MỨC ĐỘ THÍCH ỨNG XÃ HỘI CỦA HỌC SINH THCS ỨNG HÒA – HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TÂM LÝ - Pdf 11

MỤC LỤC
3. Quản lý căng thẳng 96
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, sự bùng nổ
thông tin và toàn cầu hóa đã kéo theo sự thay đổi không ngừng mọi mặt đời sống xã
hội. Một mặt điều đó đem lại cho con người một cuộc sống tiện nghi, hiện đại hơn
nhưng mặt khác đòi hỏi các hoạt động của con người phải đa dạng và phức tạp, đáp
ứng những yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Bởi vậy, sự thích ứng có ý nghĩa quyết
định đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân.
Khái niệm “thích ứng” được phát triển ở thế kỉ 19 trong sinh học, lí thuyết
tiến hoá; sau đó được mở rộng, sang lĩnh vực xã hội học và tâm lí. Nếu dưới góc độ
sinh học, thích ứng có vai trò như một nhân tố không thể thiếu đối với sự tồn tại và
phát triển của cá thể thì dưới góc độ tâm lý học sự thích ứng nói chung và TƯXH
-khả năng biến đổi của cá nhân trong quá trình tương tác với môi trường xã hội nói
riêng - giúp con người thu nhận được những tri thức mới, kỹ năng, kỹ xảo mới, làm
cho các phẩm chất tâm lý, năng lực và kỹ năng hoạt động cá nhân ngày càng phát
triển: con người có thể hoạt động tốt hơn trong những hoàn cảnh biến đổi và chính
trong hoạt động đó nhân cách con người cũng được thể hiện và phát triển.
Nhà Tâm lý học Liên Xô Đ.A.Andreeva cho rằng “ thích ứng là tiền đề cho
hoạt động thành công của mỗi cá nhân trong một vai trò xã hội này hay một vai trò xã
hội khác”. Thực tế con người buộc phải không ngừng thích ứng để tồn tại, phát triển
trong suốt quá trình sống của mình ngay từ những giây phút đầu tiên của cuộc đời.
Những công trình nghiên cứu khác đã khẳng định: nếu một đứa trẻ không phát triển
đầy đủ các kỹ năng TƯXH cần thiết, điều đó báo trước rằng đứa trẻ này có thể gặp
những khó khăn như kém thích nghi học tập, mắc một số rối nhiễu hành vi dẫn đến
thất bại học đường. Bởi vậy việc phát hiện sớm những thiếu hụt về khả ăng TƯXH và
khắc phục những thiếu hụt đó rất quan trọng, đặc biệt là ở lứa tuổi vị thành niên.
Ở lứa tuổi học sinh THCS là lứa tuổi chuyển tiếp giữa thời thơ ấu sang tuổi
trưởng thành, diễn ra sự phát triển mạnh mẽ, không đồng đều, thiếu cân đối tạm thời
về cả sinh lý và tâm lý. Những thay đổi cả về thể chất và tâm lý tạo ra sự “khủng

2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát mức độ TƯXH của học sinh THCS , phân tích những yếu
tố ảnh hưởng tới khả năng TƯXH của các em để đề xuất một số biện pháp giúp học
sinh THCS TƯXH tốt hơn.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Mức độ và các yếu tố ảnh hưởng đến TƯXH của học sinh THCS.
3.2. Khách thể nghiên cứu
- Học sinh các khối lớp 6, 7, 8, 9 THCS Ứng Hòa, Hà Nội và một số giáo viên
trực tiếp giảng dạy tại các lớp có học sinh trên.
4. Giả thuyết khoa học
Chúng tôi giả định rằng TƯXH trong nhà trường của học sinh THCS Ứng
Hòa – Hà Nội còn ở mức độ trung bình, có sự khác biệt giữa các khối lớp, giữa nam
và nữ. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ TƯXH của học sinh THCS như sự
phát triển trí tuệ, tính tích cực hoạt động của cá nhân, hoàn cảnh gia đình…trong đó
những tác động sư phạm trong nhà trường đóng vai trò quan trọng. Nếu giáo viên có
biện pháp tác động phù hợp sẽ giúp học sinh THCS TƯXH tốt hơn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về TƯXH, TƯXH của học sinh THCS, vai
trò của TƯXH, các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ TƯXH.
- Khảo sát thực trạng mức độ và các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ TƯXH của
học sinh THCS.
