BÀN THÊM VỀ CẤU TRÚC THÔNG BÁO
CỦA CÂU TIẾNG VIỆT
(*)
Nguyễn Hồng Cổn
Bên cạnh sự phân đoạn câu về mặt ngữ pháp thuờng được miêu tả bằng lí thuyết
thành phân câu, mấy chục năm gần đây các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý đến sự phân
đoạn câu theo quan điểm thông tin thực tại hay quan điểm thông báo. Khởi đầu cho
những khám phá theo huớng này là V. Mathesius và nhiều học giả khác của nhóm ngôn
ngữ học Praha, mà những nghiên cứu của họ thuờng được gặp dưới cái tên lí thuyết phân
đoạn thực tại của câu. Xét trong mối quan hệ với thông tin người nói định truyền đạt và
người nghe muốn tiếp nhận, cấu trúc câu được phân chia thành hai phần là đề (Theme,
Topic) và thuyết (Rheme, Comment), trong đó đề là bộ phận biểu thị “cái đã biết” hay
“thông tin cũ”còn thuyết biểu thị “cái chưa biết” hay là “thông tin mới. Sự phân đoạn cấu
trúc thông tin thực tại của câu thành đề-thuyết theo tiêu chí “cũ - mới” này được phân
biệt với sự phân đoạn cấu trúc cú pháp của câu thành chủ ngữ -vị ngữ dựa trên các tiêu
chí hình thức và/hoặc ngữ nghĩa. Tư tưởng của Mathesius và nhóm ngôn ngữ học Praha
về sự phân đoạn cấu trúc thực tại của câu đã được một số nhà nghiên cứu tiếp thu và phát
triển theo những huớng khác nhau. Trong khi một số tác giả tiếp tục duy trì cách phân
đoạn đề -thuyết theo tiêu chí “cũ- mới” truyền thống (Alisova 1971, Li & Thomson 1976,
81) hoặc mở rộng hơn theo tiêu chí coi đề là “cái được nói đến” còn thuyết là bộ phận
“thuyết minh” cho đề (Danes 1967, Halliday 1970, Sgall 1975), thì một số nhà nghiên
cứu khác lại đi chệch khỏi sự phân chia luỡng phân này. Chẳng hạn, J Firbas (1966) đưa
ra cách phân đoạn tam phân là đề -chuyển đề -thuyết, trong đó chuyển đề là bộ phận.
S.Dik (1981) phân biệt vị thế thông tin của các thành tố câu ở cấp độ dụng học (trong sự
khu biệt với các cấp độ kết học và nghĩa học) bằng bốn chức năng dụng học; khởi đề, kết
đề (nằm ngoài nóng cốt) và chủ đề, tiêu điểm (nằm trong nòng cốt). Điều đáng lưu ý
trong quan điểm của Dik là tác giả không cho rằng các chức năng dụng học phải tác động
đến sự phân đoạn luỡng phân hình thức câu theo kiểu “nếu chúng ta gắn một chức năng
dụng học nào đó cho một thành tố bất kỳ của câu, thì toàn bộ phần còn lại của câu nhất
chủ ngữ- vị ngữ , chủ ngữ sẽ là phần đề, vị ngữ sẽ là phần thuyết” (1989: 31). Mặc dù về
mặt lí thuyết các tác giả theo cách tiếp cận luỡng phân này chủ trương khu biệt sự phân
đoạn thực tại (đề -thuyết hay nêu báo) với phân đoạn ngữ pháp (chủ -vị) nhưng trên thực
tế việc phân định và xác lập mối tương liên giữa các chức năng của hai bình diện này rất
phức tạp bởi vì tiếng Việt không có các dấu hiệu hình thức thoả đáng nào cho phép phân
biệt rạch ròi các cấu trúc luỡng phân của hai bình diện.
