Chuyên đề thực tập tốt nghiệp khoa kế hoạch và phát triển
LỜI MỞ ĐẦU
Nguồn tài nguyên thiên nhiên (rừng và đất) trong những năm vừa qua
tại Lào đang có nguy cơ bị cạn kiệt do nhiều nguyên nhân khác nhau. Độ
che phủ rừng của Lào giảm từ 67% xuống còn 47% tại thời điểm năm 1989.
Chương trình giao đất giao rừng nhằm đảm bảo quyền của người dân
trong quản lý, bảo vệ và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất và nước)
đã được Nhà nước Lào thực hiện từ thập niên 90 đến nay. Tuy nhiên, trên
thực tế cho thấy phương pháp tiếp cận của những chương trình này thiếu sự
phù hợp để huy động sự tham gia của người dân trong suốt quá trình. Kết
cục là, người dân không phải là chủ nhân của chính những hoạt động của
mình. Tài nguyên thiên nhiên, mặc dù trên giấy tờ đã có chủ, vẫn chưa thật
sự được quản lý một cách có hiệu quả trên thực tế.
Ngoài ra, các Chương trình giao đất giao rừng còn thiếu nghiên cứu kỹ
lưỡng những giá trị của cộng đồng như các qui định trong luật tục của cộng
đồng trong quản lý và qui hoạch sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên.
Điều này dẫn đến tình trạng, sau khi kết thúc chương trình, tài nguyên thiên
nhiên vẫn không được quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả.
Chương trình giao đất giao rừng tại bản Lóng Lăn, huyện
Luangprabang, tỉnh Luangprabang, Lào được thực hiện bởi sự hỗ trợ, tư vấn
của Chương trình CHESH tại Lào từ đầu năm 2004 đến nay. Chương trình
này đã phát huy một cách tối đa có hiệu quả sự tham gia của người dân vào
trong mọi hoạt động. Ngoài ra, chương trình còn nghiên cứu, kế thừa và
lồng ghép những kiến thức của người dân, các giá trị của cộng đồng (ví dụ,
luật tục truyền thống...) trong cả quá trình từ việc đào tạo thực hành các kiến
thức về luật tài nguyên thiên nhiên, giao đất trên thực địa, giải quyết các
vướng mắc về đất đai, xây dựng các loại bản đồ (hiện trạng, qui hoạch), xây
Noimaniphone Lorbliayao -1- Lớp Kinh tế phát triển 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp khoa kế hoạch và phát triển
dựng qui chế cộng đồng trong quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và
qui chế cộng đồng trong quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và qui
Nhân văn vùng cao (CHESH), đã giúp đỡ em hoàn thành báo cáo
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp này
Noimaniphone Lorbliayao -3- Lớp Kinh tế phát triển 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp khoa kế hoạch và phát triển
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN VỀ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNGTRONG
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN SỰ THAM GIA CỦA
CỘNG ĐỒNG
1. KHÁI NIỆM SỰ THAM GIA
1.1. Căn cứ đưa ra khái niệm
Khái niệm này được đưa ra dựa trên các yếu tố sau:
- Chính sách của Đảng và Nhà nước về phát huy dân chủ cơ sở, phát
huy sức mạnh tổng hợp của người dân trong phát triển kinh tế - văn
hoá – xã hội của đất nước. Mọi hoạt động đều dựa vào sức mạnh
của người dân. Như câu nói của lãnh tụ Hồ Chí Minh nói rằng
“ Dễ trăm lân không dân cũng chịu
Khó vạn lần dân hiệu cũng xong.”
Sự tham gia chính là phát huy sức mạnh tổng hợp của người dân
- Tài nguyên thiên nhiên, môi trường và con người gắn chặt với
nhau, hoà quyện với nhau không thể tách rời được. Từ đây, môi
trường và điều kiện sống đã tạo cho các cộng đồng có những giá trị
bản sắc văn hóa riêng biệt, những luật tục truyền thống và kinh
nghiệm bản địa riêng biệt. Không ai hiểu mảnh đất, tài nguyên
thiên nhiên của mình bằng chính người dân địa phương. Không ai
hiểu những giá trị luật tục truyền thống bằng chính người dân địa
phương.
Sự tham gia của người dân chính là phát huy những giá trị truyền
thống văn hoá này của các dân tộc.
