Đa dạng hoá việc cung ứng dịch vụ ngoài tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Hà Thành trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 12

LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp, em đã được sự chỉ bảo và
giúp đỡ nhiệt tình cảu thầy giáo hướng đan, các thày cô giáo trong Khoa Kinh
tế và Kinh doanh Quốc tế, các cán bộ công nhân viên của Chi nhánh Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Thành. Vì vậy, em muốn gửi
lời cảm ơn tới tất cả mọi người đã giúp đỡ em hoàn thành tốt đợt thức tập này.
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thường Lạng
đã hướng dẫn và giúp đỡ em rất nhiệt tình trong suốt quá trình làm luận văn
tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và Kinh
doanh đã truyền cho em những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt
thời gian em học tập tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Em xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị tại Chi nhánh Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Thành đã giúp đỡ và tạo điều
kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp và hoàn thành
luận văn của mình..
Cuối cùng, em bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới bạn bè, những người
đã và tạo mọi điều kiện thuận lợi em trong suốt quá trình học tập.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan luận văn tốt nghiệp của em được viết dựa trên những
tài liệu có thực do cán bộ công nhân viên Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Hà Thành cung cấp, và do em thu thập từ sách, báo,
các trang web của các tổ chức. Bài luận văn không sao chép từ bất kỳ luận
văn tốt nghiệp hay đề án nào.
Sinh viên
Nguyễn thanh Kiều Linh
MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
ASEAN

WTO World trade organization Tổ chức thương mại thế giới
Danh mục các bảng
Bảng Trang
Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn tại chi nhánh Hà Thành
Bảng 2.2 Tình hình sử dụng vốn của chi nhánh Hà Thành năm 2007
Bảng 2.3 Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu nguồn vốn huy động của
chi nhánh Hà Thành
Bảng 2.4 Doanh số vầ thu phí dịch vụ thanh toán trong nước
Bảng 2.5 Doanh số TTQT và thu phí dịch vụ TTQT của chi nhánh
Hà Thành
Bảng 2.6 Doanh số kinh doanh ngoại tệ của chi nhánh Hà Thành
Bảng 2.7 Tình hình phát hành thẻ ATM của chi nhánh Hà Thành
Bảng 3.1 Cam kết về DVNH và các dịch vụ tài chính khác trong
WTO
Danh mục các biểu đồ
Biểu đồ Trang
Biểu đồ
2.1
Tốc độ tăng trưởng vốn huy độngtại chi nhánh Hà Thành
Biểu đôd
2.2
Tốc độ tăng trưởng doanh số thanh toán trong nướctại chi
nhánh Hà Thành
Biểu đồ
2.3
Tốc độ tăng trưởng doanh số thanh toan quốc tế tại chi
nhánh Hà Thành
Biểu đồ
2.4
Tăng trưởng kinh doanh ngoại tệ của chi nhánh Hà

ngoài tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Hà Thành trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế” được lựa chọn để nghiên cứu.
2. Mục địch nghiên cứu
- Nghiên cứu về mặt lý thuyết việc cung ứng dịch vụ ngoài tín dụng của
NHTM
- Thực trạng đa dạng hoá việc cung ứng dich vụ ngoài tín dụng tại chi
nhánh NHNo&PTNT Hà Thành.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đa dạng hoá việc cung ứng dịch vụ ngoài
tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Hà Thành.
3. Đối tượng nghiên cứu
Việc cung ứng các dịch vụ ngoài tín dụng của chi nhánh NHNo&PTNT Hà
Thành.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Nghiên cứu thực trạng đa dạng hoá việc cung ứng các dịch
vụ ngoài tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Hà Thành.
- Thời gian: Từ năm 2004-2007.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm cơ
sở phương pháp luận. Bằng cách tiếp cận từ tổng quát đến cụ thể, áp dụng các
phương pháp thống kê, lựa chọn, đối chiếu, tổng hợp, phân tích để làm rõ nội
dung cần nghiên cứu mà đề tài đã đặt ra.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, phụ lục, các bảng biểu
đề tài được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về dịch vụ ngoài tín dụng của NHTM và kinh
nghiệm Quốc tế về đa dạng hoá dịch vụ ngoài tín dụng của các nước
Chương 2: Thực trạng cung ứng dịch vụ ngoài tín dụng tại chi nhánh
NHNo&PTNT Hà Thành
Chương 3: Giải pháp đa dạng hoá việc cung ứng các dịch vụ ngoài tín
dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Hà Thành trong điều kiện hội nhập kinh tế

