VẺ ĐẸP NẢY SINH TỪ LAO ĐỘNG VÀ CHIẾN ĐẤU
Năm 1948, sau chiến dịch Sông Lô; lần đầu tiên anh bắt tay xây dựng bộ tranh
truyện liên hoàn dài, gồm 2 tập, mang tên Căm thù (tập I) và Chiến thắng (tập II).
Bộ tranh nét vẽ còn vụng về, in ấn chưa hoàn chỉnh, nhưng với cảm xúc mạnh và
chân thật, nó đã góp một phần tích cực cho công tác tuyên truyền lúc đó. Nghệ
thuật đã ra mắt công chúng. Chính anh cũng chưa dám nghĩ rằng mình sẽ trở thành
“Hoạ sĩ”. Nhưng hiệu quả thì lại vượt ra ngoài cả ý muốn của người sáng tạo. Tập
tranh của anh đã được giải thưởng của phòng chính trị Liên khu Mười lúc đó. Lần
đầu tiên, anh hiểu nghệ thuật phải chăng là xúc cảm chân thành và mãnh liệt trước
hiện thực, để rồi từ đó sẽ tái tạo lên hiện thực mới bằng hình tượng, thông qua tư
duy của người nghệ sĩ ?.
Anh đã đi và có mặt ở hầu khắp các nẻo đường đất nước. Từ chiến dịch Sông Lô,
Biên giới đến Trung du, Đồng bằng, Điện Biên. Rồi chiến dịch Hồ Chí Minh lịch
sử. Anh đã tận mắt được nhìn cảnh đẹp quê hương đất nước; được chứng kiến cảnh
địch tàn phá làng mạc, giết chóc và hãm hiếp đồng bào cực kỳ dã man. Thực tế ấy,
đã giúp anh vốn sống, tinh thần yêu nước và lòng căm thù giặc. Qua từng chặng
đường, anh đã dần lớn lên. Và nghệ thuật với người chiến sĩ thực sự trở thành một
nhu cầu cấp thiết. Là người lính trên mặt trận văn nghệ, không trực tiếp cầm súng,
vũ khí của anh phải là những bức tranh.
Chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn, anh thuộc quân số sư đoàn 312 - một trong
những sư đoàn chủ công mà mũi nhọn của nó đã thọc sâu vào tận hầm tên tướng
giặc Đờ-cát-tơ-ri, cắm lá cờ chiến thắng, kết thúc vẻ vang trận phản công cuối
biết như Nguyễn Thị Tuyển, Nguyễn Thị Hằng. Những tác phẩm này của anh đã ra
mắt công chúng kịp thời, như những bản báo cáo thiết thực nhất đối với người
chiến sĩ văn nghệ trong chiến đấu. Có thể nói anh là một trong số những hoạ sĩ có
phản xạ nhanh, nhạy bén với thời cuộc và sự kiện, rồi bằng tốc độ làm việc khẩn
trương, cần cù, anh đã đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ trước mắt của cách mạng. Và
từ số lượng tác phẩm, anh đã đúc rút để tiến dần đến sự đánh đổi về chất lượng. Có
thể nói đó cũng là một trong nguyên tắc tự học và tự rèn của Huy Toàn.
Mùa thu năm 1969, Bác Hồ qua đời! Xúc động trước cái tang chung của toàn dân
tộc, đặc biệt với quân đội - anh dựng tác phẩm tranh dầu Bác thăm một đơn vị cao
xạ. Năm 1970, sau khi đi Khu Tư, Quảng Bình, Vĩnh Linh trở về anh dựng tranh
dầu Đèn xanh, nói về mặt trận giao thông vận tải chống Mỹ của những người chiến
sĩ lái xe và thanh niên xung phong làm đường cho xe ra tiền tuyến. Năm 1972, sau
12 ngày đêm Hà Nội đương đầu với Pháo đài bay B.52 của Mỹ, anh dựng tranh
dầu lịch sử Hà Nội 12 ngày đêm. Cùng năm đó, sau chiến thắng Quảng Trị, anh
dựng tranh dầu cỡ lớn Thành cổ Quảng Trị, nói về sự tích anh hùng của những
chiến sĩ anh hùng đã giành giật với kẻ thù từng tấc đất nhuộm đỏ máu giặc và đồng
đội ở ngôi thành cổ này. Tiếp tục cảm hứng chưa dứt, xúc động về chiến công của
những người lái máy bay đánh giặc trời Mỹ, anh dựng tranh Anh hùng không quân
Phạm Tuân bắn B.52.
