DẠY HỌC - KHÁM PHÁ Từ khoá : - Khám phá
- Học theo nhọm
- Tri thức cá nhân
- Tri thức khoa học
- Lớp học linh hoạt
(Tóm tắt nội dung:
Trong dân gian có câu học thầy không tầy học bạn đã phản ánh một dạng hoạt
động cần thiết trong quá trình học tập. Học tập theo nhóm thông qua hình thức trao đổi,
tranh luận, bổ xung kiến thức … đã hình thành ở học sinh năng lực tự giải quyết vấn đề,
tính tự điều chỉnh các quan niệm cá nhân cho phù hợp với vốn tri thức xã hội và tri thức
khoa học.
Ðộng lỉûc của quá trình học tập là học sinh phải có lòng ham muốn học tập. Ðộng cơ
kích thích trực tiếp học sinh học tập là những động cơ gắn liền với bản thân quá trình hoạt động
nhận thức. Những động cơ đó là : bản thân có khát vọng tự tìm ra câu trả lời cho một vấn đề
nêu ra, cảm giác hài lòng khi giải quyết thành công vấn đề. Trong quá trình hoạt động tư duy
của học sinh nhằm nổ lực khám phá lại một vấn đề nào đó, dù đã đạt hiệu quả hay chưa trọn
vẹn, đều là những động cơ trí tuệ kích thích lòng ham muốn hiểu biết của học sinh.
( Yêu cầu đối với sinh viên:
- Hiểu bản chất dạy học khám phá và nhỉỵng tích cực của PPDH này.
- Xác định vai trò, hoạt động của giáo viên và học sinh trong dạy học khám phá.
-Vận dụng dảy hoüc khám phá trong một số bài giảng cụ thể trong chương trình sinh
học.
I BẢN CHẤT DẠY HỌC KHÁM PHÁ
1- Khái niệm dạy học khám phá
TOP
Dạy học khám phá là giáo viên tổ chức học sinh học theo nhóm nhằm phát huy năng lực
giải quyết vấn đề và tự học cho học sinh.
II CẤU TRÚC DẠY HỌC KHÁM PHÁ
1- Cấu trúc dạy học khám phá
TOPThực chất dạy học khám phá là một phương pháp hoạt động thống nhất giữa thầy với
trò đã giải quyết vấn đề học tập phát sinh trong nội dung của tiết học.
2 Mối liên hệ giữa dạy học khám phá và dạy học nêu vấn đề
TOP
2
- So sánh cấu trúc dạy học nêu vấn đề và dạy học khám phá
- Qua bảng so sánh trên, chúng ta rút ra một số nhận xét:
+ Ðặc trưng của dạy học khám phá là giải quyết các vấn đề học tập nhỏ và hoạt
động tích cực hợp tác theo nhóm, lớp để giải quyết vấn đề.
+ dạy học khám phá có nhiều khả năng vận dụng vào nội dung của các bài. Dạy học
nêu vấn đề chỉ áp dụng vào một số bài có nội dung là một vấn đề lớn, có mối liên quan logic
với nội dung kiến thức cũ.
+ Dạy học khám phá hình thành năng lực giải quyết vấn đề và tự học cho học sinh,
chưa hình thành hoàn chỉnh khả năng tư duy lôgic trong nghiên cứu khoa học như trong cấu
trúc dạy học nêu vấn đề.
+ Tổ chức dạy học khám phá thường xuyên trong quá trình dạy học là tiền đề thuận
lợi cho việc vận dụng dạy học nêu vấn đề.
Dạy học khám phá có thể thực hiện lồng ghép trong khâu giải quyết vấn đề của kiểu
dạy học nêu vấn đề.
III- PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC KHÁM PHÁ
1-Hoạt động của giáo viên
TOP
1.1.xác định mục đích
-Về nội dung :
quen tích cực hợp tác theo nhóm thì giáo viên tổ chức học sinh khám phá theo trình tự các
bước trong cấu trúc dạy học nêu vấn đề.
Ví dụ : Khi dạy qui luật di truyền liên kết gen cho học sinh lớp 9 thì chỉ nên tổ chức
học sinh khám phá vấn đề nhỏ của quy luật. Trên cơ sở đó, thì đối với học sinh lớp 12 chúng ta
có thể truyền thụ qui luật này theo cấu trúc nêu vấn đề.