thế giới. Tuy nhiên, trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập như hiện nay thì nhu
cầu phát triển quan hệ kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu, rộng hơn.
Để đáp ứng được điều đó thì nền kinh tế của Việt Nam cần mở rộng hơn nữa,
tạo điều kiện cho các ngành nghề, dịch vụ phát triển, trong đó phải kể đến
DVNH. Vậy giữa phát triển quan hệ kinh tế quốc tế và đa dạng hoá việc cung
ứng các DVNH có mối quan hệ như thế nào? Đây chính là mối quan hệ tương
hỗ, giúp đỡ cùng nhau phát triến.
* Quan hệ kinh tế quốc tế phát triển sẽ thúc đẩy việc cung ứng các DVNH
phát triển theo
Quan hệ kinh tế quốc tế là tổng thể các quan hệ về vật chất và tài chính,
các quan hệ không những diễn ra trong lĩnh vực kinh tế mà trong cả lĩnh vực
khoa học-công nghệ có liên quan tất cả các giai đoạn của quá trình tái sản xuất,
chúng diễn ra giữa các quốc gia với nhau, giữa các quốc gia với các tổ chức kinh
tế quốc tế.
Trước khi mở cửa nền kinh tế, quan hệ kinh tế quốc tế của Việt Nam chỉ
xoay quanh các nước Xã hội chủ nghĩa cũ: Liên Xô, Đông Âu. Và nội dung của
các quan hệ này chỉ là quan hệ một chiều: Việt Nam nhận viện trợ từ các nước
Xã hội chủ nghĩa cũ.
Sau khi mở cửa nền kinh tế, quan hệ kinh tế quốc tế của Việt Nam được
mở rộng rất nhiều và đa dạng hơn. Bước tiến đầu tiên của Việt Nam trong tiến
trình mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế là chính thức gia nhập ASEAN (1995),
đồng thời gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Đặc biệt là sau khi
Việt Nam kí hiệp định thương mại Việt-Mỹ (2000) và gia nhập tổ chức thương
mại thế giới WTO (2007).
Các hoạt động chủ yếu trong quan hệ kinh tế quốc tế của Việt Nam
- Thương mại quốc tế
Đây là hoạt động phát triển nhanh nhất. Hiện nay Việt Nam có quan hệ
buôn bán với hơn 200 Quốc gia trên thế giới, trong đó Việt Nam có vị thế xuất
siêu đối với 159 nước và nhập siêu với 47 nước. Một khi mối quan hệ buôn bán
này càng phát triển thì các nhu cầu kèm theo đó cũng tăng lên.

