NHỮNG THÁCH THỨC TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Pdf 11

Chuyên đề: Thách thức trong công tác quản lý tài nguyên nước ở tpHCM
MỤC LỤC
Lớp Quản Lý Môi Trường- khóa 2012 Trang 1
Chuyên đề: Thách thức trong công tác quản lý tài nguyên nước ở tpHCM
I. Mục tiêu
- Biết được các nguyên nhân gây ô nhiễm, suy giảm nguồn tài nguyên nước tại thành phố
Hồ Chí Minh.
- Hiểu rõ được các tồn tại, thách thức và khó khăn trong công tác quản lý tài nguyên nước
tại địa phương.
- Đề xuất các giải pháp nhằm từng bước quản lý bền vững nguồn tài nguyên nước tại
thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung.
II. Tổng quan Tài nguyên nước trên thế giới, Việt Nam và tại TP.HCM
Nước là một trong những thành phần cơ bản của môi trường và là một trong những
nguồn tài nguyên thiên nhiên (nước, đất, không khí) góp phần duy trì sự sống trên hành
tinh.
2.1 Trên thế giới
Lớp Quản Lý Môi Trường- khóa 2012 Trang 2
Hình 1: Tỉ lệ tài nguyên nước trên thế giới (Nguồn: Cục địa chất Mỹ)
Chuyên đề: Thách thức trong công tác quản lý tài nguyên nước ở tpHCM
Tổng lượng nước trên trái đất khoảng 1.386 triệu km
3
. Trong đó 97% lượng nước ở toàn
cầu là ở đại dương, 3% còn lại là nước ngọt tồn tại ở dạng băng tuyết, nước ngầm, sông
ngòi và hơi nước trong không khí. Trong khoảng 35 triệu km
3
nước ngọt trên toàn thế
giới, nước ngầm chiếm khoảng 30,1%, băng tuyết chiếm 68,7%, nước sinh vật 0,003%,
nước trong khí quyển 0,04%, nước trong ao hồ, đầm lầy và trong dòng sông chiếm chỉ
chưa đầy 0,3%.
2.2 Tại Việt Nam
2.2.1 Tài nguyên nước mặt

Chuyên đề: Thách thức trong công tác quản lý tài nguyên nước ở tpHCM
Xét chung trên cả nước, nước mưa trung bình hàng năm trên toàn lãnh thổ nước tả
khoảng 650 km3, khối lượng nước này nếu đem trải đều trên bề mặt đất liền sẽ có lớp
nước mưa dày khoảng 1960mm. Tài nguyên nước mưa của nước ta nhiều hơn khoảng 2,5
lần so với lượng trung bình của trái đất (800mm); 2,6 lần so với Châu Á (742mm). Hằng
năm mỗi người dân nhận được 8125 m
3
nước trời cho.
Tuy nhiên lượng mưa hàng năm không cố định mà dao động từ năm này qua năm khác
trong một phạm vi nào đó. Có khoảng 65 – 90% lượng mưa tập trung trong 3-6 tháng
mùa mưa, còn chỉ 10 – 35% năm trong 6 – 9 tháng mùa khô.
2.2.3 Nước ngầm
Lớp Quản Lý Môi Trường- khóa 2012 Trang 5
Hình 5: Lượng mưa trung bình năm trên lãnh thổ Việt Nam
Chuyên đề: Thách thức trong công tác quản lý tài nguyên nước ở tpHCM
2.3 Tại TPHCM
Đối với các đô thị tại các nước đang phát triển, nước ngày càng đóng vai trò quan trọng
cho sự phát triển bền vững đô thị. Từ khi quá trình đổi mới bắt đầu năm 1986, Thành
phố Hồ Chí Minh đã trải qua quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng. Do
đó, Thành phố đã và đang đối mặt với những vấn đề về môi trường đô thị trong đó việc
quản lý và sử dụng nguồn nước là một trong những thách thức đối với quá trình phát
triển bền vững, bao gồm: thiếu nguồn nước cấp, ô nhiễm nước mặt và cạn kiệt nguồn
nước ngầm. Nguyên nhân sâu xa là do những bất cập trong công tác quản lý.
2.3.1 Nước mặt
Hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai, nguồn cung cấp nước chính cho TPHCM, trữ lượng
nước hệ thống sông này ước tính cung cấp 38,6 tỉ m
3
/năm nhưng hiện tại chất lượng nước
đang bị ô nhiễm vi sinh và hữu cơ rất cao. Mỗi ngày, hệ thống này tiếp nhận trên 3 triệu
m