1.3. vai trò cần thiết của phương tiện trực quan trong dạy học khám phá
- Chúng ta thử hình dung dạy học khám phá được vận dụng như sau: giáo viên đưa ra
vấn đề học tập dưới dạng câu hỏi và yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm, không có sự hỗ trợ
của phương tiện trực quan (PTTQ). Như vậy, nguồn kiến thức vẫn là lời nói, chúng ta đã
chuyển kiểu dạy học thầy nói- trò nghe thành trò nói trò nghe, nếu thế thì thầy nói cho trò nghe
dễ hiểu hơn.
Qua đó ta thấy PPTQ thật sự cần thiết trong dạy học khám phá, nó đóng vai trò là nguồn
kiến thức, là động cơ kích thích sự hợp tác tích cực trong nhóm.
- các phương tiện trực quan đó có thể là : hình ảnh, sơ đồ, biểu đồ, mô hình… đã có sự
gia công sư phạm của giáo viên và được thể hiện trong giấy, tranh, đèn chiếu, bảng dính hoặc là
các thí nghiệm trực quan trong giờ dạy.
PTTQ sẽ kích thích sự quan sát tìm tòi, tranh luận của học sinh Ðó là một yếu täú quan
trọng đảm bảo sự thành công của DH-KP.
1.4. Phân nhóm học sinh
Trong quá trình giáo viên chia học sinh thành từng nhóm, nên lưu ý một số điều kiện
sau đây:
- Sự phân nhóm đảm bảo cho các thành viên đối thoại và giáo viên di chuyển thuận lợi
để bao quát lớp, đối thoại với trò.
4
Ví dụ: bố trí chỗ ngồi theo hình chữ O, chữ U, hình vuông…
- Số lượng học sinh của mỗi nhóm là bao nhiêu tùy theo nội dung của vấn đề, đồng thời
đảm bảo sự hợp tác tích cực giữa các thành viên trong nhóm.
Nếu vấn đề chỉ cần quan sát và trao đổi thông tin trong nhóm thì có thể bố trí mỗi nhóm
gồm từ 6 đến 12 học sinh.
Nếu vấn đề yêu cầu ngoài sự trao đổi với nhau còn phải thực hiện một việc làm nào đó
thành viên trao đổi, tranh luận để tìm ra quan điểm chung trong tiến trình khám phá vấn đề, tuy
nhiên vẫn có thể tồn tại những ý kiến của cá nhân chưa được thống nhất.
- Sự hợp tác giữa các nhóm trong tập thể lớp:
+ Mỗi nhóm trình bày tóm tắt nội dung của vấn đề đã được phát hiện, trên cơ sở đó có sự tranh
luận giữa các nhóm về kết quả khám phá, dưới sự chỉ đạo của giáo viên.
Trong quá trình này, giáo viên đóng vai trò như một trọng tài, lựa chọn những phán
đoán, kết luận đúng của các nhóm để hình thành kiến thức mới.
5
+ Trên thực tế số lượng học sinh trong mỗi lớp đông và thời gian có hạn, do đó giáo
viên cần theo dõi sự làm việc của các nhóm để từ đó chỉ cần từ 1 đến 3 nhóm trình bày là đi
đến nội dung của vấn đề.
Giáo viên không cần thiết phân tích những kết luận sai, chưa chính xác mà chỉ nêu lên
kết luận đúng của từng nhóm, từ đó mỗi học sinh tự đánh giá, điều chỉnh nội dung của vấn đề.
- Tùy theo từng vấn đề học tập mà giáo viên có thể vận dụng một hoặc cả hai hình thức
hợp tác học tập nói trên:
+ Nếu vấn đề đuợc giải quyết thành công ở đa số các nhóm thì không cần hình thức hợp tác học
tập giữa các nhóm nữa.
+ Nếu là một vấn đề học tập khó, mang nội dung kiến thức mở rộng, hệ thống thì
giáo viên giao cho học sinh tham khảo SGK chuẩn bị trước; sau đó giáo viên tổ chức sự hợp tác
học tập theo lớp.
- Hoạt động hợp tác học tập tích cực của học sinh thể hiện qua các yếu tố:
+ Mỗi học sinh, mỗi nhóm tích cực phát biểu, tranh luận.
