BÀI TIỂU LUẬN KINH TẾ QUỐC TẾ - Đề bài: NGÀNH DỆT MAY- NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO - Pdf 12

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN BÀI TIỂU LUẬN KINH TẾ QUỐC TẾ Đề bài:
NGÀNH DỆT MAY- NHỮNG THUẬN LỢI
VÀ KHÓ KHĂN SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

Người thực hiện: _ Trần Trịnh Như Quỳnh- Lớp kế toán 21
_ Lê Thị Minh Nguyệt- Lớp kế toán 21
Giáo viên bộ môn:
MỤC LỤC
I.Mở đầu.
Người viết:-Trần Trịnh Như Quỳnh
- Lê Thị Minh Nguyệt

I.Mở đầu :

Ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của
WTO.Sự kiện này giúp cho nền kinh tế Việt Nam có cơ hội ngày càng phát
triển cao hơn.Đầu tiên khi gia nhập WTO, theo nguyên tắc tối huệ quốc,
Việt Nam sẽ được tiếp cận mức độ tự do hóa thương mại mà không cần phải
đàm phán hiệp định thương mại song phương với mỗi nước.Hàng hóa của
nước ta sẽ vì thế mà có cơ hội lớn hơn và bình đẳng hơn trong việc thâm
nhập và mở rộng thị trường quốc tế.Hơn nữa khi gia nhập WTO,nước ta sẽ
có được một môi trường pháp lí hoàn chỉnh hơn và minh bạch hơn, có sức
hấp dẫn hơn đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài.ngoài ra còn giúp cho ta
nâng cao tính hiệu quả và sức cạnh tranh cho nền kinh tế.

Bên cạnh vô số các lợi ích có được khi gia nhập WTO thì các doanh
nghiệp Việt Nam phải đối phó với không ít các thách thức.Đầu tiên đó là sức
ép của cạnh tranh.Gia nhập WTO đồng nghĩa với việc Việt Nam phải xóa
dần đi các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với các hàng nhập khẩu
nước ngoài, đồng thời xóa bỏ sự bảo hộ đối với các doanh nghiệp, điều đó
đẩy các doanh nghiệp Việt Nam vào một môi trường cạnh tranh hết sức khốc
liệt.Một hệ quả tất yếu khác khi hội nhập kinh tế quốc tế là chuyển dịch cơ
cấu và phân bổ lại nguồn lực.Dưới sức ép của cạnh tranh, một ngành hoạt
động không hiệu quả tất yếu phải biến mất và nhường chỗ cho một ngành

trong quá trình đàm phán để Việt Nam gia nhập WTO , những điều kiện liên
quan đến hàng dệt may được bàn đến rất kĩ.
Sau đây là cam kết của Việt Nam vời WTO liên quan đến ngành dệt
may:
 Các thành viên WTO sẽ không được áp dụng hạn ngạch dệt may đối
với Việt Nam.
 Các thành viên WTO không được áp dụng tự vệ đặc biệt đối với hàng
dệt may Việt Nam.(trừ trường hợp Việt Nam vi phạm qui định WTO về trợ
cấp bị cấm đối với hàng dệt may).
 Việt Nam phải dỡ bỏ hàng rào bảo hộ đối với ngành dệt may, đòng
thời giảm thuế cho các mặt hàng dệt may của các nước thành viên khác
trong WTO.

III.Lí thuyết nghiên cứu:

Trong phần những cam kết của Việt Nam với WTO có nhắc đến việc
các nước sẽ xóa bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may Việt Nam.Vì thế ở phần
này chúng ta sẽ tìm hiểu một chút về hạn ngạch.Thế nào là hạn ngạch(
quota)?Nó tác dụng như thế nào đến việc xuất nhập khẩu hàng hóa của các
nướcvà tại sao phải sử dụng hạn ngạch?
Như đã biết, mậu dịch tự do làm tăng cực đại sản xuất thế giới và thu
lợi cho tất cả các dân tộc. Trên lý thuyết, ta có thể nói mậu dịch là hình thức
trao đổi một cách hiệu quả nhất và hợp lý nhất. Nhưng xét về góc độ khác,
các nước luôn vì lợi ích trước mắt của quốc gia mình, bỏ qua lợi ích của toàn
thế giới. Vì thế, sử dụng rất nhiều phương pháp để hạn chế mậu dịch tự do.
Một trong số đó là thuế quan và hạn ngạch. Ta có hạn ngạch nhập khẩu và
xuất khẩu. Nhưng ở đây khi nói về han ngạch thì ta hay nói đến hạn ngạch
nhập khẩu
Hạn ngạch nhập khẩu về cơ bản là giới hạn số lượng hàng nhập khẩu
ở một mức cụ thể nào đó ít hơn số lượng hàng nhập khẩu khi tự do thương

EU 15 nước Tây Âu đã sử dụng hạn ngạch này để bảo hộ ngành dệt may
trong nước. Ngành dệt may là một ngành hết sức quan trọng vì nó quy tụ
một đội ngũ lao động cực kì lớn. Ngành này tạo ra vô số viêc làm, làm giảm
thất nghiệp trong nước. Vì vậy, bất cứ quốc gia nào giành sự quan tâm rất
lớn cho ngành dệt may. Cho nên họ đã sử dụng thỏa thuận hạn chế nhập
khẩu tự nguyện.
Như vậy, sự tồn tại của hạn ngạch đã làm mất đi tính chất của việc tự
do mậu dịch. Khi WTO (tiền thân của GATT) được thành lập (1994) đã đề
ra luật xóa bỏ hạn ngạch đối với tất cả các sản phẩm. Nhưng đặc biệt đối với
ngành dệt may thì WTO cho một thời gian quá độ là 10 năm (từ 01/01/2005
đến năm 2005), các nước đầu tiên sẽ từ từ giảm bớt việc sử dụng hạn ngach
và sau đó gỡ bỏ hoàn toàn hạn ngạch.

IV.Một vài nét cơ bản về tình hình phát triển ngành dệt may của Việt
Nam trước và sau khi gia nhập WTO:
Để thấy rõ sự tác động của hạn ngạch đối với hàng dệt may Việt Nam
, chúng ta sẽ nghiên cứu một số dữ liệu dưới đây:
Năm

Tổng kim ngạch
xuất khẩu (tỷ USD)
2003

3,6
2004

4,3
Theo biểu đồ trên,từ năm 2003 đến năm 2008, kim ngạch xuất khẩu
hàng dệt may ở Việt Nam nhìn chung là tăng (trong 6 năm tăng 5,99 tỷ
USD).
Năm 2004 tăng 19, 4% so với năm 2003
Năm 2005 tăng 12,8% so với năm 2004
Năm 2006 tăng 15,3% so với năm 2005
Năm 2007 tăng 31% so với năm 2006
Năm 2008 tăng 23% so với năm 2007

Để phân tích một cách chặt chẽ, từ những số liệu nhận xét ở trên, ta có
đồ thị tỉ lệ xuất khẩu của ngành dệt may

Tỉ lệ xuất khẩu ngành dệt may từ 2003-2008
0
5
10
15
20
25
30
35
2003-2004 2004-2005 2005-2006 2006-2007 2007-2008
Năm
%
Line 1

Mỹ EU Nhật Bản Các nước khác

Dựa vào biểu đồ tròn thể hiện thị phần xuất khẩu hàng dệt may sang
các nước của nước ta, thì ta nhận ra ngay, Mỹ, EU và Nhật Bản là ba nước
chiếm hơn 4/5 thị phần hàng dệt may xuất khẩu, trong đó số lượng hàng dệt
may xuất khẩu sang Mỹ là nhiều nhất (57%) chiếm hơn một nửa so với các
nước khác. Ngay cả khi vào năm 2005, thị phần xuất khẩu hàng dệt may
xuất khẩu sang Mỹ cũng chiếm gần một nửa (44%). Các nước khác chỉ
chiếm gần 1/5 thị phần. Điều này cho thấy thị trường Mỹ đóng vai trò vô
cùng quan trọng và thị trường các nước khác là cơ hội cho ngành dêt may
nước ta .Từ quá trình phân tích thị trường xuất khẩu hàng dệt may, ta sẽ có
những định hướng, chiến lược phát triển một cách hiệu quả của ngành dệt
may. Mang lại lợi tức kinh tế nhiều hơn cho nước nhà.
Qua phần đánh giá tình hình xuất khẩu dệt may của Việt Nam có thể
thấy rõ từ sau khi gia nhập WTO, kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may
ngày càng tăng.Tuy nhiên, nó vẫn còn thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu đáng lẽ
phải đạt được sau khi trở thành thành viên của WTO. Lí do của sự tăng
trưởng không mấy mạnh mẽ đó sẽ được làm rõ qua phần tiếp theo “những cơ
hội và thách thức của ngành dệt may sau khi gia nhập WTO”.

