Tiểu luận: CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA ICJ - Pdf 12

1

Tiểu luận

CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA ICJ

2
CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA ICJ
1. Cơ cấu
Vấn đề cơ cấu tổ chức ICJ được điều chỉnh bởi các Điều 2 – 33 của Quy chế

Statute of the International Court of the Justice, Art. 2
3

thẩm phán có nhiệm kỳ 6 năm được chọn theo phương pháp rút thăm ngay sau khi
trúng cử
3
(để đảm bảo 3 năm một lần bầu thay đổi số thành viên của ICJ). Các thành
viên của ICJ sẽ nhận được quyền ưu tiên và miễn trừ ngoại giao trong quá trình thực
thi công việc của mình.
Trụ sở của ICJ được đặt ở La Hay, trong một số trường hợp ICJ có thể tổ chức
xét xử ở một địa điểm khác.
4
Thông thường, các phiên tòa của ICJ được tiến hành với
sự tham gia của tất cả các thẩm phán (full Court), nhưng trong trường hợp các bên
tranh tụng có yêu cầu khác, ICJ sẽ thành lập một Chamber đặc biệt có ít nhất 3 thẩm
phán được lựa chọn bằng cách bỏ phiếu kín. Số lượng thẩm phán hợp lệ để tiến hành
xét xử trong mỗi phiên tòa có thể là 9 – 11 người, tùy theo quy định của Luật của Tòa.
5

Như mọi tổ chức khác, ICJ có một Ban Thư ký (the Registry) đảm nhận các
khâu hành chính, quản lý liên quan đến bốn mảng: pháp lý (judicial), ngoại giao
(diplomatic), hành chính (administrative), ngôn ngữ (linguistic). Ban Thư ký bao gồm:
(Registrar), (Deputy-Registrar), và các nhân viên khác (other officials). Registrar và
Deputy-Registrar được ICJ bổ nhiệm với 7 năm nhiệm kỳ, và có thể tái ứng cử sau khi
hết nhiệm kỳ. Các nhân viên khác của Ban Thư ký được ICJ bổ nhiệm dựa trên yêu
cầu của Registrar, hoặc do chính Registrar bổ nhiệm với sự thông qua của Chủ tịch
ICJ.
2. Bồi thẩm đoàn
Để tiến hành xét xử một vụ án, bồi thẩm đoàn sẽ được cấu thành bao gồm tất cả
các thẩm phán chính thức của ICJ và thẩm phán ad-hoc. Không có thành viên nào của

Thẩm phán ad-hoc tốt nhất nên chọn một trong những
thẩm phán có tên trong danh sách ứng cử thành viên của ICJ. Các thẩm phán ad-hoc
trong quá trình xét xử có quyền và nghĩa vụ như thẩm phán thành viên của ICJ.
4. Ngôn ngữ chính thức
Ngôn ngữ chính thức được ICJ sử dụng là tiếng Anh và tiếng Pháp. Trong một
số trường hợp, theo yêu cầu của một bên tham gia tranh tụng, ICJ cho phép sử dụng
một ngôn ngữ khác và được phiên dịch lại sang tiếng Anh hoặc Pháp.
I. NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA ICJ:
ICJ là một cơ quan của Liên Hợp Quốc, do đó, nguyên tắc hoạt động của cơ
quan này phải dựa trên các nguyên tắc hoạt động của Liên Hợp Quốc.
Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định tổ chức này và các thành viên
của nó phải hoạt động theo 7 nguyên tắc hoạt động sau:
1. Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền của các quốc gia thành viên.
2. Nguyên tắc các thành viên phải thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ theo
quy định của Hiến chương.
3. Nguyên tắc các thành viên của Liên Hợp Quốc phải giải quyết các
tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hoà bình.