+ Ða số các nhóm đều phát hiện được nội dung bản chất của vấn đề, tuy nhiên có thể
sự khái quát còn chưa đầy đủ, thiếu chính xác ở một vài nhóm.
+ Giáo viên thu nhận được thông tin về quá trình tư duy của học sinh trong quá trình
giải quyết vấn đề Ðó chính là mối liên hệ nghịch cần thiết để GV tự điều chỉnh, tổ chức dạy học
khám phá tốt hơn.
IV. VẬN DỤNG DẠY HỌC KHÁM PHÁ
Bài 15: CƠ SỞ VẬT CHẤT VÀ CƠ CHẾ DI TRUYỀN Ở CẤP ÐỘ PHÂN TỬ
Giáo viên thao tác hình 1 và hình 2 trên bảng dính
Hình 1: Cơ chế tự nhân đôi của ADN Hình2 : Cơ chế tự nhân đôi của ADN
3. Tổ chức học sinh: Mỗi học sinh quan sát, sau đó trao đổi trong nhóm từ 2 -3 học sinh
cùng bàn, thời gian 2 phút, yêu cầu 2 nhóm nêu kết quả thảo luận.
4. Kết quả khám phá:
+Hình 1: Mô tả hiện tượng đúng.
+Hình 2: Mô tả hiện tượng sai ở điểm sau:
Có cặp bazơnitric bắt cặp không theo quy tắc bổ sung .
Hai chiều polynucleotid mới tổng hợp cùng chiều nhau và cùng chiều mở vòng xoắn
1. Mục đích: Phát triển tư duy phân tích, so sánh, khái quát hóa. Khả năng học sinh
độc lập làm việc với sách giáo khoa(SGK).
2. Hoạt động giáo viên:Hướng dẫn học sinh (HS) học trong SGK 3. Tổ chức học sinh: Mỗi học sinh làm việc với SGK tại nhà để hoàn thành nội dung
trong bảng so sánh, giáo viên sử dụng 5 phút của tiết học sau tổ chức cho HS thảo luận nhóm để
phát hiện các nội dung chưa chính xác, từ đó mỗi HS tự điều chỉnh nội dung trong bảng.
7
4. Kết quả khám phá:BÀI 22: LAI HAI VÀ NHIỀU CẶP TÍNH TRẠNG
1. Mục Ðích : Phát triển khả năng quan sát, phân tích, học sinh tự khám phá ra qui luật
tổ hợp tự do của hai cặp gen trên hai cặp nhiễm sắc thể. Giáo viên thu được thông tin về hiệu
quả hoạt động của học sinh theo nhóm.
2.Hoạt động giáo viên :
Qui ước gen và tính trạng tương ứng ,gắn lên bảng dính kiểu gen của P.
Gen A qui định hạt vàng .
Gen a qui định hạt xanh .
lai một tính? Từ đó rút ra nhận xét khái quát về quy tắc tính kết quả di truyền ở F2 khi lai n cặp
tính trạng?
3. Tổ chức học sinh: Giáo viên ghi nội dung của bảng lên trên bảng (hoặc chuẩn bị bảng
ra giấy để phát cho học sinh), yêu cầu mỗi nhóm gồm 2 học sinh trao đổi trong 2 phút để điền
10
các giá trị thích hợp trong ngoặc đơn. Sau đó , giáo viên yêu cầu 2 hoặc 3 nhóm thông báo kết
qủa.
4.Kết quả khám phá:
Phát biểu quy tắc tính kết quả chung của n cặp gen, n cặp tính trạng là quy tắc nhân (hay là tổ
hợp tự do ngẫu nhiên) giữa kết quả từng cặp gen, từng cặp tính trạng .
TỔ CHỨC DẠY HỌC KHÁM PHÁ CHO HỌC SINH VẬN DỤNG CÁC VẤN ÐỀ
HỌC TẬP
1.Mục đích: Rèn luyện các thao tác tư duy so sánh và hệ thống hóa các vấn đề học tập, kỹ
năng làm việc với sách giáo khoa trong quá trình học tập.
2. Hoạt động giáo viên: Xây dựng bảng hệ thống nội dung các quy luật di truyền và hướng
dẫn hoạt động của học sinh.