Noimaniphone Lorbliayao -4- Lớp Kinh tế phát triển 44A
viên, cộng đồng. Đồng thời nó cũng góp phần vào việc cải thiện những
chính sách, chương trình và dự án đã, đang và sẽ thực hiện trong mọi lĩnh
vực.
1.3. Bản chất của sự tham gia
Bản chất của sự tham gia thể hiện qua hành vi mà không phụ thuộc vào
các điều kiện và áp lực nào (ví dụ thúc ép, áp đặt, cho tiền….)
Điều này có thể là một quá trình có thể biểu thị như sau:
Biết Hiểu Nhận thức Thái độ Hành vi Hành vi tự nguyện
2. KHÁI NIỆM CỘNG ĐỒNG
Trước khi đi tìm hiểu quy chế cộng đồng, định nghĩa về cộng đồng và
kinh nghiệm bản địa là hết sức cần thiết. Cộng đồng là một nhóm người
cùng sinh sống trong một vùng địa lý nhất định, có cùng ngôn ngữ tiếng nói,
có cùng bản sắc văn hóa, cùng quản lý và sử dụng chung nguồn tài nguyên
thiên nhiên và có cùng chung một sở thích và mối quan tâm.
3. THẾ NÀO LÀ QUI CHẾ CỘNG ĐỒNG
a) Khái niệm quy chế cộng đồng trong quản lý TNTN
Trước hết cần phải hiểu nguồn gốc của quy chế cộng đồng: Nó được
xuất phát từ những luật tục truyền thống của cộng đồng, đó chính là các qui
định bất thành văn được lưu truyền thông qua hệ thống giáo dục phi chính
thống từ người này sang người khác, từ bố mẹ sang con cái. Nói một cách
đơn giản, trong cộng đồng có những việc nên làm hay không nên làm đó
chính là luật tục. Qui chế cộng đồng là các giá trị chuẩn mực của cộng đồng
nhằm điều chỉnh các hành vi, cách ứng xử của con người, giữa người trẻ với
người già, giữa người sống và người chết, giữa con người với tự nhiên.
Noimaniphone Lorbliayao -6- Lớp Kinh tế phát triển 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp khoa kế hoạch và phát triển
Các khái niệm qui chế cộng đồng, kinh nghiệm bản địa và cộng đồng
được chương trình CHESH Lào hiểu như sau:
Kinh nghiệm bản địa chính là sự thích ứng và thích nghi qua nhiều thế
hệ của một cộng đồng và dân tộc trong các mối quan hệ giữa môi trường xã
nhượng, đất thừa kế tại bản và những người không có hộ khẩu tại bản nhưng
có nhu cầu sử dụng đất, rừng trong bản, ví dụ cần sản xuất, canh tác trong
đất của bản.
Quy định về phân vùng và sử dụng đất trong đó bao gồm các quy định
về phân vùng và sử dụng đất nông nghiệp như vùng trồng cây ngắn ngày,
vùng đất vườn, vùng trồng cây ngắn ngày, cây ăn quả, vùng trồng cây công
nghiệp, cây lâm nghiệp, vùng chăn thả gia súc, vùng dự phòng đất nông
nghiệp trong các vùng này phải quy định mấy vùng, tên cụ thể của từng
vùng, nói rõ vị trí của từng vùng, từ đâu đến đâu, được phép trồng những
cây gì trong vùng đó. Phân vùng sử dụng đất lâm nghiệp gồm có vùng rừng
thiêng, rừng nghĩa địa, vùng rừng cấm riêng của cộng đồng, vùng rừng
phòng hộ đầu nguồn nước, vùng dự phòng đất lâm nghiệp. Quy định về đất
ở, trong đó có vùng đất ở, vùng dự phòng đất ở.
Quy định về săn bắt thú rừng, nghiêm cấm người trong bản và người
ngoài bản săn bắt thú rừng theo quy định hiện hành của pháp luật nhà nước.
Tại Việt Nam, nhà nước luôn tôn trọng các quy định của cộng đồng trong
việc xử phạt những người vi phạm việc săn bắt thú rừng, đặc biệt là săn bắt
những con vật thiêng của dòng họ, của cộng đồng.