kiếm sự tư vấn. Lúc này các ngân hàng sẽ đưa ra các dịch vụ tư vấn đầu tư như:
Lĩnh vực đầu tư, địa điểm đầu tư . . . và đưa thêm vào các dịch vụ dành riêng
cho các nhà đầu tư nước ngoài.
- Chuyển giao công nghệ.
Hiện nay, Việt Nam có quan hệ hợp tác với các nước phát triển như: Đức,
Mỹ, Nhật Bản . . . Đây là những nước có công nghệ nguồn nên khi thực hiện
chuyển giao công nghệ với các nước này Việt Nam sẽ có được những công nghệ
hiện đại như: Công nghệ tự động hoá, các công nghệ về máy tính . . . Các công
nghệ này sẽ là nền tảng để phát triển các DVNH điện tử như: E- banking,
telephone banking . . .
Như vậy, sự phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế đã kéo theo sự phát
triển của DVNH, tạo điều kiện cho nhiều dịch vụ hiện đại ra đời.
* Sự đa dạng hoá trong việc cung ứng các DVNH sẽ làm cho quan hệ
kinh tế quốc tế diễn ra thuận lợi hơn
Trước khi đổi mới, DVNH còn rất hạn chế. Dịch vụ thanh toán quốc tế thì
hầu như không có, nếu có thì chỉ có ngân hàng ngoại thương được phép cung
cấp và cũng chỉ đặt quan hệ với một vài ngân hàng ở nước ngoài.
Sau khi đổi mới, cùng với quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất
nước, các DVNH phát triển ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Sự ra đời của
các dịch vụ đã tạo nhiều thuận lợi cho khách hàng. Chẳng hạn, dịch vụ chuyển
tiền quốc tế Westerm Union đã làm cho việc chuyển tiền từ Việt Nam đi các
nước khác và ngược lại trở nên dễ dàng hơn, tạo điều kiện cho dòng vốn luân
chuyển nhanh hơn. Hay dịch vụ thanh toán quốc tế với các phương thức: L/C,
nhờ thu, mở tài khoản . . . đã giúp đỡ các doanh nghiệp xuất-nhập khẩu thực
hiện hợp đồng xuất-nhập khẩu nhanh hơn. Và sự ra đời của các dịch vụ tư vấn,
bảo lãnh . . . cũng đã giúp đỡ cho các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp
nước ngoài trong hoạt động thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế.
Tóm lại, giữa phát triển quan hệ kinh tế quốc tế với đa dạng hoá việc cung
ứng các DVNH luôn tồn tại mối quan hệ tương hỗ, giúp đỡ nhau để cùng phát
triển. Trong thời gian tới, khi quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng được mở rộng

có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của
Nhà nước”, trong đó: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động về kinh doanh tiền tệ
và các DVNH như:Thường xuyên nhận tiền gửi các loại và sử dụng số tiền đó để
cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán cho khách hàng”.
1.2.2 Các nhóm dịch vụ cơ bản của ngân hàng thương mại
Các dịch vụ của NHTM được chia làm làm hai nhóm: Nhóm dịch vụ tín
dụng và nhóm dịch vụ ngoài tín dụng.
1.2.2.1 Nhóm dịch vụ tín dụng
Tín dụng (hay còn gọi là cho vay) là hoạt động mà ngân hàng giao cho
khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định, trong một thời
gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi.
Phần lớn doanh thu của ngân hàng là từ hoạt động tín dụng. Các loại hình
tín dụng phổ biến:
* Căn cứ vào thời hạn cho vay:
- Tín dụng ngắn hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn dưới một năm. Tín
dụng ngắn hạn thường được dùng để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và để bổ
xung sự thiếu hụt tạm thời trong hoạt động kinh doanh.
- Tín dụng trung-dài hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn 1- 5 năm gọi
là tín dụng trung hạn và từ 5 năm trở lên gọi là tín dụng dài hạn. Tín dụng trung-
dài hạn thường được sử dụng để mua đất, thuê đất, xây dựng nhà xưởng, mua
sắm thiết bị máy móc, xây dựng cơ sở hạ tầng, mua phương tiện vận chuyển. . .
* Căn cứ vào mục đích tín dụng:
- Tín dụng nông nghiệp: Là các khoản tín dụng cấp cho các hoạt động
nông nghiệp, nhằm hỗ trợ cho các hoạt động nông nghiệp như: Trồng trọt, chăn
nuôi . . .
- Tín dụng công - thương nghiệp: Là các khoản tín dụng cấp cho các
doanh nghiệp để trang trải chi phí thu mua nguyên vật liệu, trả thuế, trả lương.
- Tín dụng cá nhân: Là khoản tín dụng cấp cho cá các nhân để mua sắm
hàng hoá - dịch vụ tiêu dùng: Ôtô, nhà cửa . . .
- Tín dụng cho các tổ chức tài chính: Là khoản tín dụng cấp cho các công