V.Những cơ hội và thách thức của ngành dệt may sau khi Việt Nam gia
nhập WTO:
1.Cơ hội:
-Cơ hội lớn nhất của dệt may Việt Nam là được bỏ quota.Như vậy
dệt may Việt Nam sẽ có cơ hội cạnh tranh công bằng với các nước khác.
-Tiếp theo, vào WTO, Việt Nam nhận được nhiều vốn đầu tư nước
ngoài.Thế nên ngành may Việt Nam sẽ có có cơ hội đầu tư đổi mới trang

-Mặc dù được dỡ bỏ quota nhưng các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
vẫn có khả năng bị đánh rớt ra khỏi các thị trường nước ngoài.Lí do hàng
Việt Nam chỉ chiếm có 3.2% thị phần ở Mỹ so với 25% của Trung Quốc,
12% của Canada và Mexico thực sự là một con số quá nhỏ.Ngoài ra, vào
WTO, thuế thông thừong của hàng Việt Nam là 15% trong khi các nhóm
nước như Canada hay Mexico chỉ chịu thuế có 0%.Bên cạnh đó, các nước
phát triển như Trung Quốc hay Pakistan, mặc dù chịu thuế cao hơn Việt
Nam, nhưng lại có lợi thế về nguyên phụ liệu trong khi Việt Nam thì phải
nhập tới 70% nguyên phụ liệu cần thiết cho dệt may
-Khó khăn thứ hai đó là các doanh nghiệp trong nước bị thiếu hụt
nhân công có tay nghề cao.Lí do là khi hội nhập kinh tế thì vốn đầu tư nước
ngoài ngày càng nhiều, việc các nhân công có tay nghề cao chuyển dần sang
các công ty có vốn đầu tư nước ngoài với mức lương cao hơn không phải là
việc hiếm.Bên cạnh đó các cuộc đình công trong ngành dệt may liên quan
đến vấn đề tiền công liên tục xảy ra tại các khu công nghiệp và các thành
phố lớn, gây đảo lộn kế hoạch sản xuất giao hàng của nhiều doanh nghiệp,
tạo ra hình ảnh xấu đối với các nhà đầu tư kinh doanh thế giới.
-Khó khăn lớn nhất hiện nay của các doanh nghiệp Việt Nam là
chính sách giám sát chống bán phá giá của Mỹ vẫn đang áp dụng đối với
hàng dệt may của Việt Nam,trong khi Mỹ là thị trường chiếm đến 55% tổng
kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam, đã làm cho nhiều khách hàng
lớn rút toàn bộ đơn đặt hàng ở Việt Nam để chuyển qua các nước khác.Sức
ép này còn khiến cho nhiều công ty trong và ngoài nước không dám đầu tư
vào ngành dệt may vì sợ rủi ro.
VI .Tổng kết vài định hướng phát triển cho ngành dệt may Việt Nam:

Ta có thể thấy rằng sau khi Việt Nam gia nhập WTO thì ngành dệt
may Việt Nam đã có được 3 cái lợi không thể nào chối bỏ được.Tuy nhiên
bên cạnh những lợi ích nhỏ bé đó là hàng loạt những khó khăn mà ngành
phải đương đầu và trước mắt, ngành dệt may nước ta có nguy cơ phải rời bỏ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status