7
Id. Art 17
8
Id. Art 31
5

4. Nguyên tắc các thành viên của Liên Hợp Quốc phải từ bỏ đe doạ dung
vũ lực hay sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
5. Nguyên tắc các thành viên của Liên Hợp Quốc giúp đỡ Liên Hợp
Quốc trong mọi hành động của Liên Hợp Quốc mà tổ chức này áp dụng theo
đúng quy định của Hiến chương.
6. Nguyên tắc Liên Hợp Quốc đảm bảo để các quốc gia không phải là

(3) Nguyên tắc Liên Hợp Quốc không được phép can thiệp vào công việc thuộc
thẩm quyền nội bộ của bất kỳ quốc gia thành viên nào.
Thực tế, không có cơ chế mang tính quyền lực quốc tế áp đặt cho quá trình thực
thi luật quốc tế của các quốc gia, trừ những có chế kiểm soát quốc tế trong những lĩnh
vực nhất định, khi có sự thỏa thuận của các quốc gia. Đối với phán quyết của ICJ, nếu
một trong hai bên không chịu thi hành bản án, để giải quyết, phía bên kia có thể yêu
cầu Hội đồng bảo an can thiệp đảm bảo chấp hành, còn ICJ không thể dùng sức mạnh
của mình để buộc bên đó thực thi. Như vậy, có thể thấy ICJ không và không thể can
thiệp vào công việc nội bộ của bất kỳ một quốc gia nào.
II. THẨM QUYỀN CỦA ICJ
1. Các thẩm quyền của ICJ:
ICJ có hai dạng thẩm quyền: thẩm quyền giải quyết các tranh chấp quốc tế và
thẩm quyền tư vấn.
a. Giải quyết tranh chấp quốc tế:
Điều 36(1) Quy chế TAQT quy định: Tòa có thẩm quyền xét xử tòa tất cả vụ
việc mà các bên đưa ra và tất cả các vấn đề được nêu riêng trong Hiến Chương LHQ
hoặc trong các hiệp ước, công ước quốc tế hiện hành.
Tòa giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể là các quốc gia, không
phân biệt quốc gia đó có phải là thành viên Liên Hợp Quốc hay không.
Trong mọi trường hợp xảy ra tranh chấp, thẩm quyền của tòa được xác định
trên cơ sở ý chí của chủ thể đang tranh chấp (các bên tranh chấp).
7

Khi thẩm quyền của Tòa được xác lập thì thẩm quyền này là độc lập, dựa trên ý
chí tự nguyện từ các bên hữu quan, mà không bị bất cứ sức ép chính trị hay kinh tế
nào.
b. Thẩm quyền tư vấn
Ngoài thẩm quyền xét xử, ICJ còn có thẩm quyền tư vấn theo yêu cầu của các
cơ quan chính của Liên hợp quốc và các tổ chức chuyên môn được Đại hội đồng cho
phép. Thẩm quyền này được quy định tại điều 96 Hiến chương LHQ:

ICJ. Thông thường, các quốc gia, thông qua các điều ước quốc tế, đã thỏa thuận trước
với nhau sẽ đưa ra Tòa tất cả các vụ việc liên quan đến việc áp dụng và giải thích điều
ước.
Ví dụ: Vụ Gruzia đưa đơn kiện Nga vi phạm Công ước quốc tế về loại bỏ mọi
hình thức phân biệt chủng tộc (International Convention on the Elimination of All
Forms of Racial Discrimination – CERD) mà cả Gruzia và Nga đều là thành viên.
Trong đó, điều 22 CERD quy định: “bất cứ tranh chấp nào giữa hai hay nhiều quốc
gia liên quan đến việc giải thích và áp dụng công ước này, mà không được giải quyết
bằng đàm phán hay những thủ tục được quy định riêng trong công ước này, sẽ được
giao cho Tòa án Công lý Quốc tế theo đề nghị của một bên, trừ khi các bên liên quan
đồng ý lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp khác”.
Tòa xem xét và đưa ra kết luận Tòa có thẩm quyền xét xử vụ việc.
Như vậy, thẩm quyền của ICJ được xác định dựa trên quy định của điều ước
quốc tế mà các bên tham gia.
c. Tuyên bố đơn phương chấp nhận thẩm quyền của tòa theo Điều 36(2) Quy chế
TAQT (declarations/optional clause):
Thẩm quyền của ICJ còn được xác định thông qua tuyên bố của các quốc gia
chấp nhận thẩm quyền xét xử của Tòa (như là một nghĩa vụ bắt buộc) trong quan hệ
với bất kỳ quốc gia nào khác cũng chấp nhận những nghĩa vụ tương tự, trong tất cả các
tranh chấp liên quan đến những vấn đề được liệt kê tại điều 36(2) Quy chế TAQT bao
gồm:
(i) Việc giải thích một hiệp ước.
9