Quy định quyền hạn, trách nhiệm của bản, hội đồng già làng là người
quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến việc thực hiện quy chế cộng đồng
của những người trong và ngoài bản. Trưởng bản là người tư vấn pháp luật
nhà nước và là người thực thi các quyết định của hội đồng già làng trong
việc thực hiện quy chế của người dân. Tổ bảo vệ rừng của bản có trách
Noimaniphone Lorbliayao -8- Lớp Kinh tế phát triển 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp khoa kế hoạch và phát triển
nhiệm theo dõi, kiểm tra quá trình thực hiện quy chế của những người trong
và ngoài cộng đồng. Bắt giữ, thu tang vật của những người vi phạm đưa về
bản để hội đồng già làng giải quyết.
Quy định phương thức quản lý sử dụng trong từng loại đất rừng Ví dụ
với rừng cấm, Nhà nước quy định là bảo tồn gen các loại cây, còn người
rất mạnh trong cộng đồng và được cả cộng đồng biết và tuân thủ, nhưng
chắc chắn trong xã hội có tồn tại nhiều cộng đồng nhiều dân tộc khác nhau
cùng sinh sống. Trong mối quan hệ sinh thái nhân văn thì con người và tự
nhiên có quan hệ không biên giới, vì vậy nhu cầu sử dụng TNTN của cộng
đồng cũng sẽ không có giới hạn nếu các cộng đồng khác nhau không có
được một văn bản quy chế bảo vệ TNTN của mình thì khó có thể áp dụng
luật tục trong cộng đồng mình ra ngoài cộng đồng khác trong khi các luật
tục đó vẫn là luật tục bất thành văn. Vậy việc cụ thể các luật tục thành văn
bản là rất cần thiết và quan trọng trong việc áp dụng với các cộng đồng xung
quanh và các dân tộc khác cùng sinh sống trong một xã hội, để từ đó bảo vệ
được TNTN và đồng thời đảm bảo được sự đoàn kết giữa các cộng đồng với
nhau.
II. VAI TRÒ TÁC DỤNG CỦA SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN
TRONG XÂY DỰNG QUI CHẾ CỘNG ĐỒNG VỀ QUẢN LÝ TNTN
1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ SỰ THAM GIA TRONG XÂY DỰNG
QUY CHẾ CỘNG ĐỒNG.
a) Dựa vào các bộ luật của Nhà nước về việc tạo điều kiện và quyền
cho cộng đồng, các tổ chức cộng đồng, các hộ gia đình, cá nhân quản lý,
sử dụng và bảo vệ rừng.
Noimaniphone Lorbliayao -10- Lớp Kinh tế phát triển 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp khoa kế hoạch và phát triển
Nhà nước Lào đã có quyết định cụ thể về tăng cường sự tham gia của
cộng đồng trong quản lý các hoạt động phát triển tại cấp cở sở.
Căn cứ vào luật của Nhà nước Lào trong đó có các loại như: Luật đất
đai, Luật bảo vệ môi trường, Luật về rừng, Luật về nước và tài nguyên
nguồn nước. Ví dụ trong
*
Trong điều 63 - mục 6 - Luật Lâm nghiệp Lào ghi
rõ: Bản cần xây dựng quy chế riêng về quản lý, bảo vệ rừng, nguồn nước,
động vật dưới nước, thú rừng và môi trường thiên nhiên phù hợp với tình
dân tộc để cùng nhau thực hiện một vấn đề nào đó có liên quan đến lợi ích
cộng đồng họ)
Dựa vào vai trò của Trưởng bản, vai trò của Bí thư chi bộ bản, vai trò
của Trưởng vùng, vai trò của Trưởng họ, vai trò của Hội phụ nữ bản, thanh
niên bản và các thành viên trong tổ chức Mặt trân bản
Trên thực tế rất nhiều hoạt động thiếu sự tham gia của người dân, nếu
có chỉ là hình thức, vì vậy sự tham gia không có hiệu qủa
Sự bền vững của một cộng đồng gắn liền với sự bảo tồn, duy trì và phát
huy những giá trị văn hoá truyền thống của họ. Đất đai, rừng núi gắn liền
với những giá trị văn hoá truyền thống này. Dựa vào cấu trúc truyền thống
trong xây dựng quy chế cộng đồng thể hiện sự tôn trọng cộng đồng, tôn
trọng thiên nhiên và thể hiện sự bền vững của quy chế cộng đồng đó. Dựa
vào cộng đồng trước hết là học từ cộng đồng. Học văn hoá truyền thống của
họ, học kiến thức bản địa của họ, học cách ứng xử của họ với thiên nhiên,
với các mối quan hệ xã hội, quan hệ gia đình.