- Đề xuất và bước đầu thực nghiệm một số biện pháp tác động nhằm giúp học
sinh THCS TƯXH tốt hơn.
6. Giới hạn nghiên cứu
6.1. Giới hạn đối tượng nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu mức độ TƯXH của học sinh THCS trong nhà trường
trên cơ sở đo lường 5 KNXH cơ bản: kỹ năng thiết lập mối quan hệ xã hội, kỹ năng
hợp tác, kỹ năng đồng cảm, kỹ năng ứng phó với căng thẳng và kỹ năng giải quyết

7.7 Phương pháp thống kê toán hoc
Phương pháp được sử dụng để phân tích, xử lí các dữ liệu thu thập được.
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN TÂM LÝ HỌC VỀ THÍCH ỨNG XÃ HỘI
CỦA HỌC SINH THCS
1.1.Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề TƯXH
Để có thể tồn tại và phát triển, con người buộc phải biết cách thích ứng và chủ
động thích ứng, cũng vì vậy, việc nghiên cứu sự thích ứng của con người cũng luôn
được các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu.
Trong Tâm lý học, vấn đề thích ứng nói chung và TƯXH nói riêng được
nhiều nhà khoa học cả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, ứng dụng ở nhiều
chuyên ngành khác nhau như: Tâm lý học đại cương, Tâm lý học lao động, Tâm lý
học sư phạm
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Như đã nói, vấn đề thích ứng nói chung được nghiên cứu trong Tâm lý học từ
6
khá sớm, những nghiên cứu ở nước ngoài có thể chia thành hai nhóm lớn: những
nghiên cứu lý luận về thích ứng và nghiên cứu thích ứng ở bình diện thực tiễn. Các
công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về thích ứng tập trung vào làm rõ khái
niệm thích ứng, phân biệt với khái niệm thích nghi; xã hội hóa cũng như phân loại,
mức độ, các yếu tố ảnh hưởng tới sự thích ứng. Trong khi đó các nghiên cứu thích
ứng ở bình diện thực tiễn rất nhiều, chủ yếu tập trung vào ba hướng chính đó là:
nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động học tập, nghiên cứu sự thích ứng nghề nghiệp
và nghiên cứu sự thích ứng với điều kiện sống mới.
Trước hết là những nghiên cứu về sự thích ứng với hoạt động học tập. Có thể
nói đây là hướng nghiên cứu nhận được sự quan tâm của nhiều nhất.
- Tại trường đại học Tomsk, Liên Xô từ những năm 1970 đã tiến hành nghiên
cứu thực trạng kỹ năng học tập của sinh viên từ đó nhằm tìm ra biện pháp giúp họ
nhanh chóng thích ứng với quá trình học tập, đạt được kết quả cao trong học tập.
Một nghiên cứu khác tại Đại học BaCu lại tập trung vào kỹ năng làm việc ở thư viện
của sinh viên nhằm giúp sinh viên thích ứng với kỹ năng làm việc ở thư viên một

quá trình hoạt động.
Ngoài ra còn các công trình nghiên cứu sự thích ứng với điều kiện sống mới.
Theo hướng nghiên cứu này, các công trình nghiên cứu tập trung vào làm rõ sự thích
ứng tâm lý đối với sự thay đổi các điều kiện mới trong môi trường sống: thích ứng
với đời sống tập thể, thích ứng với môi trường làm việc mới.
Như vậy, khi nghiên cứu lý luận về vấn đề thích ứng, các nhà tâm lý học nước
ngoài đã phân biệt giữa thích ứng và thích nghi đồng thời cũng chỉ ra các loại thích
ứng khác nhau. Theo cách phân chia của hai nhà tâm lý học Ia.P. Colominski và
E.A. Panco thích ứng được chia làm hai loại:
- Thích ứng sinh lý diễn ra như là một sự tự động hóa khi môi trường thay đổi.
Sự thay đổi này không kèm theo một hành động có mục đích của chủ thể.
- TƯXH - tâm lý là một quá trình biến đổi tích cực mà để có được nó, chủ thể
cần biểu hiện những nỗ lực chuyên biệt. Trong đó thể hiện mối quan hệ hai chiều:
hoàn cảnh tác động vào con người và con người tác động trở lại, tự thay đổi hoàn
cảnh.