(ii) Bất kỳ câu hỏi nào về luật pháp quốc tế.
(iii) Sự xuất hiện của bất kỳ nhân tố nào mà sự hình thành của nó sẽ dẫn đến
một vi phạm nghĩa vụ quốc tế.
(iv) Bản chất hoặc phạm vi bồi thường đối với việc vi phạm nghĩa vụ quốc tế.
Các quốc gia chịu sự điều chỉnh của Quy chế TAQT có thể đưa ra tuyên bố đơn
phương chấp nhận thẩm quyền của Tòa vào bất cứ thời điểm nào. (ví dụ: Austraylia

điều 61(1) Quy chế TAQT). Đề nghị được đệ trình dưới dạng đơn, tuân theo những
quy định của điều 99 Luật của TAQT.
Dù các bên hữu quan xác định thẩm quyền của Tòa theo cách nào, thẩm quyền
ấy không bị ảnh hưởng.
3. Các bảo lưu (reservations) đối với thẩm quyền của ICJ
Trong trường hợp quốc gia đơn phương tuyên bố chấp nhận trước thẩm quyền
của Tòa, những vụ việc thuộc thẩm quyền của ICJ được giới hạn dựa trên tuyên bố của
các quốc gia. Việc tuyên bố của các quốc gia có thể bao gồm bảo lưu đưa ra những
ngoại lệ không thuộc thẩm quyền xét xử của ICJ, gồm có:
- Những vụ việc được giải quyết bằng các biện pháp ngoại giao nhưng không đạt
được kết quả.
- Những vụ việc mà các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn các biện pháp giải
quyết tranh chấp khác.
- Những vụ việc liên quan đến những sự kiện xảy ra vào thời điểm có chiến tranh
hay xung đột
- Những vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án quốc gia.
Trên thực tế, các quốc gia khi đơn phương tuyên bố chấp nhận thẩm quyền của
ICJ đã đưa ra hàng loạt các bảo lưu hết sức đa dạng.
4. Luật áp dụng
Những vụ việc được đưa ra ICJ được giải quyết theo luật quốc tế. Luật được áp
dụng tại Tòa được quy định tại điều 38(1) Quy chế TAQT (Statute of International
Court of Justice). Theo đó, luật áp dụng gồm:
11

 Các công ước quốc tế chung hoặc khu vực đã qui định về những nguyên tắc
được các bên tranh chấp thừa nhận.
 Các tập quán quốc tế với tính chất là những chứng cứ thực tiễn chung được
thừa nhận như những qui phạm pháp luật.
 Các nguyên tắc đã được hình thành từ lâu đời được các quốc gia văn minh thừa
nhận.

xảy ra tranh chấp. Thực tế thì mỗi quốc gia khi tuyên bố chấp nhận thẩm quyền
của Tòa theo quy định tại điều 36(2) Quy chế TAQT đều kèm theo những điều
khoản bảo lưu về các trường hợp mà Toà sẽ không có thẩm quyền xét xử. Và
đặc biệt, tuyên bố bảo lưu là tuyên bố đơn phương của mỗi quốc gia và có thể
đưa ra vào bất cứ thời điểm nào.
- Thứ hai, với các quốc gia cùng là thành viên của điều 36(2) Quy chế TAQT thì
không cần có những special agreements giữa các nước để công nhận thẩm
quyền của Toà khi xảy ra tranh chấp. tranh chấp giữa các quốc gia này sẽ thuộc
thẩm quyền xét xử của ICJ theo nguyên tắc có đi có lại - một nguyên tắc quan
trọng của optional clause. Giả sử nước A đã chấp nhận là thành viên của điều
36 khoản 2, nước B chưa chấp nhận thì nước B không có quyền kiện nước A.
Phillipines tuyên bố đơn phương chấp nhận thẩm quyền của ICJ theo điều 36(2)
vào ngày 18/1/1972.
9
Như vậy, Phillipines có thể đưa vụ việc này ra Toà theo điều
36(2) khi Cameron cũng có tuyên bố chấp nhận thẩm quyền của Tòa đối với tranh
chấp này.
Hơn nữa không có giới hạn nào về thời gian mà một quốc gia đưa vụ việc tranh
chấp lên Toà (Jurisdiction Rationae Temporis) nhưng hầu hết các quốc gia khi đưa ra
công bố chấp nhận điều 36 khoản 2 Quy chế TAQT đều kèm theo những bảo lưu quy
định những vụ việc xảy ra trong khoảng thời gian nào thì Toà có thẩm quyền xét xử.
Như vậy, Phillipines có thể đưa vụ việc này ra Toà vào bất kỳ thời điểm nào.