Phê phán cách tiếp cận trên đây, Cao Xuân Hạo (1991) cho rằng việc đồng nhất
cấu trúc đề-thuyết với cấu trúc thông báo “may ra chỉ có thể chấp nhận được cho những
ngôn ngữ quy chế hóa sự khác biệt giữa đề và chủ ngữ nhưng lại không có sự phân biệt
giữa đề và cái cho sẵn”, còn “trong các ngôn ngữ mà cấu trúc cú pháp cơ bản của câu
trực tiếp phản ánh cấu trúc lô gích ngôn từ (như tiếng Hán và tiếng Việt - tôi chú thích
thêm: NHC), cấu trúc thông báo và cấu trúc đề -thuyết phân biệt nhau rất rõ”. Cấu trúc
đề - thuyết với tư cách là cấu trúc cú pháp của câu, luôn “chia hết câu thành hai phần”,
trong khi “thông tin mới” có thể hết cả câu, một phần bất kỳ (đôi khi một từ làm bổ ngữ
hay định ngữ) hoặc hai phần cách nhau trong câu (chẳng hạn như khi trả lời một câu hỏi
như “ai đánh ai”?). Cụ thể hơn, theo Cao Xuân Hạo cấu trúc thông báo của câu chỉ có
một “trọng tâm thông báo’ hay là “tiêu điểm” biểu thị thông tin mới, được đánh dấu bằng
trọng âm cường điệu (Cao Xuân Hạo 1991: 60-61). Quan điểm này của Cao Xuân Hạo
được Lưu Vân Lăng, một nhà Việt ngữ học từ lâu chủ trương phân tích phân tích cấu trúc
cú pháp của câu thành đề thuyết, tán đồng và chia sẻ. Theo Lưu Vân Lăng (1994) “cần
phân biệt phân tích ngữ pháp với phân tích thông tin mới. Phân tích đề -thuyết là phân
tích ngữ pháp, cú pháp. ở đây xét chung nhiều mặt, cả hình thức cấu trúc lẩn nội dung
chức năng, ngữ nghĩa ( ). Trong phân tích thông tin mới, chỉ cần nói rõ trọng tâm thông
báo. Tuỳ trường hợp trả lời câu hỏi, tiêu điểm thông báo có thể ở bất kỳ thành tố nào
trong câu, có khi chỉ là một bộ phận phụ, có khi cả câu” (1994: 32).
So với cách tiếp cận luỡng phân, quan niệm của Cao Xuân Hạo và Lưu Vân Lăng về cấu
trúc thông báo của câu tiếng Việt với một trung tâm là tiêu điểm hay trọng tâm thông báo
quả thật “làm cho việc phân tích câu tránh được nhiều phức tạp rắc rối” (Lưu Vân Lăng
1992: 32), và điều quan trọng hơn là nó cho phép phân định được một cách rạch ròi cấu
trúc thông với cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa của câu, nhất là đối với một ngôn
TĐTB: X là bà ngoại.
2) a. Bà ngoại mắng ai?
TGĐ: Bà ngoại mắng một người X.
TĐTB: X là ai?
b. Bà ngoại mắng dì Tư.
TGĐ: Bà ngoại mắng một người X.
TĐTB: X là dì Tư.
Tuy nhiên, các ví dụ trên cũng cho thấy trong câu bộ phận làm nên sự khác biệt
giữa một cấu trúc thông báo này với một cấu trúc thông báo khác là tiêu điểm thông báo
chứ không phải là tiền giả định. Bằng chứng là cấu trúc thông báo của các câu (1a) và
(1b), (2a) và (2b) có cùng tiền giả định nhưng phân biệt nhau bởi các tiêu điểm thông
báo. Vì vậy để nhận diện cấu trúc thông báo của câu, hay phân biệt một cấu trúc thông
báo này với một câú trúc thông báo khác chúng ta chỉ cần căn cứ vào bộ phận quan trọng
nhất của nó là tiêu điểm thông báo. Nói cách khác, phân tích cấu trúc thông báo của câu
thực chất là chỉ ra bộ phận nào đóng vai trò là tiêu điểm thông báo (TĐTB) của câu.