Các nghiên cứu về vấn đề TƯXH thường gắn liền với các nghiên cứu về
KNXH cần thiết cho từng lứa tuổi. Các nhà nghiên cứu cho rằng các KNXH vừa
là điều kiện để TƯXH, vừa là kết quả của sự TƯXH, người ta muốn TƯXH thì
phải rền luyện các KNXH. Từ đó những kỹ năng này được nhiều quốc gia như:Ấn
8
Độ, Thái Lan, đưa vào lồng ghép trong chương trình giáo dục nhằm mục đích
giúp học sinh có sự TƯXH cao.Tính cấp thiết của nó nằm ở chỗ mọi người nhận ra
rằng xã hội luôn có những biến chuyển phức tạp về mọi mặt, mỗi người phải thích
ứng với những biến chuyển đó không chỉ bằng những tri thức, kỹ năng nghề nghiệp
cơ bản mà phải có những KNXH. Từ đó các thuật ngữ “kỹ năng sống”, “KNXH”
được nghiên cứu và đưa vào các chương trình, dự án giáo dục trẻ em.
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
- Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Thạc đã có nghiên cứu về sự thích ứng học tập
của sinh viên đại học từ năm 1985. Năm 2003, ông tiếp tục công bố kết quả nghiên
cứu “Sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm

trường CĐSP Phú Yên” - Luận văn thạc sỹ của Hoàng Thị Thảo (1999).
- “Nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động thực tập sư phạm của sinh viên
trường Đại học Hồng Đức Thanh Hóa” - Luận văn thạc sỹ của Dương Thị Thoan.
(2001).
- “Nghiên cứu sự thích ứng đối với việc giảng dạy của giáo viên tiểu học
huyện Gia Viễn - Ninh Bình theo nội dung chương trình sách giáo khoa cải cách” -
luận văn thạc sỹ của Lê Thị Thu Hương (2005).
Ngoài ra còn có các tác giả nghiên cứu thích ứng với các nghề nghiệp khác
như: Nguyễn Thị Thanh Huyền với đề tài “Nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động
chuyên môn của hiệu trưởng tiểu học Thái Bình” (2002), Trần Thị Thu Hà với đề tài
“Nghiên cứu sự thích ứng với nghề hướng dẫn viên du lịch của học sinh khoa nghiệp
vụ du lịch trường Trung học Thương mại và Du lịch Hà Nội” (2005), Và nghiên
cứu thích ứng với điều kiện sống mới như tác giả Lã Văn Miến với công trình “Tìm
hiểu sự thích ứng với đời sống tập thể của sinh viên năm thứ nhất” (1987) đã nghiên
cứu sự thích ứng tâm lý của sinh viên năm thứ nhất đối với đời sống tập thể ở ký túc
xá, với những điều kiện, quy tắc, ứng xử, sinh hoạt xa gia đình
Vấn đề TƯXH cũng đã nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Cũng
giống như các nghiên cứu ở nước ngoài, các nhà nhiên cứu TƯXH thường gắn liền
với các nghiên cứu về KNXH cần thiết cho từng lứa tuổi. Có thể kể ra các công
trình được đánh giá cao như: đề tài khoa học công nghệ cấp bộ của nhóm nghiên cứu
do PGS.TS Nguyễn Công Khanh chủ trì mã số B2001 - 49 - 02TĐ, (2001 - 2004)
nghiên cứu, thích nghivà chuẩn hóa Bộ trắc nghiệm SSRT( Social Skill Rating
System - SSRT, Gressham & Elliott, 1990).Đây là bộ trắc nghiệm được thiết kế cho
đối tượng trẻ em Mỹ từ lớp 6 đến lớp 12 với mục đích đánh giá năng lực TƯXH trên
cơ sở đo lường các KNXH cơ bản, những khó khăn trong xử lý các mối quan hệ và
10
năng lực xã hội của đứa trẻ thể hiện ở gia đình và nhà trườnggồm 4 tiểu trắc nghiệm
đánh giá các kỹ năng: kỹ năng hợp tác; kỹ năng quyết đoán, tự khẳng định; kỹ năng
đồng cảm; kỹ năng kiềm chế tự kiểm soát.Đề tài đã đóng góp rất lớn trong việc
chuẩn hóa một bộ công cụ để đánh giá năng lực TƯXH của học sinh trung học.