Nếu các quyết định không xuất phát từ cộng đồng thì sẽ không hợp lòng
dân không phù hợp quyền lợi cho người dân. Như vậy, việc thực hiện các
quy chế cũng như các quy định từ cấp trên đưa xuống người dân không hiểu
Noimaniphone Lorbliayao -12- Lớp Kinh tế phát triển 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp khoa kế hoạch và phát triển
được, do việc thực thi quy chế không đạt hiểu quả. Chính vì vậy các hoạt
động xậy dựng quy chế cộng đồng mới rất cần đến sự tham gia đầy đủ và
thực sự của người dân và cộng đồng.
2. TRÌNH TỰ XÂY DỰNG QUI CHẾ CỘNG ĐỒNG
2.1. Những nguyên tắc chỉ đạo
a) Quá trình xây dựng qui chế cộng đồng về bảo vệ TNTN phải
được sự tham gia đầy đủ của người dân, phải kết hợp hài hoà
những ưu tiên của Nhà nước với nhu cầu và mong muốn của
dân địa phương
Trong việc quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp phải được sự
hiện hành ở cấp Trung ương, tỉnh, huyện và xã.
Toàn bộ quá trình phải được thiết kế và thực hiện bình đẳng, khi thực
hiện phải chú ý đặc biệt tới những bộ phận dân cư cụ thể, những hộ gia đình
gặp nhiều khó khăn.
Phải đặc biệt chú ý quan tâm tới dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa, phụ
nữ, thông qua phổ cập, đào tạo hỗ trợ để họ có thể tham gia đầy đủ vào toàn
bộ quá trình xây dựng quy chế cũng như quy trình hướng dẫn thực hiện quy
chế, bởi vì đây là những đối tượng yếu thế dễ bị tổn thương. Tiếng nói của
họ thường dễ bị bỏ quan không được chú ý lắng nghe, hoặc do mặc cảm, tự
ti nên họ không tham gia chủ động tích cực. Vì thế nếu không đặc biệt quan
tâm đến họ thì sẽ rất dễ bỏ quan ý nguyện, nhu cầu của đối tượng này, khiến
họ trở nên càng yếu thế hơn nữa.
Noimaniphone Lorbliayao -14- Lớp Kinh tế phát triển 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp khoa kế hoạch và phát triển
d) Phát triển bền vững
Quá trình xây dựng quy chế phải đem lại sự bình đẳng và sự phát triển
bền vững cho các làng và xã. Không để lại ảnh hưởng xấu đến môi trường,
phải tăng cường được khả năng bảo vệ rừng hiện có và đất lâm nghiệp chưa
có rừng. Trong đó toàn bộ đất và rừng của làng bản và xã phải được xác
định mục đích sử dụng cụ thể trong quy chế bảo vệ rừng và quy hoạch sử
dụng đất một cách rõ ràng để nguồn TNTN thực sự được bảo vệ.
e) Quan tâm đến môi trường chung của cộng đồng
Phải gắn qui trình xây dựng quy chế bảo vệ TNTN với các hoạt đồng
GĐGR và gắn với các hoạt động phát triển của cộng đồng trong một tổng
thể. Qui trình này phải được phối hợp với những ngành có liên quan và được
xem xét tất cả các khả năng khai thác và tài nghuyên rừng và đất, đảm bảo
tăng khả năng bảo vệ rừng.
f) Quan hệ hợp tác
Quá trình xây dựng quy chế cộng đồng trong bảo vệ TNTN phải
nỗ lực phát triển quan hệ đối tác và hợp tác giữa dân địa phương với các cán
Nhà nước và nhân dân cùng làm.
Việc xây dựng quy chế cộng đồng bảo vệ TNTN cần phải xem xét cả
hai chiều. Đó là phối hợp giữa luật pháp cùng những nguyên tắc chỉ đạo và
sự hỗ trợ của những người có trách nhiệm từ trên xuống, hỗ trợ người dân
địa phương tham gia vào xây dựng quy chế, phổ cập, trình diễn và tham gia
vào giám sát ở các cấp cơ sở. Không nên thay thế phương pháp từ trên
Noimaniphone Lorbliayao -16- Lớp Kinh tế phát triển 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp khoa kế hoạch và phát triển
xuống bằng phương pháp từ dưới lên hoặc ngược lại, mà nên phối hợp đầy
đủ cả hai phương pháp này.
j) Nhu cầu phổ cập
Quy chế cộng đồng về quản lý TNTN cần hỗ trợ mạnh hoạt động phổ
cập để đảm bảo đây là một quá trình cung tham gia của người dân địa
phương không chỉ trong việc xây dựng quy chế mà còn có việc triển khai
thực hiện nữa.