1.2 Tiêu điểm thông báo
Trong các tài liệu ngôn ngữ học, TĐTB thuờng được xác định là phần mang “thông tin
mới” và là phần mang “trọng tâm thông báo”, mang “thông tin quan trọng nhất” (Dik
1981, Dooley 1982, Cao Xuân Hạo 1991, Lưu Vân Lăng 1992). ở đây có hai vấn đề cần
thảo luận: thứ nhất, thế nào là “thông tin mới”?, và thứ hai “thông tin mới” và “thông tin
quan trọng nhất” hay là “trọng tâm thông báo” của câu có đồng nhất với nhau hay không?
Theo Cao Xuân Hạo (1991), một yếu tố nào đó của câu thuờng được coi là “mới” (tức là
mang “thông tin mới”), nếu nó thông báo một nội dung mà “người nói cho là không có
mặt trong ý thức của người nghe ” lúc sắp nói. Nếu dùng câu hỏi để kiểm nghiệm, thì
phần mang thông tin mới sẽ trực tiếp trả lời cho các câu hỏi ai? gì? nào?, vv. Chẳng hạn,
trong một câu như “ Hôm nay tôi sẽ sửa cái máy này”, tuỳ theo tình huống, ngôn cảnh
ứng với các các câu hỏi trên, cái “mới” có thể là bất cứ từ nào, phần nào? (Cao Xuân Hạo
1991: 39). Theo chúng tôi, cách hiểu như vậy về “thông tin mới” chỉ đúng với trường hợp
các câu tường thuật, mà chủ yếu là của các câu trả lời cho những câu hỏi ai? gì? nào?
mà chỉ muốn biết viên dự thẩm có biết là anh ta giết hay không và biết chắc đến nào. Còn
khi Petrovich trả lời “Thì anh giết chứ ai”, đối với Raskolnikov câu này không có một
chút gì mới cả, nhưng viên dự thẩm muốn thông báo cho Raskolnikov biết rằng ông ta
biết chắc mười phần cái điều mà chính bản thân Rasnikov biết: chính anh ta là thủ phạm
(Cao Xuân Hạo 1991: 39). Điều này gợi ý rằng phần mang “thông báo quan trọng nhất”
hay là “trọng tâm thông báo” của câu, tức là tiêu điểm, không phải bao giờ cũng mang
“thông tin mới”. Nhưng nếu “không mang thông tin mới” thì điều gì khiến cho tiêu điểm
trở thành bộ phận mang “thông báo quan trọng nhất”, trở thành “trọng tâm thông báo của
câu”? Chúng tôi nghiêng theo ý kiến của Jackendoff cho rằng “ tiêu điểm của câu” là
“phần thông tin trong câu mà người nói giả định rằng nó không được người nói và người
nghe cùng chia xẻ” (1972: 230, dẫn theo Lambrecht 1974). Nói cách khác TĐTB là phần
duy nhất trong cấu trúc thông báo của câu cho thấy sự chênh lệch về thông tin giữa người
nói và người nghe, xét theo sự đánh giá của người nói. ở các câu hỏi có các từ nghi vấn
ai? gì? nào? sự chênh lệch thông tin (tri thức) giữa người nói và người nghe biểu hiện ở
chỗ thông tin của TĐTB là thông tin người nói chưa biết nhưng người nghe có thể đã
biết, theo sự đánh giá của người nói. Ngược lại ở các câu tường thuật tương ứng trả lời
cho các câu hỏi trên, thì thông tin của TĐTB là thông tin mà người nói đã biết nhưng
người nghe, theo sự xét đoán của người nói, là chưa biết. Còn với những câu như ví dụ
của Cao Xuân Hạo được dẫn lại ở trên, thì thông tin của TĐTB là thông tin được cả
người nói và người nghe cùng biết nhưng cố ý giả định là chưa biết.