của học sinh THCS trở thành vấn đề cấp thiết được rất nhiều tác giả quan tâm
nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu đã cho thấy thực trạng thích ứng xã hội của
học sinh hiện nay và đề cập tới các biện pháp nhằm giúp học sinh thích ứng tốt hơn
nữa. Ở Việt Nam, bắt đầu từ năm học 2010-2011, Bộ GD-ĐT đã đưa nội dung giáo
dục kỹ năng sống vào chương trình học chính khóa trong các nhà trường phổ thông,
từ bậc tiểu học đến THPT. Nội dung này sẽ được lồng ghép vào một số môn học phù
hợp và chuyển tải trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Nhằm tiếp tục làm rõ những vấn đề trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Mức độ
TƯXHcủa học sinh trường THCS Quảng Phú Cầu - Ứng Hòa - Hà Nội” để nghiên
cứu.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Khái niệm thích ứng
Giống như các khoa học khác, Tâm lý học cũng rất quan tâm nghiên cứu vấn
đề thích ứng. Điều này thể hiện rõ nét trong các lý thuyết của các trường phái khác
nhau. Có thể thấy trong khi đưa ra các phạm trù, khái niệm, quan điểm cơ bản của
mình, các trường phái có sự xem xét bản chất của sự thích ứng.
- Thuyết Tâm lý học hành vi với các đại diện J.Watson, E.Tolmen, B.F.
Skinner,…cho rằng con người là “tồn tại xã hội”, đó là cơ thể làm việc và nói năng
phải thích nghi với môi trường xung quanh; từ đó tạo ra một tổ hợp phản ứng phức
tạp, tổ hợp lại thành các tập hợp phản ứng, và với các nhà hành vi cổ điển thì các tập
hợp ấy được thực hiện chung bởi hệ thống chung của các kỹ xảo, việctạo ra môi
trường các kích thích, được sắp xếp theo logic cho phép hình thành các phản ứng
mong muốn, tức là quá trình “điều kiện hoá hành vi”. Họ có công lớn trong việc chỉ
ra mức độ thích ứng đầu tiên của con người: phản ứng trực tiếp đối với các kích
thích từ môi trường cũng như cơ chế hình thành hành vi thích ứng. Tuy nhiên, do
không có quan niệm biện chứng về bản chất con người và mối quan hệ giữa con
người với môi trường, nên thuyết hành vi vẫn chỉ dừng lại ở việc xem xét sự thích
ứng đó giống như thích ứng sinh lý ở động vật.
12
- Thuyết phân tâm do Sigmund Freudxây dựng cho rằngtâm lý con người

mong muốn của bản thân vừa chịu sự kiềm hãm của xã hội. Đó được coi là chiến
lược thích nghi của cá nhân.
Sau S. Freud, những đại diện tiêu biểu của trường phái phân tâm mới như:
Carl Jung (1875 - 1961), Alfred Adler ( 1807 - 1937), Erich Fromm( 1900 - 1937),
Erik Erikson ( 1902 - 1994) cho rằng cái Tôi có vai trò quan trọng trong sự thích ứng
cá nhân, là chủ thể của hành vi chứ không phải là phương thức thỏa mãn cái nó. Bản
thân đứa trẻ khi sinh ra đã được đặt trước các đòi hỏi của xã hội, nhờ đó mà trưởng
thành, hòa nhập xã hội. Nói cách khác sự trưởng thành của đứa trẻ chính là quá trình
thích ứng về mặt tâm lý. Ngược lại, sự không thích ứng có thể tạo ra những căng
thẳng, lo hãi - căn nguyên của bệnh tâm lý.
- Tâm lý học nhân văn với hai đại diện tiêu biểu nhất là Abraham Maslow
(1808 - 1970) và Carl Roger (1902 - 1987) với tư tưởng tôn trọng con người, tôn
trọng giá trị sáng tạo, các giá trị nhân văn của con người, các nhà tâm lý học nhân
văn coi con người là một thực thể với hệ thống các nhu cầu được sắp xếp theo thứ
bậc. Hệ thống các nhu cầu này là tiền đề tạo ra sự thích ứng, trong đó nhu cầu “tự
thể hiện” là yếu tố quyết định sự thích ứng của con người.
Theo A. Maslow, thích ứng là những ứng xử tích cực của cá nhân với tư cách
là chủ thể với thế giới xung quanh và với bản thân, thích ứng là sự thể hiện cái vốn
có - tự thể hiện của cá nhân trong những điều kiện sống nhất định và sự không thích
ứng cũng chính là sự không tự thể hiện.