2.2. Tiến trình xây dựng quy chế cộng đồng
Như đã nêu ở phần khái niệm của quy chế cộng đồng, đó là sự kết
hợp giữa luật tục truyền thống của cộng đồng và luật pháp chính thức của
Nhà nước, hoặc đó là các luật tục truyền thống đã được chính thức hoá
thành văn bản. Vì vậy, trước hết muốn xây dựng được quy chế cộng đồng
một cách có hiệu quả trước hết phải tuân thủ theo các trình tự xây dựng như
sau:
a) Cộng đồng bản chủ động xây dựng quy chế dựa trên các luật tục
truyền thống của chính họ.
Các già làng, những người có uy tín trong bản thảo luận và ghi lại các
luật tục, truyền thống của cộng đồng mình đã thực hiện từ trước đến nay
Tổ chức họp cộng đồng và lấy ý kiến của cả cộng đồng (có thể chia theo
nhóm, sau đó tổng hợp lại)
Trưởng bản hoặc thư ký tổng hợp và soạn thành 1 văn bản quy chế bảo
vệ tài nguyên thiên nhiên của bản (quy chế lân 1)
Noimaniphone Lorbliayao -18- Lớp Kinh tế phát triển 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp khoa kế hoạch và phát triển
đây phải thống nhất được bản quy chế bảo vệ, sử dụng TNTN của bản, sau
khi có ý kiến của cấp chính quyền và kiểm lâm (quy chế lần 4).
f) Trình và phê duyệt quy chế quản lý, bảo vệ và sử dụng TNTN của
bản từ các cấp có thẩm quyền.
g) Sau khi bản quy chế cấp trên phê duyệt, phải được photo ra nhiều
bản nhằm:
Bản quy chế cộng đồng sau khi đã được phê duyệt, không thể thiếu
được qui trình phổ biến tuyên truyền. Vì vậy, cần phải photo quy chế làm
nhiều bản để phổ biến, tuyên truyền một cách chính thức tại cộng đồng.
Ngoài ra phải được tuyên truyền tại các bản kề cận.
Trên đây là tiến trình xây dựng một bản quy chế cộng đồng về quản lý,
bảo vệ và sử dụng TNTN của một bản, dựa trên nền tảng các luật tục truyền
thống của cộng đồng, có lồng ghép hợp lý các luật chính thống của nhà
nước.
Những tiến trình này có thể sẽ có sự khác nhau tuỳ theo các quy định chỉ
thị của từng đất nước, nhưng điều quan trọng cần đảm bảo tôn trọng và phát
huy tối đa các luật tục, kinh nghiệm truyền thống của cộng đồng trong quản
lý, bảo vệ và sử dụng nguồn TNTN. Phát huy tối đa sự tham gia của mọi
thành phần có liên quan trong và ngoài cộng đồng, và của các cấp chính
quyền trực tiếp, cũng như các nhà chuyên môn. Cuối cùng, nó là phải đảm
bảo được tính khả thi của bản quy chế đã xây dựng.
Noimaniphone Lorbliayao -19- Lớp Kinh tế phát triển 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp khoa kế hoạch và phát triển
III. ĐÁNH GIÁ SỰ THAM CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG
QUI CHẾ BẢO VỆ TNTN
1. HÌNH THỨC THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG
Trong hoạt phát triển sự tham gia của cộng đồng bao gổm có 6 hình
thức tham gia như sau:
lãnh đạo, nhà nghiên cứu để làm cơ sở cho việc hình thành các quyết định
cho hoạt động phát triển.
Hình thức này mang tính chất bán chủ động, tức là vừa mang tính chủ
động và mang tính vừa bị động nó mang tính chủ động vì cộng đồng được
trả lời các câu hỏi và được cung cấp thông tin mà các nhà quản lý, nhà lãnh
đạo và cán bộ phát triển đặt ra. Mang tính bị động vì không nắm được ý
nghĩa hay tác dụng của những thông tin từ cộng đồng cung cấp, họ không
biết được là thông tin đó để làm gì.