3.Tổ chức học sinh: Mỗi nhóm gồm 2 học sinh thảo luận, công việc là cho ví dụ và viết
3 sơ đồ lai trong 3 quy luật. Từ đó rút ra nhận xét kết quả điền vào bảng hệ thống. Thời gian
thảo luận là 3 phút kiểm tra của bài giảng tiết sau ( giáo viên yêu cầu mỗi học sinh có chuẩn bị
ở nhà trước khi tổ chức thảo luận ).
Giáo viên có thể kiểm tra kết quả thảo luận ở một số nhóm.
4.Kết quả khám phá:
11
DẠY HỌC KHÁM PHÁ VỀ GEN ÐA HIỆU
1.Mục đích: Rèn luyện khả năng tư duy phân tích,so sánh và khái quát hóa các dấu
hiệu bản chất của các hiện tượng di truyền khác nhau,kỹ năng vận dụng các vấn đề đã học để
Hợp tử XX phát triển thành con gái là do nhận X từ bố
Hợp tử XY phát triển thành con trai là do nhận Y từ bố.
Kết luận: sinh con trai hay con gái là do bố quyết định.
+ Vấn đề 2: Cặp vợ chồng đó sinh đứa con thứ năm hy vọng là con trai cũng chỉ là
50%. Bởi vì trong mỗi lần sinh thì khả năng sinh con trai và con gái bằng nhau là 50%, kết quả
di truyền giới tính trong mỗi lần sinh hoàn toàn độc lập với nhau, nên lần sinh con thứ năm
không chịu ảnh hưởng của 4 lần sinh trước.
13
+ Vấn đề 3: Người bệnh có cấu tạo cơ quan sinh dục không bình thường,rối loạn
các quá trình biểu hiện đặc tính, tính trạng giới tính …
-Chẩn đoán người bệnh có cấu tạo cơ quan sinh dục, các đặc tính sinh lý… nghiêng về
tính trạng nào nhiều hơn?
-Pháùu thuật để tạo ra cơ quan sinh dục của giới tính cần có ở người bệnh.
- Sử dụng các hoocmôn sinh dục thích hợp để duy trì các đặc tính và tính trạng giới tính
bình thường ở người bệnh.
Bài 27: DI TRUYỀN LIÊN KẾT VỚI GIỚI TÍNH
CÁC GEN TRÊN NHIỄM SẮC THỂ Y
1.Mục đích: Phát triển kỹ năng tư duy phân tích, tổng hợp các dấu hiệu bản chất của
hiện tượng di truyền, khái quát hóa các dấu hiệu bản chất thành nội dung định luật.
2.Hoạt động Giáo Viên: Mô tả sự di truyền về tật dính ngón tay 2 và 3 qua một số thế
hệ
Câu hỏi: Gen qui định tật dính ngón tay nằm trên NST nào? Khái quát về qui luật di
truyền và biểu hiện của tính trạng như thế nào?
Nếu học sinh chưa có thói quen hoạt động độc lập và học hỏi trong nhóm thì giáo
viên có thể đưa thêm câu hỏi dẫn dắt: Nhận xét tật dính ngón tay di truyền liên kết với giới
tính nào? NST nào chỉ có ở cơ thể nam mà không có ở cơ thể nữ?
3. Tổ chức học sinh: Mỗi nhóm gồm 2 học sinh; Thời gian thảo luận 3 phút; GV täø
+ Vấn đề 1: Xác định tỉ lệ mỗi loại kiểu gen sau mỗi thế hệ tự phối.
+ Vấn đề 2 : Nêu công thức tổng quát để tính tỉ lệ mỗi loại kiểu gen khi quần thể tự
phối qua (n) thế hệ.
3. Tổ chức học sinh: Mỗi nhóm gồm 2 học sinh; Giáo viên phát cho mỗi nhóm 1 bảng
tỉ lệ kiểu gen đã chuẩn bị; Thời gian thảo luận 5 phút; Giáo viên tổ chức một số nhóm thông
báo kết quả và các nhóm khác tự đánh giá; Giáo viên có thể thu lại bảng này để đánh giá hiệu
quả thảo luận của học sinh.
4.Kết quả khám phá:
16