C. Roger cũng coi “tự thể hiện” là yếu tố cơ bản quyết định sự thích ứng của
cá nhân, ông đưa ra khái niệm “cái tôi quan niệm” để chỉ sự tự đánh giá của nhân
cách. Những người có khả năng thích ứng tốt là những người hình thành được “cái
tôi quan niệm” mềm dẻo, phù hợp với đánh giá của xã hội. Do đó, thích ứng chính là
tạo được “cái tôi quan niệm” phù hợp với giá trị xã hội và tiềm năng cá nhân. Như
vậy C. Roger xem xét hành vi thích ứng trong mối quan hệ giữa nhu cầu, sự đánh
giá bản thân - quan hệ xã hội.
- Tâm lý học chức năng với hai đại diện tiêu biểu đó là Herbert Spencer (1820
- 1903) và William James (1842 - 1910) quan niệm thích ứng là chức năng của tâm
lý, của ý thức, cuộc sống là sự thích ứng liên tục giữa các mối quan hệ bên trong và

phù hợp với kích thích. Đồng hóa và điều ứng tạo nên trí thông minh con người.
Trong sinh vật học thì cá thể luôn "đồng hoá" các yếu tố của môi trường vào bên
trong "cấu trúc" vốn có của cơ thể, đồng thời luôn phải " điều ứng" "cấu trúc" ấy sao
15
cho phù hợp với môi trường. Khi hai quá trình ấy "cân bằng" thì cơ thể đã thích nghi
và phát triển.
Đi sâu vào nghiên cứu sự phát triển trí tuệ, J. Piaget cho rằng có 4 giai đoạn
phát triển tri thức đó là giai đoạn cảm giác vận động, giai đoạn tiền thao tác tư duy,
giai đoạn tư duy cụ thể, giai đoạn phát triển tư duy trừu tượng.Ông cho sự xuất hiện
và phát triển của trí khôn tương tự như sự thích nghi của yếu tố sinh học của động
vật với môi trường. Ông khẳng định trí tuệ có vai trò quyết định sự thích nghi của
con người với ngoại cảnh, đảm bảo duy trì sự cân bằng của cá nhân đối với người
khác và đối với môi trường xung quanh. Nói cách khác, tùy theo trình độ phát triển
trí tuệ con người cao hay thấp mà người đó duy trì được sự cân bằng với hoàn cảnh
sống, thích nghi tốt hay không tốt với môi trường xung quanh.
Nói tóm lại, quan điểm của J. Piaget đã tuyệt đối hóa vai trò của trí tuệ. Coi đó
là yếu tố quyết định sự thích ứng của con người mà không thấy được vị trí của hoạt
động và tính tích cực cá nhân trong quá trình thích ứng.
- Tâm lý học hoạt độvới những tên tuổi lớn như: L.S. Vygotsky (1896 - 1934),
A.N. Leonchev (1903 - 1979), A.R. Luria(1902 - 1977), X.L. Rubinstein (1889 -
1960), Theo L.S. Vygotsky, trong sự phát triển của trẻ em có sự thống nhất biện
chứng giữa tự nhiên và văn hóa xã hội, chúng thâm nhập lẫn nhau, hòa nhập vào
nhau tạo nên nhân cách trẻ. Nói về sự thích nghi, ông cho rằng: con người có một
hình thức thích nghi mới - cơ chế cân bằng chủ yếu của cơ thể với môi trường, nảy
sinh trên cơ sở các tiền đề sinh vật, nhưng đã vượt qua phạm trù sinh vật, tạo nên
một hành vi có chất lượng khác theo một tổ chức mới. Để thích ứng với môi trường,
con người đã biến đổi rất nhiều các công cụ, đặc biệt là khả năng tạo ra các kích
thích tác động vào chính bản thân mình. Các kích thích tự tạo này còn dùng để làm
chủ hành vi của chính mình và cùng với các công cụ tâm lý giúp con người thích
ứng. Trong học thuyết lịch sử văn hóa về sự phát triển các chức năng tâm lý cấp cao

động với các đặc điểm, điều kiện lao động trong một tập thể nhất định”. Hay trong
Từ điển Tâm lý học , xuất bản năm 1982 tại Liên Xô giải thích “Thích ứng là một
trong những khái niệm trung tâm của sinh học đã được vận dụng vào tâm lý học để
giải thích mối quan hệ tương quan giữa cơ thể và môi trường sống như là những quá
trình cân bằng”
Trong cuốn từ điển Bách khoa toàn thư, nhà xuất bản Từ điển Bách khoa năm
2005, thích ứng và thích nghi được xếp chung một mục, trong đó có hai mức độ
17
thích nghi tâm lý và thích nghi xã hội.