1.3 Các phuơng pháp xác định tiêu điểm thông báo
Để xác định TĐTB (cũng tức là nhận diện cấu trúc thông báo) của một phát ngôn
có thể sử dụng các phuơng pháp sau đây:
- Dựa vào ngữ cảnh là các câu hỏi đi trước câu cần xác định TĐTB trong cặp thoại “hỏi -
đáp”. Theo phuơng pháp này, nếu bộ phận nào của câu đáp trực tiếp trả lời cho câu hỏi,
thì đấy chính là TĐTB của câu, ví dụ:
4) a1. Ai đấy?
b1. Dạ, em.
a2. Cô đi đâu đấy?
tiêu điểm khẳng định mang thông tin mới mà người nghe chưa biết, có thể trả lời trực tiếp
cho các câu hỏi ai? gì? nào? Điều này cũng dễ hiểu bởi vì TĐTB như đ• nói thuờng
trùng với phần mang thông tin mới mà cách phân đoạn luỡng phân theo tiêu chí “cũ-
mới” truyền thống gọi là phần thuyết (trong sự khu biệt với phần đề, biểu hiện thông tin
cũ). Hệ quả của cách tiếp cận này là các tác giả chỉ mô tả cấu trúc thông báo của các câu
tường thuật, mà thường là các câu trả lời trực tiếp cho câu hỏi có từ nghi vấn. Tán đồng
quan điểm của Lambrecht “không có câu nào là không có cấu trúc thông báo” (1994: 16),
dựa trên kết quả phân tích tư liệu, chúng tôi cho rằng cần cần phân biệt trong câu tiếng
Việt ba loại TĐTB khác nhau về chức năng là tiêu điểm hỏi (focus of question), tiêu điểm
khẳng định (focus of assertion), tiêu điểm tương phản (contrastive focus), và tương ứng
với chúng là ba kiểu cấu trúc thông báo khu biệt nhau theo chức năng của tiêu điểm.
Dưới đây chúng tôi sẽ đi vào phân tích mô tả chức năng và phuơng tiện biểu hiện của ba
loại TĐTB này cũng như của các cấu trúc thông báo bao hàm chúng.
2.1 Cấu trúc thông báo có tiêu điểm hỏi
Tiêu điểm hỏi (TĐH) là TĐTB biểu hiện thông tin người nói chưa biết hoặc biết
chưa chắc chắn và giả định rằng người nghe đã biết. Nếu như tiền giả định là điều kiện
cần để tạo lập một câu hỏi thì TĐH là điều kiện đủ để sử dụng nó trong giao tiếp. Không
có thông tin chưa biết được biểu hiện ở tiêu điểm hỏi, cũng như nếu không giả định rằng
người nghe có thể cung cấp cho mình thông tin đó qua câu trả lời thì người nói không có
nhu cầu hỏi và không thực hiện hành vi hỏi. Tuỳ theo mức độ nắm được thông tin (biểu
hiện qua tiền giả định của câu hỏi) và mục đích giao tiếp (muốn cầu khiến thông tin mới
hay kiểm nghiệm thông tin đã biết) mà có thể có các loại TĐH khác nhau, và tương ứng
có các loại cấu trúc thông báo khác nhau cho câu hỏi. Khi người nói biết rằng có một sự
tình nào đó xảy ra nhưng chưa biết chính xác là gì, thì người nói sẽ sử dụng các câu hỏi
cầu khiến thông tin chung có TĐH toàn câu (vd: Có chuyện gì thế?). Nếu người nói đã
biết một phần của sự tình, nhưng còn có phần chưa rõ, thì để biết phần thông tin còn lại,
người nói sẽ sử dụng các câu hỏi cầu khiến thông tin chuyên biệt có TĐH trùng với các
đại từ nghi vấn như ai?,gì?, nào? (vd: Ai đang nói đấy?, Cô uống gì ạ?, Quyển sách nào
hay?, Cháu học thế nào?) Trong loại câu hỏi này, các từ nghi vấn vừa có chức năng làm
biểu hiện tập trung qua tiêu điểm hỏi) thì đó chính là TĐKĐ. Trong câu, TĐKĐ được
đánh dấu bằng một trọng âm lô gích và là phần duy nhất của cấu trúc thông báo không
thể luợc bỏ được. Ví dụ:
9) (Ai hát mà hay thế hả?)
