Luận văn: Phòng ngừa rủi ro ngoại hối bằng hợp đồng hoán đổi - Pdf 12

Nguyễn Văn Tuyến - TTC 46

1

Luận văn
Đề tài: Phòng ngừa rủi ro
ngoại hối bằng hợp đồng
hoán đổi

Nguyễn Văn Tuyến - TTC 46

2

I. Giới thiệu chung về thị trường ngoại hối
1.1. Khái niệm
Chúng ta thấy rằng, một trong những điểm khác nhau cơ bản giữa
thương mại quốc tế và thương mại nội địa là:
- Thương mại quốc tế thường liên quan đến việc chuyển đổi giữa các đồng
tiền khác nhau của các quốc gia khác nhau.
- Trong khi đó, thương mại nội địa thường chỉ liên quan đến nội tệ.
Một nhà nhập khẩu Mỹ thường được yêu cầu thanh toán cho nhà xuất
khẩu Nhật bằng đồng yên Nhật, cho nhà xuất khẩu Đức bằng đồng mark
Đức, cho nhà xuất khẩu Anh bằng đồng bảng Anh…Với lý do này, để
thanh toán tiền hàng, nhà nhập khẩu Mỹ phải mua các ngoại tệ thích hợp,
tức bán nội tệ trên thị trường.
Giống như thương mại quốc tế, du lịch quốc tế, đầu tư quốc tế, quan hệ tín
dụng quốc tế và các quan hệ tài chính quốc tế khác đều làm phát sinh nhu
cầu mua bán các đồng tiền khác nhau trên thị trường.

dưới một mái nhà chung.
- Do thị trường có tính toàn cầu và hoạt động hiệu quả, cho nên các tỷ giá
được niêm yết trên các thị trường khác nhau nhưng hầu như là thống nhất
với nhau (có độ lệch chuẩn không đáng kể).
- Đồng tiền được sử dụng nhiều nhất trong giao dịch là USD, chiếm
41,5% trong số các đồng tiền tham gia (điều này cũng có nghĩa là có tới
83% các giao dịch trên FOREX là có mặt của USD).
- Đây là thị trường rất nhạy cảm với các sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội,
tâm lý…nhất là với các chính sách tiền tệ của các nước phát triển.
- Những thị trường ngoại hối quan trọng ngày nay gồm: London, New
York, Tokyo, Singapore và Frankfurt.
- Doanh số mua bán ròng toàn cầu (chỉ tính doanh số một chiều mua vào
hoặc bán ra) tại thời điểm năm 2000 ước tính vào khoảng 1500 tỷ
Nguyễn Văn Tuyến - TTC 46

4

USD/ngày; thị trường hoạt động tích cực nhất là London, sau đó là New
York, Tokyo, Singapore, Frankfurt… Đây là thị trường lớn nhất và có
doanh số giao dịch cao nhất.
Thị trường ngoại hối toàn cầu có tốc độ phát triển rất nhanh trong mấy
thập kỷ qua, đặc biệt là từ cuối những năm 80 là do có những nguyên nhân
chính sau:
- Sau khi hệ thống tiền tệ Bretton Woods bị sụp đổ vào năm 1973, tỷ giá
các đồng tiền trên thế giới được thả nổi và dao động mạnh đã buộc những
nhà kinh doanh tiền tệ, xuất nhập khẩu và đầu tư quốc tế phải tìm kiếm các
biện pháp phòng chống rủi ro thông qua thị trường ngoại hối. Mặt khác, họ
cũng tranh thủ thời cơ tỷ giá biến động mạnh để hoạt động đầu cơ kiếm lời.
Điều đó làm tăng nhu cầu giao dịch mua bán ngoại tệ, góp phần thúc đẩy
thị trường ngoại hối phát triển nhanh chóng.

tế, thị trường ngoại hối còn có một số chức năng khác, như:
- Giúp luân chuyển các khoản đầu tư quốc tế, tín dụng quốc tế, các giao
dịch tài chính quốc tế khác cũng như các giao lưu giữa các quốc gia.
- Thông qua hoạt động của thị trường ngoại hối, mà giá trị đối ngoại của
tiền tệ được xác định một cách khách quan theo quy luật cung cầu thị
trường.
- Thị trường ngoại hối cung cấp công cụ bảo hiểm rủi ro tỷ giá cho các
khoản thu xuất khẩu, các khoản thanh toán nhập khẩu, các khoản đầu tư
bằng ngoại tệ và các khoản đi vay bằng ngoại tệ thông qua các hợp đồng
như kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn, và tương lai.
- Thị trường ngoại hối là nơi để Ngân hàng Trung Ương tiến hành can
thiệp để tỷ giá biến động theo chiều hướng có lợi cho nền kinh tế,
Nguyễn Văn Tuyến - TTC 46

6

1.4. Những thành viên tham gia thị trường ngoại hối
1.4.1. Nhóm khách hàng mua bán lẻ (Retail Clients)
Nhóm khách hàng mua bán lẻ (retail clients hay bank customers) bao
gồm các công ty nội địa, các công ty đa quốc gia, những nhà đầu tư quốc tế
và tất cả những ai có nhu cầu mua bán ngoại hối nhằm phục vụ cho mục
đích hoạt động của chính mình. Ví dụ nhà nhập khẩu có nhu cầu mua ngoại
tệ để thanh toán hoá đơn nhập khẩu ghi bằng ngoại tệ, nhà xuất khẩu có
nhu cầu bán ngoại tệ khi nhận được hoá đơn xuất khẩu ghi bằng ngoại tệ,
khách du lịch có nhu cầu bán ngoại tệ lấy nội tệ để chi tiêu…Như vậy,
nhóm khách hàng mua bán lẻ có nhu cầu mua bán ngoại tệ để phục vụ cho
mục đích hoạt động của chính mình chứ không nhằm mục đích kinh doanh
ngoại hối (kiếm lãi khi tỷ giá thay đổi). Thông thường, nhóm khách hàng
mua bán lẻ không giao dịch trực tiếp với nhau mà họ thường mua bán
thông qua các NHTM.

nhà môi giới chuyên nghiệp nhất định để giúp các Ngân hàng thực hiện
các lệnh mua và bán ngoại hối. Điểm cần lưu ý là những nhà môi giới chỉ
cung cấp dịch vụ cho khách hàng, chứ không mua bán ngoại hối cho chính
mình.