cho cả hai bên: Khách hàng có thể sử dụng tài sản ngay mà chỉ phải trả tiền dần
với giá hạ, ngân hàng không bị đọng vốn và có thêm thu nhập.
- Bảo lãnh.
Bảo lãnh là sự đảm bảo của người có uy tín (bên bảo lãnh) với đối tác của
người có quan hệ kinh tế (bên được bảo lãnh) là bên bảo lãnh sẽ đứng ra thực
hiện nghĩa vụ tài chính cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo
lãnh không thực hiện được nghĩa vụ của mình đã thoả thuận trong hợp đồng.
Thông thường người đứng ra bảo lãnh là NHTM và bảo lãnh cũng được
xem là một hình thức tín dụng. Tuy nhiên, trong bảo lãnh ngân hàng không ứng
tiền ra ngay từ đầu mà chỉ ứng tiền ra khi bên được bảo lãnh không thực hiện
được nghĩa vụ của mình nên bảo lãnh được xem như một khoản tín dụng dự
phòng. Tuỳ thuộc vào nhu cầu của khách hàng mà ngân hàng sẽ cung cấp các
dịch vụ bảo lãnh như: Bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh
thanh toán . . .
1.2.2.2 Nhóm dịch vụ ngoài tín dụng
Trong nhóm này, DVNH được chia thành ba nhóm lớn:
* Dịch vụ huy động vốn
Để có thể tồn tại và phát triển thì các NHTM cần phải có một nguồn vốn
lớn và vững mạnh. Hầu hết nguồn vốn của NHTM được thu hút chủ yếu qua hai
kênh sau: Nhận tiền gửi và vay vốn trên thị trường.
- Nhận tiền gửi
Các ngân hàng nhận tiền gửi dưới các hình thức cơ bản như: Tiền gửi
không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm.
+ Tiền gửi không kì hạn: Là loại nguồn vốn hình thành khi khách hàng
(các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, cá nhân) gửi tiền vào ngân hàng với mục
địch chính là để thực hiện các khoản chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh
và tiêu dùng. Với tiền gửi này khách hàng có thể yêu cầu ngân hàng phát hành
séc để thanh toán. Đặc điểm của tiền gửi không kì hạn là khách hàng có thể rút
tiền bất kì lúc nào trong phạm vi số dư tài khoản.Và với mục đích là để thanh
toán chứ không phải để hưởng lãi và tích luỹ lợi ích nên tiền gửi không kì hạn

chính sách tiền tệ và giúp đỡ các NHTM khi gặp khó khăn. Trong khi đó, các tổ
chức tín dụng cũng là những doanh nghiệp kinh doanh. Tiêu chí hoạt động của
họ là lợi nhuận, nên lãi suất cho vay cao hơn là một điều tất yếu để họ có thể
duy trì hoạt động và thu được lợi nhuận. Do đó, chỉ khi các ngân hàng không thể
vay được vốn từ các NHNN thì mới tính đến phương án vay vốn của các tổ chức
tín dụng.
Bên cạnh đó, các ngân hàng có thể phát hành các giấy tờ có giá để huy
động vốn. Các giấy tờ có giá do ngân hàng phát hành bao gồm: Kì phiếu, trái
phiếu, chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá. Lãi suất của các giấy tờ có giá này phụ
thuộc vào tính cấp thiết của việc huy động vốn, nhưng nhìn chung thường cao
hơn lãi suất tiền gửi có kì hạn.
* Dịch vụ đầu tư
Ngân hàng thường tham gia đầu tư vào: Bất động sản, chứng khoán, các
giấy tờ có giá khác do Chính Phủ hoặc doanh nghiệp phát hành. Các ngân hàng
chủ yếu nắm giữ các loại chứng khoán nợ, có độ rủi ro thấp nhưng lại có tính
thanh khoản cao. Trước đây, các ngân hàng thường cấm chi nhánh cấp dưới trực
thuộc không được đầu tư ồ ạt vào những cổ phiếu có lợi nhuận nhiều nhưng độ
rủi ro cao. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây các ngân hàng đã tham gia vào thị
trường chứng khoán nhiều hơn và xem đây như một cách để phân tán rủi ro
trong kinh doanh.
* Cung cấp dịch vụ thanh toán và các DVNH khác
Từ khi mới ra đời, các ngân hàng đã tiến hành cung cấp các dịch vụ thanh
toán. Trong thanh toán dùng tiền mặt và không dùng tiền mặt thì ngân hàng là
chủ thể chính. Ngân hàng thực hiện những dịch vụ này với mục đích là để thu
phí. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động chúng lại gắn liền với nhiều hoạt động
khác như: Huy động tiền gửi, cho vay . . . nên chúng cũng góp phần vào việc
phát triển, mở rộng ngân hàng.
Ngoài cung cấp các dịch vụ thanh toán thì các ngân hàng cũng cung cấp
các dịch vụ khác như: Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ uỷ thác . . . Tuỳ
thuộc vào quy mô, sức mạnh của mỗi ngân hàng và nhu cầu của khách hàng mà