/s.
Lớp Quản Lý Môi Trường- khóa 2012 Trang 7
Chuyên đề: Thách thức trong công tác quản lý tài nguyên nước ở tpHCM
b. Sông Sài Gòn
Một phần của sông Sài Gòn, TP Hồ Chí Minh bắt đầu từ xã Phú Mỹ đến Thạnh Mỹ Lợi,
quận 2. Chiều rộng của sông là 250-350 m. Độ sâu sông là 10-20 m. Lưu lượng tối đa là
84 m
3
/s vào 10/1986 (ghi nhận tại ga T3, tỉnh Bình Dương) và lưu lượng tối thiểu là 22,5
m
3
/s vào 08/1986. Sông Sài Gòn bị ảnh hưởng bởi chế độ dòng chảy thủy triều bán nhật
triều.
Hồ Dầu Tiếng ảnh hưởng đến một khu vực rộng lớn của lưu vực sông Sài Gòn (2.700
km
2
). Khối lượng của nó là 105 triệu m
3
. Nó cung cấp nước tưới tiêu và nước sạch trên
Lớp Quản Lý Môi Trường- khóa 2012 Trang 8
Hình 7: Hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai
Chuyên đề: Thách thức trong công tác quản lý tài nguyên nước ở tpHCM
địa bàn tỉnh Tây Ninh và TP Hồ Chí Minh. Hệ thống kênh mương thủy lợi của sông Sài
Gòn cũng là một nguồn bổ sung nước ngọt đáng kể cho các tầng ngậm nước ngầm trong
lưu vực kênh rạch, nằm ở phía tây và phía tây nam của TP Hồ Chí Minh. Hơn nữa, hồ
cũng góp phần đẩy lùi các điểm độ mặn vì nó phóng nước cho hạ lưu sông Sài Gòn ở
mức 20 m
3
/s.
2.3.2 Nước mưa

/ngày, trong đó lưu lượng khai thác được cấp phép chỉ chiếm
khoảng 320.000 m
3
/ngày.
Lớp Quản Lý Môi Trường- khóa 2012 Trang 9
Chuyên đề: Thách thức trong công tác quản lý tài nguyên nước ở tpHCM
Theo các chuyên gia Sở TNMT, tuy lưu lượng khai thác hiện nay vẫn nằm trong giới hạn
cho phép (mức khai thác an toàn là 830.000 m
3
/ngày) nhưng đã xuất hiện tình trạng tận
dụng triệt để nguồn nước ngầm (thay vì sử dụng nước máy) để giảm chi phí.
Theo báo cáo của Sở TNMT, lún mặt đất diễn ra tập trung tại các KCN như Tân Bình,
Tân Tạo, Vĩnh Lộc Do khai thác nước ngầm tập trung với lưu lượng lớn, hiện nay, trữ
lượng khai thác an toàn nhiều nơi bị khai thác cạn kiệt, gây mất cân bằng nước. Nguồn
nước ngầm đã được tuỳ tiện khai thác ở mức độ đáng báo động, bằng chứng là sự suy
giảm nghiêm trọng nước ngầm, độ sâu các giếng khoan ngày càng sâu hơn, sự xâm nhập
mặn được quan sát thấy trong các giếng giám sát.
Trong khi đó, tình trạng bê tông hóa ở nhiều nơi đang có tốc độ đô thị hóa nhanh hạn chế
khả năng hấp thụ nước tự nhiên bổ sung trữ lượng các tầng nước ngầm.
3.2 Nhu cầu sử dụng
Tổng nhu cầu nước cho mục đích sinh hoạt và công nghiệp năm 2006 là 1,75 triệu m3, và
được ước tính là 3,6 triệu m3 vào năm 2020. Tỷ lệ bao phủ cấp nước tại TP Hồ Chí Minh
tăng từ 52% vào năm 1997 đến 84% vào năm 2004. Tuy nhiên, tỷ lệ dòng chảy thất thoát
là tương đối cao so với các thành phố châu Á khác. Tuy nhiên, chỉ có 76% cư dân đô thị
được cung cấp nước sạch của SAWACO, 10,5% dân số ngoại thành được sử dụng nước
sạch từ các chương trình của UNICEF. Con số thực tế vẫn còn vô hạn bởi vì một số
lượng lớn người dân ở các huyện ngoại thành vẫn chưa được tiếp cận với nước uống sạch
và an toàn.
Lớp Quản Lý Môi Trường- khóa 2012 Trang 10
Hình 8: Nhu cầu dùng nước ngầm qua các năm tại TP.HCM (2006)