Theo GS.TS Vũ Dũng, thích ứng là phản ứng của cơ thể với những thay đổi
của môi trường. Về nguyên tắc, có hai phương thức thích ứng khác nhau của cơ thể
đối với những thay đổi của các điều kiện môi trường:
- Thích ứng bằng cách thay đổi cấu tạo và hoạt động của các cơ quan; đây là
phương thức phổ biến đối với động vật và thực vật.
- Thích ứng bằng cách thay đổi hành vi mà không thay đổi tổ chức; phương
thức này chỉ đặc trưng cho động vật và gắn liền với sự phát triển tâm lý; phương
thức thích ứng này được phân chia thành hai hướng khác nhau:
+ Thay đổi chậm những hành vi được kế thừa - bản năng, mà sự tiến hóa của
những bản năng này diễn ra dưới ảnh hưởng của những thay đổi môi trường với tốc
độ chậm.
+ Phát triển năng lực học tập của cá nhân, năng lực “ hành động hợp lý” -
những thay đổi nhanh của hành vi, “sáng tạo” ở mức độ nhất định những phương
thức hành vi mới để đáp lại những thay đổi nhanh của môi trường mà bản năng bị
bất lực; những hoạt động này không nhất thiết phải cố định, phải di truyền, vì sự ưu
việt của chúng là tính mềm dẻo cao; vì vậy, chỉ có những khả năng hành động quy
định thứ bậc cao của tổ chức tâm lý của sinh vật mới được di truyền.
Như vậy, thích ứng là một quá trình tâm lý phức tạp và nhiều mặt, trong đó
chủ thể tích cực, chủ động thay đổi bản thân, cải tạo hoàn cảnh sống, tạo ra sự phù
hợp tối ưu để đạt hiệu quả cao trong hoạt động.
Thích ứng tâm lý là quá trình con người tạo nên những biến đổi trong đời

thức hoạt động; tiếp nhận các chuẩn mực, các giá trị, quan hệ xã hội, quan hệ người -
người. Có thể nói, cá nhân chỉ thích ứng với hoạt động, với xã hội, hình thành những
năng lực người bằng hoạt động giao tiếp. Cũng tương tự như với hoạt động, giao
tiếp là phương thức, là biểu hiện đồng thời cũng chính là mục đích của sự thích ứng
tâm lý của con người.Vì vậy, có thể nói cá nhân thích ứng với xã hội, hình thành
những năng lực người thông qua giao tiếp.
- Chúng tôi tiến hành tham khảo định nghĩa TƯXH trong những tài liệu khác
nhau, theo đó:
+ Từ điển Bách khoa toàn thư , khái niệm TƯXH tương đương với thích nghi
xã hội, và được hiểu là: “quá trình thích ứng diễn ra một cách chủ động và tích cực
của con người với điều kiện của môi trường xã hội mới. Nội dung của thích nghi xã
hội là những phù hợp, tương ứng về mục đích, định hướng giá trị, về mức sống, lối
19
sống và phương thức hoạt động của các cá nhân đối với nhóm, tập đoàn và môi
trường XH của mình. Thích nghi xã hội yêu cầu mỗi cá nhân của nhóm rèn luyện ý
thức hòa nhập với các chuẩn mực, phong tục, tập quán, các giá trị của nhóm và
tuân theo một cách có chủ định và tự động”.
+ Trong cuốn Từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng cũng giải thích khái
niệm TƯXH tương đương với thích nghi xã hội và cùng được hiểu theo hai nghĩa:
thứ nhất đó là quá trình thích ứng liên tục của cá nhân đối với những điều kiện của
môi trường xã hội; Thứ hai là kết quả của quá trình trên. Tác giả còn cho rằng “Mặc
dù có tính liên tục, thích nghi xã hội thường gắn với những giai đoạn có sự thay đổi
quan trọng nhất trong hoạt động của cá nhân và môi trường xã hội của cá nhân.”
“Việc cá nhân tiếp nhận vai trò xã hội là điểm quan trọng của thích nghi xã hội.
Đây là nguyên nhân chuyển thích nghi xã hội thành một trong những cơ chế tâm lý
xã hội chủ yếu của xã hội hóa cá nhân. Hiệu quả của thích nghi xã hội tùy thuộc rất
nhiều vào việc cá nhân chấp nhận bản thân và các mối quan hệ xã hội của mình
mình một cách thích hợp đến mức độ nào. Quan niệm về bản thân bị sai lệch hoặc
chưa phát triển đầy đủ sẽ dẫn đến phá vỡ thích nghi xã hội với biểu hiện cực đoan
là tự kỷ”.