9
Website chính thức của Tòa án Công lý quốc tế:
http://www.icj-cij.org/jurisdiction/index.php?p1=5&p2=1&p3=3&code=PH, truy cập ngày 5 tháng 1
năm 2009.
13

14

năm 2009.

15

(a) in regard to which the parties thereto have agreed or shall agree to
have recourse to some other method of peaceful settlement; or
(b) which the Republic of the Philippines considers to be essentially
within its domestic jurisdiction; or
(c) in respect of which the other party has accepted the compulsory
jurisdiction of the International Court of Justice only in relation to or for the
purposes of such dispute; or where the acceptance of the compulsory
jurisdiction was deposited or ratified less than 12 months prior to the filing of
the application bringing the dispute before the Court; or
(d) arising under a multilateral treaty, unless (1) all parties to the treaty
are also parties to the case before the Court, or (2) the Republic of the
Philippines specially agrees to jurisdiction; or
(e) arising out of or concerning jurisdiction or rights claimed or
exercised by the Philippines
(i) in respect of the natural resources, including living organisms
belonging to sedentary species, of the sea-bed and subsoil of the continental
shelf of the Philippines, or its analogue in an archipelago, as described in
Proclamation No. 370 dated 20 March 1968 of the President of the Republic of
the Philippines; or
(ii) in respect of the territory of the Republic of the Philippines,
including its territorial seas and inland waters; and
Provided, further, that this declaration shall remain in force until notice is
given to the Secretary-General of the United Nations of its termination.
Done at Manila this 23rd day of December 1971.
Ta có thể xét vụ việc này theo 2 trường hợp:
- Thứ nhất, Phillipines đưa vụ việc này ra trước Toà vào khoảng thời gian trước

agreement, in relation to any other State accepting the same obligation and
17

subject to the sole condition of reciprocity, the jurisdiction of the International
Court of Justice in all legal disputes other than:
a) disputes prior to 25 September 1990 or disputes arisen out of
facts or situations prior to the same date,
b) disputes with regard to the territory and State boundaries,
c) disputes with regard to environmental protection,
d) disputes with regard to foreign liabilities or debts,
e) disputes with regard to any State which has made a declaration
accepting the compulsory jurisdiction of the International Court of
Justice less than twelve months prior to the filing of the application
bringing the dispute before the Court,
f) disputes in respect whereof the parties have agreed or shall
agree to have recourse to other method of peaceful settlement,
g) disputes relating to matters which, by international law, fall
exclusively within the domestic jurisdiction of the Republic of Poland.
The Government of the Republic of Poland reserves its right to withdraw
or modify the present Declaration at any time and by means of a notification
addressed to the Secretary-General of the United Nations, taking effect after six
months from the moment whereof.
25 March 1996.
Ta có thể phân tích vụ việc để xác định thẩm quyền của Toà theo 4 trường hợp:
- Thứ nhất, nếu Ba Lan đưa vụ việc ra trước Toà vào khoảng thời gian từ tháng 8
năm 1990 đến 25/09/1990, khi đó cả Ba Lan và Cameroon đều chưa đưa ra
tuyên bố chấp nhận thẩm quyền của Toà theo điều 36(2). Mặc dù chưa tuyên bố
chấp nhận thẩm quyền của Toà, Ba Lan vẫn có thể đưa vụ việc ra ICJ không
phải theo điều 36(2) nhưng ngược lại Cameroon cũng có thể phản đối thẩm
quyền của Toà vì nó chưa phải là quốc gia đã chấp nhận thẩm quyền của Toà.