- Cô Lựu đấy.
10) (Chiều nay anh viết cái gì đấy?)
- Thư
Cùng một câu, nhưng ở các tình huống giao tiếp khác nhau, trả lời cho các câu hỏi khác
nhau, sẽ có các TĐKĐ khác nhau. Chẳng hạn, câu “Bà ngoại mắng dì Tư” trong ví dụ
(1b) có TĐKĐ là bà ngoại (trả lời câu hỏi “Ai mắng dì Tư?”), còn ở (2b) lại có TĐKĐ là
dì Tư (ứng với câu câu hỏi “Bà ngoại mắng ai?”).
Các quan niệm coi tiêu điểm thông báo là một bộ phận mang thông tin mới mà người
nghe chưa biết (hoặc là phần thuyết bổ sung thông tin mới cho phần đề - theo quan niệm
“luỡng phân”), thực chất đã đồng nhất tiêu điểm thông báo (hay phần thuyết) với TĐKĐ,
và vì vậy đã thu hẹp nội hàm và ngoại diên của tiêu điểm thông báo. Chúng tôi cho rằng
TĐKĐ chỉ là một loại của tiêu điểm thông báo, và cần phải phân biệt nó một mặt với
TĐH và mặt khác với TĐTP (tiêu điểm tương phản).
2.3 Cấu trúc thông báo có tiêu điểm tương phản
Xét các ví dụ sau:
11) a. Bà ngoại mắng dì Ba à?
b. Không, bà mắng dì Tư.
12) a. Ông ngoại mắng dì Tư à?
b. Dạ không, bà ngoại (mắng dì Tư).
Trong các ví dụ trên, thông tin được người nói nhấn mạnh ở tiêu điểm thông báo của các
câu trả lời (b) hoàn toàn tương phản với thông tin bị người nói đánh giá là sai ở các câu
hỏi (a). Chúng tôi gọi loại tiêu điểm thông báo có chức năng biểu hiện thông tin được
người nói truyền đạt trái với sự hiểu biết, chờ đợi của người nghe này là tiêu điểm tương
phản (TĐTP). TĐTP điển hình thuờng xuất hiện trong các câu bác bỏ hay điều chỉnh lại
nội dung khẳng định hay tiền giả định của một câu khác bị người nói coi là sai lầm hoặc
Tuy nhiên vai trò quan trọng đó của vị từ ở cấp độ ngữ nghĩa và cú pháp không phải là cơ
sở đảm bảo cho vị từ luôn luôn trở thành tiêu điểm thông báo của câu. Việc vị từ có phải
là tiêu điểm thông báo hay không, không do chức năng ngữ nghĩa và cú pháp của vị từ
quyết định mà hoàn toàn tuỳ thuộc vào ý định giao tiếp của chủ ngôn và bối cảnh sử
dụng. Với các câu hỏi, TĐH sẽ rơi vào vị từ khi thông tin mà người nói cần cầu khiến hay
kiểm chứng được biểu hiện bằng vị từ (Vd: S làm gì?, S làm sao? S thế nào? S có P
không? S đã P chưa? S chưa P à, vv ). Với các câu không phải là câu hỏi, vị từ sẽ là tiêu
điểm (TĐKĐ hoặc TĐTP) khi câu hàm chứa nó biểu hiện các thông tin trả lời trực tiếp
cho các câu hỏi có tiêu điểm là vị từ. Ví dụ:
15) a. Ông Tư đang làm gì thế?
b. Ông ấy đang ngủ trong nhà.
16) a. Bà ấy làm sao thế?
b.Bà ấy ốm mấy tháng nay rồi.
17) a. Em thuơng anh không?
b. Không, ghét thì có.
Trong giao tiếp phi nghi thức, khi vị từ là tiêu điểm (dù là TĐH, TĐKĐ hay TĐTP), nó
có thể được dùng thay thế cho toàn bộ cấu trúc thông báo của câu (vd: Làm gì đó? - Học.