công tồn tại và phát triển trong xã hội hiện đại con người phải đương đầu với rất
nhiều thách thức và để làm được điều đó, con người phải kịp thời thích ứng. Chính
vì thế nghiên cứu sự TƯXH của con người có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và
thực tiễn, nhằm tạo cơ sở khoa học để xây dựng các cơ chế xã hôi mới, từ đó điều
chỉnh hành vi thích ứng của con người trong điều kiện mới.
TƯXH là quá trình con người thâm nhập vào điều kiện hoạt động mới nhằm
lĩnh hội những yêu cầu, đòi hỏi của hoạt động, những nội dung và kinh nghiệm hoạt
động ngay trong môi trường mới để có phương thức hành vi ứng xử phù hợp với yêu
cầu, đòi hỏi đó. Trong quá trình này, con người phải huy động chức năng tâm lý của
mình để khắc phục khó khăn khi gặp phải, đồng thời rèn luyện các chức năng đó để
đạt hiệu quả cao trong hoạt động.
Để tồn tại và phát triển, con người phải tham gia lao động trong một môi
trường nghề nghiệp nhất định, buộc phải hoàn thành các vai trò mà xã hội giao
phó. Việc thích ứng không chỉ làm cho con người phù hợp với những vị trí xã hội
21
mình theo đuổi, đáp ứng các yêu cầu xã hội đề ra mà còn tạo ra định hướng đúng
đắn cho cả cuộc đời. Bên cạnh dó sẽ giúp cá nhân an tâm, phấn khởi, say mê dồn
hết tâm trí, sức lực vào hoạt động của mình, làm cho khả năng sáng tạo được
nâng cao; cá nhân tích cực, chủ động trong công việc và do đó thực hiện công
việc một cách dễ dàng, tạo hiệu quả, năng suất lao động cao.
Đối với học sinh nói chung, học sinh THCS nói riêng - những cá nhân đang
phát triển, hoàn thiện các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trước khi tham gia vào quá trình
lao động xã hội thì việc TƯXH có vai trò lớn lao giúp các em hòa nhập và đáp ứng
những thay đổi của xã hội, xác định được vị trí của bản thân trong xã hội và nhận ra
được yêu cầu của xã hội đối với chính mình để từ đó phấn đấu, rèn luyện.
Nói tóm lại, TƯXH có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của
mỗi cá nhân và cộng đồng trong điều kiện xã hội thay đổi không ngừng. bởi vậy,
việc chú trọng nghiên cứu các khía cạnh biểu hiện cũng như các biện pháp nhằm
nâng cao khả năng TƯXH luôn nhận được sự quan tâm lớn cả a nhiều nhà nghiên
cứu cũng như trở thành một trong nhưng mục tiêu của giáo dục hiện nay.

Về thể chất, sự họat hóa của tuyến yên, của các tuyến sinh dục, của tuyến
thượng thận được tăng cường, dẫn đến sự tăng trưởng mạnh về chiều cao, trọng
lượng cơ thể, các dấu hiệu sinh dục phụ xuất hiện. Cách đây khoảng 20 năm, theo
kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, học sinh đầu bậc THCS, về phát triển cơ
thể không có gì khác so với trẻ cuối bậc Tiểu học; Các em chỉ “lớn vọt” lên ở các
năm tiếp theo. Nhưng đến thời điểm hiện nay, quy luật trên không còn tồn tại trong
số đông trẻ em Việt Nam cả ở thành phố lẫn nông thôn, bởi lẽ, tuổi dậy thì của các
em đã được “kéo xuống” ở đầu bậc THCS (em trai thường chậm hơn em gái 2
năm) Tuy nhiên, người lớn (cha mẹ, thầy, cô giáo, người nuôi dưỡng trẻ) phải ý
thức rằng, những phát triển trong cơ thể trẻ lúc này diễn ra chưa đồng bộ và với diện
mạo “to cao” bên ngoài như vậy, các em vẫn chưa là người lớn thực thụ về tất cả các
chức năng trong cơ thể.
