nhng chỉ số Tiffeneau FEV1/VC lại <70% chứng tỏ chỉ số này nhạy hơn tỷ số FEV1/FVC
trong chẩn đoán rối loạn thông khí tắc nghẽn. Thời gian nằm viện trung bình của mỗi BN: 12.9
ngày. Kết luận: BPTNMT là bệnh lý hàng đầu ở khoa chúng tôi và vẫn còn một số vấn đề bất cập
trong chẩn đoán và điều trị bệnh này.
I. Đặt vấn đề
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn
tính (BPTNMT)
đợc định nghĩa là tình trạng bệnh lý đặc trng
bởi rối loạn thông khí tắc nghẽn không có khả
năng hồi phục hoàn toàn, sự tắc nghẽn thông
khí thờng tiến triển từ từ và liên quan đến
phản ứng viêm bất thờng của phổi do các khí
hoặc phân tử nhỏ độc hại [5]. BPTNMT bao
bệnh viện Bạch Mai trong 5 năm (từ 1/1/1996
đến 31/12/2000).
2. Phơng pháp nghiên cứu
2.1. Phơng pháp hồi cứu: Thông tin liên
quan đến bệnh nhân (BN) đợc khai thác từ
bệnh án lu trữ tại phòng Hồ sơ bệnh viện Bạch
Mai.
2.2. Các thông tin đợc thu thập:
- Khai thác tiền sử, chẩn đoán khi vào viện
và khi ra viện của khoa Hô hấp.
- Các triệu chứng lâm sàng (TCLS) đợc
khai thác từ bệnh án khi vào viện, bệnh lịch và
nhận xét diễn biến lâm sàng hàng ngày của bác
sĩ điều trị.
35
TCNCYH 21 (1) - 2003
- Các xét nghiệm cận lâm sàng đợc khai
thác từ các phiếu xét nghiệm trong bệnh án và
kết quả xét nghiệm ở phần theo dõi BN hàng
ngày.
2.3. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:
- Bệnh sử:
Ho khạc đờm, kéo dài trong 3 tuần lễ mỗi
tháng, ít nhất 3 tháng trong 1 năm và trong 2
năm liên tiếp.
Khó thở: mới đầu khó thở khi gắng sức, về
sau khó thở cả khi nghỉ ngơi.
- Khám hô hấp:
Khi bệnh nhân có giãn phế nang có thể có
điều trị nội trú tại khoa Hô Hấp, trong đó có
904 BN đợc chẩn đoán lúc ra viện là
BPTNMT, chiếm 25,1% tổng số bệnh nhân và
đứng hàng đầu trong các bệnh lý.
- Giới: Nam: 615/ 904 bệnh nhân (68,0%)
Nữ: 289/ 904 bệnh nhân (32, 0%), tỷ lệ
nam/nữ là 2,13.
- Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi: đợc
trình bày ở bảng 1.
Bảng 1. Phân bố theo nhóm tuổi của
BPTNMT
STT Nhóm tuổi n %
1 20-29 17 1.88
2 30-39 68 7.52
3 40-49 81 8.96
4 50-59 148 16.37
5 60-69 289 31.97
6 >= 70 301 33.30
Tổng số 904 100%
2. Tiền sử
2.1. Tiền sử bệnh
518 BN có tiền sử BPTNMT (chiếm 57.3%
trong tổng số 904 BN BPTNMT). Điều này
chứng tỏ ở các BN này bệnh đã diễn biến kéo
dài từ trớc, gây hậu quả lớn, ảnh hởng nhiều
đến nền kinh tế xã hội. Tuy nhiên có tới 42,7%
bệnh nhân không có tiền sử bệnh chứng tỏ các
bệnh nhân này không đợc chẩn đoán sớm.
BPTNMT là hút thuốc lá, thuốc lào [2, 5].
3. Triệu chứng lâm sàng
Các triệu chứng lâm sàng (TCLS) đợc trình
bày ở bảng 2.
Bảng 2. Triệu chứng lâm sàng của BPTNMT
STT TCLS n %
1 Ho khạc đờm 730 80.7
2 Khó thở 711 78.6
3 Ran rít, ngáy 380 42.0
4 Sốt 376 41.6
Đau ngực 318 35.2
6 Ran ẩm 344 38.0
7 Ran nổ 272 30.1
8 TCLS của tâm phế mạn 142 15.7
Qua bảng này ta thấy các triệu chứng
thờng gặp nhất là: ho khạc đờm (80.7%), khó
thở (78.6%). Triệu chứng khó thở chứng tỏ BN
đã ở giai đoạn bệnh nặng. Nh chúng ta biết ở
BN bị BPTNMT sau nhiều đợt suy hô hấp sẽ
dẫn đến tình trạng tâm phế mạn. Theo nghiên
cứu này tỷ lệ tâm phế mạn là 15.7%. Nh vậy
nhiều bệnh nhân có tiến triển nặng, cần giáo
dục ý thức phòng bệnh và chẩn đoán, điều trị
tích cực lúc bệnh còn ở giai đoạn sớm nhằm
làm hạn chế tiến triển xấu.