định cho vay.
* Mở và quản lý các tài khoản vãng lai
Tài khoản vãng lai là tài khoản phát sinh hành ngày các khoản tiền gửi,
rút, chuyển tiền của khách hàng. Trong tài khoản vãng lai, khách hành có thể có
số dư, có thể thiếu (dư nợ) nhưng không được phép vượt quá mức dư nợ mà
ngân hàng cho phép. Tài khoản vãng lai vừa là một thủ tục gửi tiền, vừa vay
tiền. Do đó, khách hàng có thể vay tiền với số dư nợ cao nhất, còn ngân hàng có
thể thu hút được nhiều tiền gửi với chi phí thấp. Điều này có lợi cho cả hai bên:
Khách hàng và ngân hàng.
* Mở và quản lý tài khoản tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn kinh doanh quan trọng của ngân hàng.
Tuy số tiền gửi tiết kiệm của của các cá nhân không nhiều nhưng số người gửi
đông nên hàng năm các ngân hàng cũng đã huy động được nguồn tiền gửi tiết
kiệm đáng kể. Số lượng tiền gửi tiết kiệm nhiều hay ít phụ thuộc chủ yếu vào lãi
suất huy động của ngân hàng.
* Dịch vụ ngân quỹ
Đây là dịch vụ phản ánh các khoản vốn của ngân hàng sử dụng vào mục
đích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán của ngân hàng theo quy định
của NHNN và quy định của pháp luật.
* Thanh toán, chuyển tiền trong nước
Để phục vụ cho nhu cầu của doanh nghiệp và cá nhân trong nước, các
ngân hàng đã đưa ra dịch vụ thanh toán, chuyển tiền trong phạm vi biên giới của
một Quốc gia. Để thực hiện yêu cầu thanh toán, chuyển tiền của khách hàng,
ngân hàng có thể sử dụng tiền mặt hoặc các công cụ không dùng tiền mặt khác
như: Uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán . . .
Dịch vụ thanh toán, chuyển tiền trong nước là một bộ phận quan trọng
trong danh mục DVNH. Đây là dịch vụ mà theo đó ngân hàng thực hiện lệnh
thanh toán, chuyển tiền cho khách hàng từ ngân hàng đó đi đến nơi khác cho
một người nhất định, hay theo lệnh của khách hàng, ngân hàng trích một khoản
tiền trong tài khoản của khách hàng và trả nó cho một người khác để thu một