3
và 35.000 m3 (2000). Khối lượng dự kiến nước thải sinh hoạt sẽ
được 2.100.000 m
3
/ngày.đêm trong năm 2020.
Đồng thời, theo kết quả thống kê các nguồn thải công nghiệp trên địa bàn TPHCM từ
năm 2010 đến 2012 được thực hiện trên địa bàn 24 quận/huyện với 826 nguồn thải, chỉ
có khoảng 60% nguồn thải có hệ thống xử lý nước thải, các nguồn thải còn lại chỉ qua xử
lý sơ bộ (bể tự hoại) trước khi xả thải ra môi trường.
3.4 Hiện trạng chất lượng
Trong kỳ quan trắc tháng 2/2013, mực nước cao nhất lúc triều dâng Hmax dao động từ
114cm (Bến Súc) – 161cm (Hóa An). So với tháng 1/2013, Hmax tháng 2/2013 có giá trị
nhỏ hơn từ 6cm (Bến Súc) đến 16cm (Nhà Bè). So với Hmax tháng 2/2012, thì Hmax
tháng 2/2013 lại có xu hướng lớn hơn từ 1cm (Thị Tính, Phú Cường) đến 14cm (Ngã Bảy,
Cái Mép).
Mực nước chân triều thấp nhất (Hmin) tháng 2/2013 dao động từ (-176cm) (Cửa Cái
Mép) đến (-26cm) (Bến Súc). So với tháng 1/2013, Hmin tháng này có xu hướng lớn hơn
từ 17cm (Bình Điền) đến 83cm (Ngã Bảy). Còn so với tháng 2/2012 thì Hmin tháng này
cũng có xu hướng lớn hơn từ 39cm (Bến Súc) đến 75cm (Vàm Sát).
Lưu tốc cực đại lúc triều rút Vmax
+
tháng 2/2013 tại 10/15 trạm có xu thế nhỏ hơn tháng
trước từ 0,008m/s đến 0,211m/s, và nhỏ hơn lưu tốc cực đại lúc triều rút của cùng kỳ năm
trước tại 9/15 trạm, từ 0,008 m/s đến 0,158 m/s.
Lưu tốc cực đại lúc triều dâng vào tháng 2/2013 tại 9/15 trạm có xu hướng nhỏ hơn tháng
trước từ 0,002m/s đến 0,122m/s, nhưng lại có xu hướng lớn hơn lưu tốc cực đại lúc triều
dâng của cùng kỳ năm trước (tháng 2/2012) từ 0,007m/s đến 0,182m/s tại 12/15 trạm.
Lưu lượng bình quân trong tháng 1 này nhìn chung nhỏ hơn giá trị lưu lượng bình quân
của tháng trước (tháng 1/2013) tại 8/15 trạm, nhưng lại có xu hướng lớn hơn giá trị lưu
lượng bình quân của cùng kỳ năm trước (tháng 2/2012) tại 8/15 trạm.

nhưng cần phải có các biện pháp xử lý phù hợp; 2 trạm Hóa An và kênh N46 có chất
lượng nước dùng cho cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương khác.