lãnh thổ Pakistan) để thu thập tin tức ngay sau khi vụ việc xảy ra. Không thành công
19

trong việc đòi Ấn Độ bồi thường 60 triệu đô, Pakistan đã quyết định đưa việc này ra
Toà.
Trong hồ sơ mà Pakistan đệ trình lên Tòa án Công lý Quốc tế (“ICJ”), nước
này yêu cầu:
- Tòa tuyên bố hành động nêu trên của Ấn Độ vị phạm nghĩa vụ của quốc gia này
theo Hiến chương Liên Hợp Quốc, các quy định của tập quán quốc tế và các
điều ước quốc tế khác, theo đó, Ấn Độ phải chịu toàn bộ trách nhiệm pháp lý
trong vụ việc này.
- Ấn Độ có nghĩa vụ phải bồi thường cho phía Pakistan những tổn thất người và
của nêu trên.
Pakistan dựa vào một số cơ sở pháp lý sau đây để đưa vụ việc ra
- Đạo luật về Giải quyết hòa bình tranh chấp quốc tế kí kết Geneva ngày
26.09.1928
- Tuyên bố của hai phía theo điều 36 khoản 2 Quy chế Tòa án Công lý Quốc tế
- Điều 36 khoản 1 Quy chế Tòa án Công lý Quốc tế
Vì cả hai bên đều không có thẩm phán mang quốc tịch nước mình trong danh
sách thành viên tham gia xét xử nên theo Điều 31 khoản 3 Quy chế Toà án Công lý
Quốc tế, mỗi bên được quyền lựa chọn một vị thẩm phán ad-hoc. Theo đó, Pakistan đã
chọn ông Syed Pirzada còn Ấn Độ chọn ông Jeevan Reddy vào vị trí này.
2. Arguments – lập luận của các bên
Trong vụ việc này, lập luận đầu tiên, quan trọng nhất của hai phía và phán
quyết sau cùng của ICJ đều tập trung xoay quanh thẩm quyền của tòa đối với vụ việc.
Thẩm quyền của Tòa được đưa ra bàn luận dựa trên 3 cơ sở sau đây:
(1) Đạo luật về Giải quyết hòa bình tranh chấp quốc tế kí kết tại Geneva ngày
26.09.1928
Lập luận của Pakistan bao gồm:
Pakistan dẫn ra điều 17 của Đạo luật, trong đó quy định:


11
General Act for Pacific Settlement of International Disputes, Sept. 26,1928,93 L.NTS 343
21

otherwise. Accordingly, India has never been and is not a party to the General
Act of 1928 ever since her Independence.”
12

Theo đó, Ấn Độ không bị ràng buộc bởi quy định của Đạo luật, đồng thời
không thừa nhận thẩm quyển của Tòa trong vụ việc này.
(2) Tuyên bố của hai phía theo điều 36 khoản 2 Quy chế Tòa án Công lý
Quốc tế
Điều 36(2) Quy chế ICJ - điều khoản tùy chọn (Optional Clause) - quy định:
“The states parties to the present Statute may at any time declare that
they recognize as compulsory ipso facto and without special agreement, in
relation to any other state accepting the same obligation, the jurisdiction of the
Court in all legal disputes concerning:
a. the interpretation of a treaty;
b. any question of international law;
c. the existence of any fact which, if established, would constitute
a breach of an international obligation;
d. the nature or extent of the reparation to be made for the breach
of an international obligation.”
Trong tuyên bố ngày 15.09.1974 về việc chấp nhận thẩm quyền bắt buộc của
ICJ theo điều 36(2) Quy chế Tòa án Công lý Quốc tế, Ấn Độ có đưa ra một số bảo lưu
về thẩm quyền của tòa ICJ:
“I have the honour to declare, on behalf of the Government of the
Republic of India, that they accept, in conformity with paragraph 2 of Article
36 of the Statute of the Court [ ] the jurisdiction of the International Court of

phạm vi của điều 36(3) của Quy chế ICJ. Thêm vào đó, Pakistan cũng lập luận rằng,
một bảo lưu “ngoài quy chế” như trên đưa ra bởi bị đơn chỉ được chấp nhận và áp
dụng khi Tòa cócơ sở nào đó để kết luận rằng nguyên đơn đã chấp nhận bảo lưu này.
1313
Id. para.30 Việc nguyên đơn chấp nhận bảo lưu có thể đươc thể hiện thông qua 2 tình huống:
(1) Quốc gia nguyên đơn cũng đã đưa ra một bảo lưu tương tự.
(2) Quốc gia nguyên đơn, mặc dù phải chấp nhận việc bị đơn lấy bảo lưu này để chống lại mình, hoàn
toàn sẵn sàng tham gia vào việc giải thích nội dung của bảo lưu.
23