4. X quang phổi
607/ 904 BN (67,2%) có thông tin về X
quang phổi, trong đó có 147 BN không thấy
tổn thơng trên X quang (16,3%). Hình ảnh
FEV1/VC <70%. Vì vậy khi có chỉ số dung
tích sống thở ra chậm VC thì nên dùng chỉ số
Tiffeneau FEV1/VC <70% làm tiêu chuẩn chẩn
đoán rối loạn thông khí tắc nghẽn. Có thể 79
BN còn lại mới chỉ có các dấu hiệu ho khạc
đờm kéo dài của viêm phế quản mãn tính đơn
thuần mà cha có rối loạn thông khí tắc nghẽn,
đợc xếp vào giai đoạn 0 theo phân loại của
Chơng trình toàn cầu phòng chống BPTNMT
(GOLD) 2001 [5].
Trị số trung bình của FEV1% so với trị số lý
thuyết là 56, 5% chứng tỏ một số lớn các bệnh
nhân có rối loạn thông khí tắc nghẽn mức độ
nặng vừa (Giai đoạn II a theo phân loại của
Chơng trình toàn cầu phòng chống BPTNMT.
Đo CNTK rất cần thiết để khẳng định chẩn
đoán trong chẩn đoán BPTNMT, giúp chẩn
đoán sớm, đánh giá mức độ nặng nhẹ, theo dõi
diễn biến và tiên lợng bệnh [5]. ở đây CNTK
cha đợc làm thờng qui ở những BN
BPTNMT có lẽ do nhiều nguyên nhân: do điều
kiện kinh tế hoặc bác sĩ không chỉ định hoặc
kết quả cha đợc quản lý tốt theo hồ sơ của
mỗi BN hoặc cũng có thể ở những BN quá nặng
nên không đo đợc CNTK.
6. Các biện pháp điều trị và kết quả
6. 1. Các biện pháp điều trị
- Sử dụng kháng sinh: nhiễm khuẩn là yếu
tố nguy cơ quan trọng gây đợt cấp của
đích chống viêm, giảm phù nề tại chỗ, với chủ
yếu là budesonide (Pulmicort) nhng trong đó
có 27 trờng hợp sử dụng Hydrocortisol là
thuốc hiện nay không dùng trong BPTNMT.
Vai trò của Corticoid trong đợt cấp của
BPTNMT đã đợc nhiều y văn thảo luận [4].
- Sử dụng ôxy: là một biện pháp điều trị
quan trọng ở các BN có suy hô hấp mạn tính.
Trong nghiên cứu này có 158 trờng hợp đã
đợc thở ôxy trong quá trình điều trị ở bệnh
viện (17,48%).
6.2. Kết quả điều trị
Trong nghiên cứu này chúng tôi thấy thời
gian nằm viện trung bình của mỗi BN là 12,9
ngày trong đó nhiều nhất là 70 ngày, ít nhất là
1 ngày. Thống kê thấy kết quả điều trị đỡ ở 730
BN (80,7%), không đỡ: 65 (7,2 %), nặng hơn:
16 (1,8 %), chết: 2 (0,2%). Có 91 Bn đợc coi
là khỏi khi ra viện nhng chúng tôi nghĩ đây là
một bệnh mạn tính dai dẳng, các BN vào viện
trong đợt bùng phát của bệnh và ra viện khi hết
các triệu chứng của đợt cấp của bệnh chứ
không khỏi hẳn đợc. Tỷ lệ tử vong thấp do các
trờng hợp BN bị đợt cấp nặng nguy kịch đợc
điều trị tại khoa Hồi sức cấp cứu và một số
trờng hợp nặng gia đình xin về.
V. Kết luận
- Trên tổng số 3606 BN điều trị nội trú tại
khoa Hô hấp bệnh viện Bạch Mai trong 5 năm
(1996-2000), có 904 BN bị BPTNMT ( 25,1%)
đợc dùng ở 30,5% các trờng hợp.
- Kết quả điều trị: 80,7% đỡ.
- Còn nhiều vấn đề bất cập trong công tác
chẩn đoán, quản lý điều trị và dự phòng
BPTNMT cần sớm đợc khắc phục qua công
tác đào tạo, đào tạo lại nhân viên y tế.
38
TCNCYH 21 (1) - 2003
Tài liệu tham khảo
1. Tôn Thất Bách, Nguyễn Gia Khánh
(1996): Nhận xét về ảnh hởng của ô nhiễm
môi trờng đối với tình hình sức khoẻ - bệnh
tật và mô hình bệnh tật của nhân dân tại 2 xã
Nhật Tân và Hoàng Tây thuộc huyện Kim
Bảng, tỉnh Hà Nam - Kỷ yếu công trình nghiên
cứu khoa học Đại học Y Hà Nội, 2: 115 - 130.
2. Ban phòng chống tác hại thuốc lá- Bộ Y
tế (1999): Một số kết quả điều tra về tình hình
hút thuốc lá ở Việt nam và các bệnh có liên
quan. Nhà xuất bản Y học- Hà Nội.
3. Đào Kỳ Hng, Nguyễn Văn Thành,
Nguyễn Hải Anh (1998): Tình hình bệnh phổi
tại khoa Hô hấp bệnh viện Bạch Mai (1991-
1995). Công trình nghiên cứu khoa học bệnh
viện Bạch Mai, 1997-1998, tập II, Trang 47-53.
4. Võ Hồng Sinh (2000): Nghiên cứu về tình
hình chẩn đoán, điều trị và một số đặc điểm
chức năng hô hấp ở BN VPQMT - Luận án tiến
sĩ y học, Đại học Y Hà Nội, 3: 70.