Chất lượng nước tại các trạm quan trắc nước mặt dùng cho các mục đích khác:
Nhìn chung, các chỉ tiêu pH, BOD
5
, COD và nồng độ dầu đo được trong tháng 02/2013
tại các trạm quan trắc đều đạt quy chuẩn cho phép đối với nguồn nước mặt loại B1
(QCVN 08:2008/BTNMT). Riêng DO tại 56% các trạm quan trắc và Coliform tại 19%
các trạm vượt quy chuẩn cho phép nêu trên.
So với tháng 01/2013, các chỉ tiêu pH, COD và nồng độ dầu có xu hướng tăng tại 56 –
69% các trạm quan trắc. Các chỉ tiêu DO, BOD
5
và Coiform có xu hướng giảm tại 56 –
88% các trạm.
So với cùng kỳ năm 2012, chỉ tiêu BOD
5
có xu hướng tăng tại 94% các trạm quan trắc.
Các chỉ tiêu pH, DO, COD nồng độ dầu và Coliform có xu hướng giảm tại 63 – 81% các
trạm.
Kết quả phân tích kim loại nặng: Pb, Cd, Hg, Cu ở các trạm đều đạt quy chuẩn cho phép
đối với nguồn nước mặt loại B1 (QCVN 08:2008/BTNMT).

Chất lượng nước biển ven bờ:
Lớp Quản Lý Môi Trường- khóa 2012 Trang 13
Chuyên đề: Thách thức trong công tác quản lý tài nguyên nước ở tpHCM
Nhìn chung kết quả quan trắc nước biển ven bờ thuộc 2 khu vực nuôi trồng thuỷ sản và
bãi tắm trong tháng 02/2013 hầu hết các chỉ tiêu đều đạt quy chuẩn cho phép (QCVN
10:2008/BTNMT; giới hạn khu vực nuôi trồng thủy sản và khu vực bãi tắm). Một số chỉ
tiêu vượt quy chuẩn như: COD có 3/9 vị trí quan trắc vượt quy chuẩn 1,3 – 2,7 lần (bãi

Chuyên đề: Thách thức trong công tác quản lý tài nguyên nước ở tpHCM
Nồng độ sắt tổng tại các trạm cũng chỉ đạt tiêu chuẩn nguồn nước loại B, độ pH trong
nước ngầm tại nhiều khu vực vẫn rất thấp và chỉ xứng tầm chất lượng nước loại C. Mức
độ ô nhiễm tập trung nhiều hơn ở ngoại thành, đặc biệt tại Đông Thạnh, Gò Cát, Linh
Xuân, Trường Thọ, Đông Hưng Thuận và Bình Hưng.
Các chỉ tiêu vi sinh khác như Coliform, E-coli vẫn xuất hiện trong nước ngầm. Đáng chú
ý là suốt từ năm 2004 đến nay, Coliform luôn hiện diện trong các kết quả quan trắc nước
ngầm, đồng nghĩa nước ngầm hầu như đã bị ô nhiễm vi sinh!. Những cuộc khảo sát độc
lập của Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn TPHCM cũng cho
thấy, nước ngầm tại các quận 9, Thủ Đức, Hóc Môn, Củ Chi, Nhà Bè, Bình Chánh đã bị
nhiễm vi sinh nặng.
IV. THÁCH THỨC TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC
4.1. Thách thức chung trong công tác quản lý tài nguyên nước ở nước ta
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, tiềm năng nguồn nước được đánh giá là khá
dồi dào. Để sử dụng bền vững nguồn tài nguyên này là thách thức rất lớn đối với nước ta,
vì:
- Tài nguyên nước ở Việt Nam phân bố rất không đồng đều theo thời gian và không gian
Lớp Quản Lý Môi Trường- khóa 2012 Trang 15
Hình 9: Mức sụt giảm mực nước ngầm tại các quận ở TP.HCM
Hình 9: Mức sụt giảm mực nước ngầm tại các quận ở TP.HCM
Chuyên đề: Thách thức trong công tác quản lý tài nguyên nước ở tpHCM
- Hơn 60% tổng lượng nước chảy qua lãnh thổ Việt Nam xuất phát từ nước ngoài. Vì vậy,
việc sử dụng nước ở nước ta phụ thuộc rất lớn vào việc sử dụng nước của các nước
thượng lưu
- Đến nay nếu tính bình quân đầu người với tổng lượng nước mặt ở Việt Nam khoảng
9856m
3
/người.năm dự tính đến năm 2025 là 2830 m
3
/người.năm. Như vậy, trong tương