Năm 1974, trong cao trào chiến thắng dồn dập của hai miền đất nước, anh dựng
tranh dầu Toạ độ Iửa nói về đường mòn Hồ Chí Minh - con đường huyết mạch của
cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, cũng là con đường dẫn tới chiến công để
làm nên đại thắng; các binh đoàn thiết giáp dưới bom đạn kẻ thù, vẫn ngày đêm nối
đuôi nhau ra tiền tuyến, tiến về phương Nam, giải phóng nửa nước thân yêu. Tác
phẩm đã được bày tại triển lãm “Tranh tượng về đề tài các lực lượng võ trang nhân
dân”, và sau đó đã được Hội đồng nghệ thuật tuyển chọn mua cho Bảo tàng Mỹ
thuật.
Trong những ngày cuối tháng 4 - 1975 lịch sử, khi đại quân ta đang dồn dập vây
hãm kẻ thù, giải phóng nốt phần đất còn lại, Huy Toàn được vinh dự có mặt trong
chiến dịch mang tên Bác Hồ, tiến vào giải phóng Sài Gòn và các đô thị miền Nam.
tòi. Huy Toàn đã nhận thức và lao động nghệ thuật trên quan điểm đó ngay từ khi
bắt đầu nhập thân với hội họa.
Xem tranh Huy Toàn, chỉ nói tới “không khí trong tranh” thôi, thì chưa đủ. Muốn
hiểu tranh anh phải hiểu cả quá trình nghiên cứu, thai nghén và tích lũy từ thực tế.
Và nguyên tắc cuối cùng là với anh, phải làm sao cho công chúng cảm thụ được
nghệ thuật. Tất nhiên dễ hiểu chưa hoàn toàn là nghệ thuật, và ngược lại. Người
nghệ sĩ không thể xem mình là thầy của nhân dân. Nói như đại ý Bác Hồ đã dạy:
“Nhân dân là người sáng tạo”. Vì vậy, nhân dân cũng rất sáng suốt trong việc đánh
giá tác phẩm và người nghệ sĩ. Đó là nguyên tắc cao nhất và đúng nhất mà anh
thường nhấn mạnh với bạn bè, đồng nghiệp. Tác phẩm của Huy Toàn bao giờ cũng
được vẽ ra với thiện ý chính là hướng về công - nông - binh. “Bởi nghệ thuật sáng
tạo ra mà không được sự chào đón của quảng đại quần chúng nhân dân lao động,
thì chắc chắn người nghệ sĩ cũng chẳng thú vị gì”. Anh đã khẳng định trên tranh là
thế.
Huy Toàn làm tranh khắc gỗ không nhiều so với tranh dầu. Nhưng số tranh khắc
của anh là một trong số những tác phẩm đồ hoạ đã làm cho tên tuổi anh gắn liền
với công trình lao động ấy. Anh làm tranh khắc gỗ dân gian. Bởi từ đó từ truyền
thống dân tộc - ít ra cũng giúp cho người nghệ sĩ hiện đại có cái nhìn và đánh giá
đúng với thành tựu sáng tạo của ông cha mình. Cũng như chất liệu sơn dầu, anh đã
trả lời rất thực và tỏ rõ niềm say mê khâm phục: “Chất liệu trong tranh khắc dân
gian, tôi nghĩ ta không thể thêm và bớt. Với ta, nó là “cái gốc”. Họa sĩ hiện đại khó
mà vượt lên được nó. Vì các yếu tố tổng hợp của nó - như màu, hình bố cục v.v
có thể nói là tột đỉnh. Nó đã làm trọn vẹn vai trò lịch sử. Thật khó mà làm khác
được. Ai mạo hiểm để “nâng cao” nghệ thuật dân gian cổ truyền, chỉ bộc lộ sự bất
lực mà thôi”.
Cứ vẽ rồi đẻ ra nghệ thuật và kỹ thuật theo cách riêng của mình. Không nghĩ nhiều
về kỹ thuật trước khi cầm bút. Phải xúc động thật sự trước khi cầm bút mới vẽ
được. Đặt vấn đề vẽ cái gì, vẽ cho ai, rồi hãy nghĩ. Đó là những nguyên tắc và cũng
là những “khẩu lệnh nghệ thuật” đúng nhất, rõ nhất - theo tôi nghĩ, khi chúng ta
xem tác phẩm hội hoạ của Huy Toàn cũng như đánh giá và nhìn nhận về toàn bộ