dùng thẻ này để thanh toán các khoản chi của mình như: Mua sắm dịch vụ-hàng
hóa . . . Khi đó máy tính điện tử tự động sẽ ghi nợ vào tài khoản của khách hàng
và ghi có vào tài khoản của người bán hàng. Để có thể sử dụng thẻ thanh toán,
khách hàng phải luôn có số dư trong tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản vãng lai.
* Dịch vụ thẻ tín dụng (Credit Card)
Đây cũng là một loại thẻ do ngân hàng phát hành. Khác với thẻ thanh toán
là thẻ tín dụng không yêu cầu phải có số dư trong tài khoản tiền gửi hoặc tài
khoản vãng lai mà khách hàng dùng thẻ sẽ được cấp một hạn mức tín dụng theo
tài khoản thẻ tín dụng của họ. Các khoản nợ trên tài khoản thẻ tín dụng sẽ bị tính
lãi sau 10 đến 60 ngày để thanh toán số tiền đã dùng. Thẻ tín dụng dùng để mua
hàng hoá và dịch vụ trả tiền sau, cũng có thẻ dùng để rút tiền tại các ngân hàng
khác nếu ngân hàng đó chấp nhận.
* Máy rút tiền tự động ATM
Từ khi mới ra đời máy rút tiền tự động chỉ có một chức năng là rút tiền,
nhưng đến nay ngoài chức năng rút tiền còn có các chức năng khác như: Gửi
tiền, thanh toán … . Khách hàng có thể dùng thẻ ATM do ngân hàng phát hành
để rút tiền mặt ở các máy trên, hoặc nộp tiền vào tài khoản, hoặc thực hiện các
lệnh chuyển khoản với điều kiện món tiền chuyển khoản phải nhỏ hơn hoặc
bằng số dư trên tài khoản và phải biết chi tiết về ngân hàng của người được
thanh toán. Các máy ATM thường được đặt ở các khu đông dân cư, các khu
thương mại nhằm tạo thuận lợi cho khách hàng.
* Dịch vụ ngân hàng điện thoại (telephone Banking)
Đây là một dịch vụ rất tiện ích bởi chỉ cần ở nhà khách hàng cũng có thể
thực hiện được các nhu cầu của mình như: Cập nhật số dư, liệt kê các món vay
sắp đến hạn phải trả… . Để có thể sử dụng dịch vụ này khách hàng phải sử dụng
số mã cá nhân do NH cấp. Còn ngân hàng, để đảm bảo an toàn, chính xác trong
giao dịch phải tiến hành cài đặt các thiết bị nhận dạng tiếng nói, thiết bị mã
hoá…
* Dịch vụ ngân hàng qua mạng Internet( E-banking)
Đối với dịch vụ này thì khách hàng phải có một máy tính kết nối mạng

khi tỷ giá có sự biến động cũng ảnh hưởng đến xuất-nhập khẩu. Ví dụ khi tỷ giá
của VND/USD tăng nghĩa là đồng USD tăng giá, đồng VND giảm giá, điều này
sẽ thúc đẩy xuất khẩu. Để phục vụ cho hoạt động xuất khẩu của khách hàng thì
ngân hàng đưa ra các dịch vụ: Thanh toán, chuyển tiền, kinh doanh ngoại hối.
* Xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập và cạnh tranh
Quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra hết sức mạnh mẽ trên toàn thế giới và
trong nhiều lĩnh vực. Nổi bật lên là toàn cầu hoá ở lĩnh vực tài chính. Quá trình
toàn cầu hoá đã làm cho cạnh tranh trong nền kinh tế diễn ra khốc liệt hơn. Để
có thể tồn tại được các doanh nghiệp phải tự đổi mới, hoàn thiện mình. Bản thân
các ngân hàng cũng là một doanh nghiệp, nên để cạnh tranh được với các ngân
hàng khác trong và ngoài nước thì các ngân hàng đã tiến hành áp dụng khoa học
công nghệ trong nghiệp vụ, phát triển thêm nhiều dịch vụ mới để tăng tính cạnh
tranh.
* Sự thay đổi trong đường lối chính sách của nhà nước
Sự phát triển của ngành ngân hàng có tác động rất lớn đến sự phát triển
của một nền kinh tế. Do đó, mỗi Quốc gia đều cố gắng đưa ra những chính sách
hợp lý nhằm tạo điều kiện cho ngành ngân hàng phát triển, mở rộng thêm các
DVNH mới. Tuy nhiên, sự đổi mới trong chính sách của nhà nước không chỉ
mang lại cơ hội phát triển cho các ngân hàng mà còn là những thách thức cho
các ngân hàng trong tương lai.
* Sự phát triển của khoa học công nghệ
Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ thì ngày càng
có nhiều công nghệ mới ra đời đáp ứng nhu cầu của nhà sản xuất kinh doanh và
người tiêu dùng. Nhà kinh doanh nào nắm bắt được những công nghệ hiện đại
nhất, mới nhất thì đó sẽ là một lợi thế do có thể tạo ra những sản phẩm, dịch vụ
có chi phí thấp, chất lượng cao. Theo thống kê, trong các NHTM việc áp dụng
các trang thiết bị hiện đại đã cho phép các ngân hàng tiết kiệm chi phí tới 74%,
đồng thời giúp cho việc thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng diễn ra nhanh chóng
và chính xác hơn.
1.4.2 Các nhân tố chủ quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status