sông
 Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 và Nghị định số 115/2008/NĐ-
CP ngày 14/11/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của
Pháp lệnh khai thác và bảo vệ CTTL.
 Quyết định số 104/2000/QĐ-TTg ngày 25/08/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt chiến lược quốc gia về cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn đến năm
2020
 Quyết định số 150/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005của Thủ tướng chính phủ phê
duyệt quy hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông lâm nghiệp, thuỷ sản cả nước
đến năm 2010 và tầm nhìn 2020
 Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg ngày 14/4/2006 của Thủ tướng chính phủ phê
duyệt chiến lược quốc gia về TNN đến năm 2020
 Quyết định số 110/2007/QĐ-TTg ngày 18/7/2007của Thủ tướng chính phủ về phê
duyệt quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006-2015 có xét đến năm
2025.
 Quyết định số 172/2007/QĐ-TTg ngày 16/11/2007 của Thủ tướng chính phủ về
phê duyệt chiến lược quốc gia về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm
2020
 Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 của chính phủ phê duyệt
chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.
 Pháp lệnh số 32/2008/PL-UBTVQH10 về pháp lệnh khai thác và bảo vệ công
trình thuỷ lợi
 Quyết định 1590/QĐ-TTg ngày 09/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
định hướng chiến lược phát triển thuỷ lợi Việt Nam
 Ngoài ra còn có rất nhiều các Quyết định, các thông tư liên Bộ của các Bộ đưa ra
có liên quan đến quản lý tổng hợp tài nguyên nước và phát triển ngành thuộc Bộ
quản lý.
Lớp Quản Lý Môi Trường- khóa 2012 Trang 17
Chuyên đề: Thách thức trong công tác quản lý tài nguyên nước ở tpHCM
Những tồn tại trong công tác quản lý tổng hợp tài nguyên nước hiện nay có thể kể đến

Lớp Quản Lý Môi Trường- khóa 2012 Trang 18
Chuyên đề: Thách thức trong công tác quản lý tài nguyên nước ở tpHCM
Trung tâm Điều hành chương trình chống ngập TP.HCM vẫn đang nghiên cứu và đề xuất
thành phố xây dựng hồ điều tiết nước ở khu vực Gò Dưa, quận Thủ Đức. Khu vực này
nằm ven sông Sài Gòn, địa thế thấp là một trong những khu vực bị ngập nặng nhất thành
phố.
Từ nhiều năm nay, Tổng Công ty Cấp nước TP.HCM (Sawaco)- đơn vị cung cấp tới hơn
80% nguồn nước sạch cho TP.HCM đã có hợp tác và hợp đồng làm việc với Ban quản lý
Hồ Dầu Tiếng. Vai trò điều tiết nước của hồ Dầu Tiếng, hồ Trị An và cả hồ Phước Hòa
nằm trên sông Sài Gòn không chỉ xả nước ngọt, đẩy nước mặn, quy hoạch cấp nước
TP.HCM đến năm 2025 còn tính đến khả năng xây dựng một tuyến ống dẫn nước từ các
hồ trên về các nhà máy nước trong tình huống nước sông Sài Gòn và Đồng Nai ô nhiễm,
nhiễm mặn nghiêm trọng.
2. Kiểm soát các nguồn ô nhiễm do hoạt động công nghiệp trên địa bàn thành phố
Theo kết quả thống kê các nguồn thải công nghiệp trên địa bàn TP.HCM từ năm 2010-
2012 được thực hiện trên địa bàn 24 quận/huyện với 826 nguồn thải, chỉ có khoảng 60%
nguồn thải có hệ thống xử lý nước thải, các nguồn thải còn lại chỉ qua xử lý sơ bộ (bể tự
hoại) trước khi xả thải ra môi trường.
Thống kê nguồn thải theo ngành nghề cũng cho thấy các ngành chiếm số lượng nhà máy
lớn gồm: dệt nhuộm, may mặc (21%), sản xuất sản phẩm từ kim loại 911%), hóa chất
(9%), thực phẩm (8%).
Vì vậy đây là một thách thức quan trọng mà thành phố cần giải quyết để hạn chế hậu quả
của tình trạng ô nhiễm nước do hoạt động công nghiệp này gây ra.
3. Kiểm soát chất lượng nước mặt
Như những phân tích hiện trạng chất lượng nước mặt đã nhắc đến ở các phần trước của
chuyên đề thì đây cũng là một trong những thách thức lớn hiện hữu cần giải quyết càng
sớm càng tốt.
4. Hạn chế việc khai thác, sử dụng nước ngầm; nâng cao hiệu quả việc sử dụng đúng
mục đích
Nước ngầm tại TP.HCM đang dần cạn kiệt vì bị khai thác bừa bãi, sử dụng lãng phí. Tại