Ngoài ra hình thức này còn mang tính hai chiều nhưng không đầy đủ
việc cung cấp thông tin, người dân không nắm vững được mục tiêu của việc
cung cấp thông tin. Cộng đồng không được phản ứng lại tác dụng của việc
cung cấp thông tin đó.
Vậy hình thức tham gia bằng cung cấp thông tin tạo ra một kênh
tiếng nói từ phía cộng đồng và tạo ra cơ hội cho sự ra đời của quyết định
một cách phù hợp và đúng với thực trạng, ý nguyện của cộng đồng.
Hình thức tham gia này mặc dù tạo được cơ hội cho cộng đồng được
cung cấp thông tin nhưng những thông tin ngược có được từ phía cộng đồng
có thể không chính xác, dẫn đến các quyết định đưa ra không đạt hiệu quả
như mong muốn.
Noimaniphone Lorbliayao -21- Lớp Kinh tế phát triển 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp khoa kế hoạch và phát triển
Tham gia bằng hình thức này muốn có được các thông tin thì phải
thông qua một số cách thu thập thông tin như: Bằng cách điều tra trực tiếp
có thể điều tra bằng các bảng hỏi hoặc thiết kế các bảng hỏi, nhưng yêu cầu
bảng hỏi phải đơn giản, cụ thể rõ ràng không gợi ý câu trả lời, và các bảng
hỏi thiết kế phải phù hợp với đối tưởng được hỏi. Đối tưởng điểu tra phải
mang tính khách quan và hệ thống, ngẫu nhiên có như vậy, thông tin mới có
thể mang tính chất hệ thống hơn. Trong đó việc xử lý thông tin phải căn cứ
vào lý thuyết số đông để kết luận về các tính chất cá biệt.
1.3. Tham gia bằng trao đổi ý kiến
1.5. Tham gia vị chức
Là hình thức tham gia của cộng đồng mà sự tham gia đó được gắn
liền với một trách nhiệm cụ thể trong quá trình thực hiện cũng như trong
giám sát việc thực hiện hoạt động phát triển và trong việc sử dụng các thành
quả của các hoạt động phát triển đó.
Hình thức này cho phép sử dụng triệt đề nguồn lực của cộng đồng.
Vậy để đảm bảo sự tham gia bằng hình thức vị chức này phải nâng cao năng
lực quản lý và trình độ cho cộng đồng.
1.6. Tham gia tương hỗ
Là hình thức tham gia của cộng đồng vào trong các hoạt động phát
triển trong hình thức tương hỗ đó là hình thức tham gia của cộng đồng bằng
cách tổng hợp các loại hình thức đã nêu ở phần trên.
Noimaniphone Lorbliayao -23- Lớp Kinh tế phát triển 44A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp khoa kế hoạch và phát triển
2. TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG SỰ THAM GIA CỦA CỘNG
ĐỒNG
2.1. Tính minh bạch
Tính minh bạch ở đây muốn nói đến tỷ lệ phần trăm triển khai hoạt
động phát triển, tỷ lệ phần trăm của người dân được tham gia và mức độ
tham gia trong việc giám sát, tổ chức thực hiện và xử lý thành quả của cộng
đồng trong các hoạt động phát triển.
Tính minh bạch chính là tính rõ ràng, chính xác, tính công khai. Các
hoạt động triển khai luôn luôn phải rõ ràng công khai đối với các hoạt động
có liên quan đến cộng đồng, các công việc phải được thông báo cụ thể, ví dụ
tổ chức họp dân bản về quy chế cộng đồng trong bảo vệ TNTN giấy mời
phải được gửi đến đầy đủ người dân và lãnh đao, mục tiêu ý nghĩa của việc
xây dựng quy chế, qui trình lấy ý kiến và tiếp theo ý kiến đều phải được
công bố rõ ràng công khai.
2.2. Tính công bằng
Đó là sự tham gia của mọi thành phần đầy đủ giữa lãnh đạo và người
tham gia hơn và sự hiểu biết của họ về luật tục cũng ít hơn so với những
người đàn ông và các già làng.
3.2. Các nhân tố khách quan
Các nhân tố luật pháp, chủ trương của Nhà nước tác động đến sự tham
gia, muốn phát huy được sự tham gia tại cấp cơ sở cấp địa phương thì phải
cần có luật pháp nhằm đảm bảo và khuyến khích người dân tham gia.
Noimaniphone Lorbliayao -25- Lớp Kinh tế phát triển 44A