Sao thế? -Ngã. Khỏe không? - Thường. Đi chơi nhé - Thôi).
3.2 Cấu trúc thông báo có tiêu điểm tham tố
Tham tố là các yếu tố bắt buộc và tuỳ ý vây quanh vị từ trong cấu trúc tham tố - vị
từ của câu, thuờng được gọi là diễn tố (argument, actant) và chu tố (satellite, circumstant)
của vị từ. Trong câu, các tham tố phụ thuộc vào vị từ về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp, giúp
vị từ biểu thị các phuơng diện khác nhau của sự tình (chủ thể, khách thể, thời gian, địa
điểm, cách thức, công cụ ). Tuy nhiên, ở bình diện ngữ dụng khi TĐTB của câu trùng
với tham tố, thì chức năng thông tin của tham tố lại trở nên quan trọng hơn vị từ, và lúc
đó tham tố trở thành bộ phận quan trọng nhất của câu. Chúng tôi gọi những cấu trúc có
tiêu điểm thông báo trùng với một tham tố như vậy là cấu trúc thông báo có tiêu điểm
tham tố. Bất kì một tham tố nào của vị từ cũng có khả năng trở thành tiêu điểm thông
báo. Với các câu hỏi, tiêu điểm sẽ rơi vào một tham tố nào đó khi thông tin người nói cần
thông tin quan trọng nhất của cấu trúc thông báo, biểu hiện sự chênh lệch về thông tin
giữa người nói và người nghe trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định. Tiêu điểm thông
báo cũng như cấu trúc thông báo của câu có thể được nhận diện dựa vào ngữ cảnh xuất
hiện, thủ pháp tỉnh luợc hoặc các phương tiện biểu hiện như trọng âm, hư từ và trật tự từ.
Theo chức năng của tiêu điểm, các cấu trúc thông báo có thể được phân biệt thành ba
nhóm: cấu trúc thông báo có tiêu điểm hỏi, cấu trúc thông báo có tiêu điểm khẳng định và
cấu trúc thông báo có tiêu điểm tương phản. Theo vị trí (hay phạm vi hoạt động) của tiêu
điểm, các cấu trúc thông báo có thể được phân chia thành: cấu trúc thông báo có tiêu
điểm vị từ, cấu trúc thông báo có tiêu điểm tham tố và cấu trúc thông báo có tiêu điểm
câu. Tuy nhiên, do sự hạn chế về thời gian và tư liệu, trong báo cáo này chúng tôi chưa
có điều kiện đi sâu nghiên cứu các kiểu cấu trúc thông báo cụ thể. Để có thể làm sáng rõ
thêm bức tranh về cấu trúc thông báo của câu tiếng Việt, thiết nghĩ vấn đề cần phải được
nghiên cứu kĩ lưỡng hơn, với một khối luợng tư liệu phong phú hơn.
Tài liệu tham khảo
1. Alisova T.V. 1971: Ocherki sintaksisa sovremennogo italijanskogo jazyka. Izd.
MGU, Moskva.
2. Cao Xuân Hạo 1991: Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng. KHXH, Tp. HCM.
3. Danes F. 1967: Order of elements and Sentence Intonation. In: To Honour Roman
Jakobson. The Hague, 499 - 512.
4. Dik S.C.1981: Functional Grammar. Foris.Third edition. Dordrecht.
5. Diệp Quang Ban 1989: Khả năng xác lập mối liên hệ giữa phân đoạn ngữ pháp và
phân đoạn thực tại câu tiếng Việt. Ngôn ngữ, 4, 25 - 32.
6. Firbas J. 1966: Non-Thematic Subjects in Contemporary English. In: Travaux
Linguistiques de Prague 2. Prague; Academia 239 - 256.
7. Givon T. 1990: Syntax: a functional - typological Introduction. John Benjamins
Publishing Company, Amsterdam/Philadenphia.
8. Halliday M.A.K. 1970: Language Structure and Sentence Form. In J. Lyons (ed.)
New Horizons in Linguistics, Penguin: 140 -145.