biến đổi khí hậu. Theo công bố kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH) với mực nước biển
dâng của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy, nếu mực nước biển dâng thêm 75cm thì
khu vực TP.HCM có khoảng 204km
2
diện tích đất bị ngập (chiếm 10% tổng diện tích) và
khi mực biển dâng 100cm sẽ có khoảng 472km
2
bị ngập. Với kịch bản này, nước biển
dâng không chỉ ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của thành phố mà còn ảnh hưởng đến cả
khu vực phía Nam. Khi mực nước biển dâng, sẽ kéo theo hàng loạt vấn đề về kinh tế và
xã hội, thiếu nước ngọt, xâm nhập mặn sẽ xảy ra gây ảnh hưởng đến sản xuất nông
nghiệp, các hoạt động công nghiệp và sinh hoạt, làm mất cân đối giữa khai thác và tái tạo
nguồn nước ngầm.
V. TỔNG HỢP, KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ
Lớp Quản Lý Môi Trường- khóa 2012 Trang 20
Chuyên đề: Thách thức trong công tác quản lý tài nguyên nước ở tpHCM
5.1. Tổng hợp
5.1.1. Một số định hướng quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở Việt Nam
- Tiếp tục rà soát, bổ sung các văn bản pháp quy khác liên quan đến công tác quản lý tổng
hợp TNN
- Tăng cường năng lực cho Cục Quản lý TNN cả về cơ sở vật chất, nhân lực, phương tiện
quản lý
- Đào tạo, đào tạo lại để nâng cao kiến thức quản lý tổng hợp TNN cho cán bộ làm việc
trong lĩnh vực này
- Hoàn thiện bộ máy quản lý TNN từ Trung ương đến địa phương, trong đó kiến nghị lập
đơn vị Thanh tra ngành nước
- Nghiên cứu xây dựng lại mô hình phù hợp cho Hội đồng quốc gia về TNN để phát huy
đầy đủ vai trò của tổ chức này trong việc tư vấn cho Chính phủ quyết định các chính sách
quan trọng cho ngành nước.
- Nghiên cứu cải tổ hoặc thành lập mới các tổ chức lưu vực sông trên cơ sở Điều 64 Luật

6. Quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước tại TPHCM đến năm 2020.
Mục tiêu chính của những chiến lược là tăng cường quản lý tài nguyên nước, bao gồm:
7. Bảo vệ tài nguyên nước ngầm bằng cách giảm tỷ lệ khai thác với giá trị dưới
500.000m3/ngày đêm vào năm 2010
8. Cải thiện chất lượng nước mặt sông Sài Gòn và sông Đồng Nai. Chất lượng nước có
thể đạt quy chuẩn quốc gia QCVN 24: 2009/BTNMT loại A vào năm 2015.
5.1.3. Một số kết quả đạt được
1. Thực hiện và tích hợp quản lý tài nguyên nước ở lưu vực
Tổ chức lưu vực sông Sài Gòn- Đồng Nai, (SG-ĐN RBO) được thành lập vào năm 2003,
tuy nhiên thực tế họ chỉ tồn tại trên giấy tờ và làm việc không có hiệu quả. Ngày
31/5/2005, các cuộc họp bàn tròn giữa các tỉnh và TPHCM đã được tổ chức dưới sự chủ
trì của Bộ trưởng Bộ TN&MT và Phó Chủ tịch UBND thành phố để đề xuất các cơ chế
hợp tác về bảo vệ môi trường trong lưu vực sông Sài Gòn- Đồng Nai. Vì đây là điều cần
thiết để:
- Ban hành và đẩy mạnh các hoạt động của SG-ĐN RBO. Quản lý thống nhất tài
nguyên nước và các quy định về nước;
- Thiết lập cơ chế hợp tác và tiếp tục tổ chức các cuộc họp bàn trò để thường xuyên
chia sẻ thông tin, trách nhiệm và quyền sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước ở SG
bằng các hệ thống sông Đồng Nai các bên liên quan cấp tỉnh, các chuyên gia, các
nhà nghiên cứu và các nhà sản xuất quyết định.
Lớp Quản Lý Môi Trường- khóa 2012 Trang 22
Chuyên đề: Thách thức trong công tác quản lý tài nguyên nước ở tpHCM
Duy trì và phát triển hệ thống thông tin cho các lưu vực SG-ĐN. Hệ thống thông tin lưu
vực có thể bao gồm bản đồ, biểu đồ, cơ sở dữ liệu, dữ liệu điện tử, hồ sơ lưu vực liên
quan đến tài nguyên nước và các kinh tế và xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động khai thác và
sử dụng nước trong lưu vực. Thông tin có thể được sử dụng để thiết lập quản lý nguồn
nước bền vững.
2. Kiểm soát phát thải ô nhiễm
- Di dời các ngành công nghiệp gây ô nhiễm đang hoạt động bên ngoài vào tập trung
trong các Khu công nghiệp và hạn chế việc xả thải trực tiếp vào lưu vực SG-ĐN