Hơn thế nữa, Pakistan cho rằng bảo lưu này đã lỗi thời [obsolete] bởi nguồn gốc
của nó xuất phát từ ý kiến cho rằng luật quốc tế không áp dụng đối với các quốc gia
thuộc khối thịnh vượng chung, theo đó tranh chấp giữa các quốc gia này không thể
đưa ra tòa án quốc tế (“inter se doctrine”). Ý kiến này (cũng như bảo lưu này), theo
Pakistan, đã trở nên lỗi thời bởi các quốc gia trong khối thinh vượng chung đã coi
nhau như những quốc gia bình thường khác và mọi quy định của luật quốc tế có thể
được áp dụng giữa chúng.
Pakistan cũng lập luận rằng, bảo lưu này tạo ra phân biệt đối xử đối với
Pakistan vì hiện tại nó chỉ có hiệu lực áp dụng trực tiếp đối với duy nhất Pakistan, và
hành động đó của Ấn Độ bị xem là lạm dụng quyền lực:
“The Commonwealth reservation [was] maintained by India only as a bar to
actions by Pakistan . . . This discrimination against Pakistan in India's acceptance of
the optional clause really amount[ed] to an abuse of right.”
14

Lập luận của Ấn Độ:
Ấn Độ bác bỏ những lập luận nêu trên của Pakistan, bởi theo nước này, điều

Vì bảo lưu thứ nhất của Ấn Độ – trong trường hợp tranh chấp nổ ra đối với
thành viên thuộc khối thịnh vượng chung (Commonwealth reservation) đã ngăn chặn
thẩm quyền của toà trong vụ kiện này cho nên Toà cho rằng việc xem xét bảo lưu thứ
hai này là không cần thiết.
(3) Điều 36 khoản 1 Quy chế Tòa án Công lý Quốc tế
Theo Điều 36 khoản 1 Quy chế Toà án Công lý Quốc tế, thẩm quyền xét xử của
Toà bao gồm tất cả những vấn đề được quy định trong Hiến chương Liên Hợp Quốc
hoặc trong các Hiệp ước, Hiệp định có hiệu lực:
“The jurisdiction of the Court comprises all cases which the parties
refer to it and all matters specially provided for in the Charter of the United
Nations or in treaties and conventions in force.”
15

Lập luận của Pakistan:
Theo như hiệp định được kí kết tại Simla vào ngày 2 tháng 7 năm 1972 và có
hiệu lực từ ngày 4 tháng 8 năm đó, các bên đã xác nhận lại một lần nữa thẩm quyền

15
Statute of the Court, Art. 36(1)
25

của Toà theo Điều 36 khoản 1, quy định rằng các nguyên tắc và mục đích của Hiến
chương Liên Hợp Quốc sẽ chi phối mối quan hệ giữa hai quốc gia. Trong Hiệp định
đó, hai quốc gia cũng đã tự tuyên bố rằng sẽ quyết tâm giải quyết những bất đồng giữa
họ bằng biện pháp hoà bình thông qua đàm phán song phương hoặc bằng bất kì một
biện pháp hòa bình nào khác mà được sự tán thành của cả hai bên. Theo Pakistan, Đạo
luật 1928 Chương II là một biện pháp hoà bình đã được tán thành bởi cả hai bên trước
ngày 2 tháng 7 năm 1972 và đã tạo ra nghĩa vụ ràng buộc lẫn nhau bắt buộc giữa hai
bên, điều khoản nêu trên của Hiệp định Simla đã tái khẳng định và làm cho thủ tục
theo Điều 17 Đạo luật 1928 thực sự có hiệu lực, tức là vụ việc vốn thuộc thẩm quyền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status