Về trí tuệ, ở giai đoạn lứa tuổi này, tiếp tục diễn ra sự phát triển của trí nhớ,
đặc biệt trí nhớ ý nghĩa, chú ý có chủ định, và vận động, tư duy lôgic và trừu tượng
cũng phát triển mạnh. Trẻ- thiếu niên hoàn toàn có khả năng tiếp thu các khái niệm
Toán học, Vật lý học và Triết học trừu tượng. Trẻ càng lớn lên, hoạt động học tập
càng có vị trí quan trọng trong cuộc sống của trẻ và vai trò của nó trong sự phát triển
của trẻ ngày càng to lớn.
Ở trường trung học cơ sở, việc học tập của các em phức tạp hơn một cách
đáng kể. Các em chuyển sang nghiên cứu có hệ thống những có sở của các khoa học,
23
các em học tập có phân môn… Mỗi môn học gồm những khái niệm, những quy luật
được sắp xếp thành một hệ thống tương đối sâu sắc. Điều đó đòi hỏi các em phải tự
giác và độc lập cao. Quan hệ giữa giáo viên và học sinh cũng khác trước. Các em
được học với nhiều giáo viên. Các giáo viên có cách dạy và yêu cầu khác nhau đối
với học sinh, có trình độ nghề nghiệp và phẩm chất, uy tín khác nhau. Quan hệ giữa
giáo viên và học sinh “xa cách” hơn so với bậc tiểu học. Sự thay đổi này tạo ra
những khó khăn nhất định cho các em nhưng nó cũng tạo điều kiện cho các em phát
triển dần phương thức nhận thức người khác.
Hoạt động giao tiếp được nhiều nhà nghiên cứu cho rằng là hoạt động chủ đạo

phát triển mạnh mẽ của cơ thể đặc biệt do sự phát triển của các mối quan hệ xã hội
và sự giao tiếp trong tập thể mà ở các em có biểu hiện nhu cầu tự đánh giá, so sánh
mình với người khác. Các em đã bắt đầu xem xét mình, vạch cho mình một nhân
cách tương lai, muốn biết mặt mạnh, mặt yếu trong nhân cách của mình.
Mức độ tự ý thức của các em có sự khác nhau. Về nội dung, không phải tất cả
những phẩm chất của nhân cách đều được ý thức hết. Ban đầu các em chỉ nhận thức
hành vi của mình, sau đó là nhận thức những phẩm chất đạo đức, tính cách, năng lực
của mình trong những phạm vi khác nhau, cuối cùng các em mới nhận thức những
phẩm chất phức tạp thể hiện nhiều mặt của nhân cách ( tình cảm trách nhiệm, lòng
tự trọng…). Về cách thức, ban đầu các em còn dựa vào đánh giá của những người
gần gũi, có uy tín với mình. Dần dần các em hình thành khuynh hướng độc lập phân
tích và đánh giá bản thân. Nhưng khả năng tự đánh giá của học sinh THCS còn hạn
chế, chưa đủ khách quan. Từ đây làm nảy sinh những xung đột không cần thiết giữa
các em với chính mình, với nhóm bạn và với người lớn.
Ý nghĩa quyết định nhất để phát triển tự ý thức ở lứa tuổi này là cuộc sống tập
thể của các em - nơi mà nhiều mối quan hệ giá trị đúng đắn sẽ giúp các em hình
thành lòng tự tin vào sự tự đánh giá của mình, là những yêu cầu ngày càng cao đối
với hành vi, hoạt động của các em…cũng đồng thời giúp cho sự phát triển tự ý thức
của các em. Thiếu niên có nhu cầu hiểu biết những đặc điểm của bản thân, suy nghĩ
của chính mình và tự đánh giá về mình để đi đến chỗ hài lòng hay không hài lòng
với chính mình. Thiếu niên thường tự phân tích nhân cách của mình và coi sự phân
tích đó như là một phương tiện cần thiết để điều chỉnh, tổ chức những mối quan hệ.
Việc nhận thức mình còn thông qua việc đối chiếu, so sánh mình với người khác,
25
các em còn chủ quan, nông cạn, nhiều khi chỉ dựa vào một vài hình tượng không rõ
ràng các em đã vội kết luận hoặc chỉ chú ý vào một vài phẩm chất nào đó mà quy kết
toàn bộ. Và khi đã có kết luận đánh giá về một người nào đó, các em thường có ấn
tượng “dai dẳng”. Vì thế, người lớn rất dễ mà cũng rất khó gây uy tín với thiếu niên.
Sự phát triển tự ý thức ở thiếu niên có ý nghĩa lớn lao ở chỗ nó thúc đẩy các
em bước vào một giai đoạn mới. Kể từ tuổi thiếu niên trở đi, khả năng tự giáo dục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status