- Giá nước hiện nay cần được xem xét và điều chỉnh. Hiện nay, giá nước sản xuất chứa
các chi phí khấu hao tài sản (65%), chi phí điện năng (10%), chi phí lao động (10%) và
chi phí vận hành quản lý (15%). Vì vậy, Chính phủ nên khuyến khích và ủng hộ các dự
án phát triển nguồn nước, và vì vậy, chi phí khấu hao tài sản do sản xuất nước có thể
giảm, dẫn đến giá sản xuất nước giảm.
- Áp dụng chế độ giá nước đặc biệt cho người nghèo, tức là những người sử dụng ít hơn
2m
3
nước/người/tháng. (Theo Tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới là 1,2m
3
nước/người/tháng)
- Thiết lập và thực thi các công cụ kinh tế trong quản lý nguồn nước như thuế tài nguyên
nước, phí bảo tồn và sử dụng nước, phí nước ngầm
6. Khuyến khích tiết kiệm nước và sử dụng nước hợp lý
- Khuyến khích áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn và nước tái chế trong các ngành
công nghiệp
- Khuyến khích việc sử dụng, tái chế, phục hồi nước cho các dịch vụ như: khách sạn, cao
ốc văn phong và các cơ sở vui chơi giải trí khác như công viên nước, bể bơi, câu lạc bộ
câu cá…
- Nâng cao nhận thức về việc tiết kiệm nước và bảo vệ môi trường cho cộng đồng dân cư.
5.2. Kết luận- Kiến nghị
5.2.1. Kết luận
1. Trước những thách thức rất to lớn đối với tài nguyên nước hiện nay ở nước ta, thúc đẩy
công tác quản lý tổng hợp Tài nguyên nước để bảo vệ và phát triển bền vững là việc cần
thiết đối với Nhà nước và toàn dân tộc.
Trước mắt và trong tương lai, công tác quản lý tổng hợp Tài nguyên còn nhiều khó khăn
gian khổ, nhất là trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng, Bộ TN&MT chủ trì
và phối hợp với các Bộ, ngành liên quan cần đưa ra chiến lược, kế hoạch hành động và lộ
trình phù hợp để thúc đẩy công tác quản lý tổng hợp Tài nguyên nước
2. Có thể nói: Chiến lược quản lý nước ngầm, một phần của các chiến lược quản lý môi

Các chính sách về quản lý tổng hợp lưu vực nguồn nước và kiểm soát ô nhiễm nước là rất
quan trọng và cấp bách.
3. Ở các khu vực ngoại thành, những nơi không có điều kiện sử dụng nước máy hoặc
không có nước ngọt sẵn thì nước mưa hoặc nước khai hoang có thể là lựa chọn trong
việc sử dụng cho sinh hoạt và hoạt động công nghiệp. Chẳng hạn, ở Cần Giờ, việc khử
muối của nước lợ ở vùng ven biển sẽ là một trong những lựa chọn thay thế khả thi.
Lớp Quản Lý Môi Trường- khóa 2012 Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status