1.4.4. Các Ngân hàng Trung ương (Central Banks)
Nhìn chung, các Ngân hàng Trung Ương không thờ ơ trước sự biến động
của tỷ giá đối với đồng tiền do mình phát hành. Do đó, mặc dù hầu hết các
đồng tiền của các nước công nghiệp phát triển được thả nổi từ năm 1973,
nhưng trên thực tế, các Ngân hàng Trung Ương vẫn thường xuyên can
thiệp bằng cách mua vào hay bán ra nội tệ trên thị trường ngoại hối nhằm
ảnh hưởng lên tỷ giá theo hướng mà Ngân hàng Trung Ương cho là có lợi.
Trong chế độ tỷ giá cố định, can thiệp của Ngân hàng Trung Ương lên thị
trường ngoại hối là bắt buộc nhằm duy trì tỷ giá trong một biên độ nhất
định, Ngân hàng Trung Ương tiến hành mua nội tệ vào khi cung nội tệ lớn
Nguyễn Văn Tuyến - TTC 46

8

hơn cầu và tiến hành bán nội tệ ra khi cầu lớn hơn cung trên thị trường
ngoại hối, nhờ đó tỷ giá được duy trì cố định.

II.LƯỢNG HOÁ RỦ RO NGOẠI HỐI

2.1.Những nguồn làm phát sinh rủi ro ngoại hối
Tromg những năm gần đây các ngân hàng buôn bán là những thành viên
chính trên thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ .Đối với một số ngân hàng
,trong cơ cấu tài sản có và tài sản nợ thì ngoại tệ chiếm một tỉ trọng đáng kể
.Bảng 1chỉ ra giá trị tài sản có và tài sản nợ bằng ngoại tệ qui AUD của ngân
hàng úc trong khoảng thời gian từ 1991 đến1995


Bảng2 : Doanh số mua bán ngoại tệ trên tuần và số dư tài sản có, tài sản
nợ bằng ngoại tệ của các ngân hàng Mỹ tại thời điểm 26/9/1990
Loại ngoại tệ
Hoạt động nội bảng
Hoạt động ngoại
bảng
Trạng thái
ngoại tệ
ròng (5)
Tài sản có
(1)
Tài sản
nợ (2)
Mua vào
(3)
Bán ra
(4)
Đôla Canada
24819 25100 102224 101568 +375
Mác Đức
12442 126870 1094497 1104173 -12104
Yên Nhật
15050 12864 127118 128747 +557
Franc Thu
ỵ Sỹ

45667

45958


10
Về mặt logic ,chúng ta có nhận thấy rằng ,để một ngân hàng tránh được
hoàn toàn rủi ro ngoại hối thì ngân hàng này phải có trạng thái bằng o đối với
tất cả các ngoại tệ .
Từ bảng 2 cho thấy đối với các ngân hàng mỹ ở trạng thái ngoại hối là
dương đối với đồng đôla canada ,yên nhật và bảng Anh ;nhưng là âm với
đồng mác Đức và francs Thuỵ sĩ .khi trạng thái ngoại hối dương (hay trường
dòng ) thì ngân hàng phải đối mặt với rủi ro khi đồng tiền này giảm giá
Khi trạng thái ngoại hối âm (hay đoạn dòng )thì ngân hàng phải đối mặt với
rủi ro khi đồng tiên này lên giá .như vậy khi trạng thái của một ngoại tệ là
khác 0 thì ngân hàng luôn phải đối mặt với rủi ro khi tỉ giá của ngoại tệ này
biến động .sau đây là vidụ minh hoạ và ý nghĩa kinh tế về trạng thái ngoại tệ
ròng cuối ngày giao dịch (tr USD):

Tr
ạng thái
cuối ngày
hôm trước

Doanh số
mua vào
hôm nay
Doanh số
bán ra
hôm nay
Trạng thái
cuối ngày
hôm nay
Ý nghĩa kinh tế


Ví dụ , một ngân hàng có trạng thái ngoại hối trường ròng là 100tr USD và
giả sử rằng sau 1tuần tỷ giá giao ngay VND/USD tăng từ 1USD=15.520 lên 1
USD =15.535 VND

Gọi S
t-1
là tỷ giá của USD ỷứơc khi thay đổi ,tức :S
t-1
= 15.520
Gọi S
t
là tỷ giá của USD khi thay đổi , tức là :S
t
= 15.535

Ta tính được tỷ lệ phần trăm % thay đổi tỷ giá (%thay đổi trị giá của USD): S
t
–S
t
-
1

*

100%


thị trường hối đoái ,bởi các nhà đầ cơ có thể biết trước được rằng tỉ giá sẽ
thay đổi theo hướng nào trong nay mai .Họ có thể mua hay bán ngoại hối để
Nguyễn Văn Tuyến - TTC 46

12
tận dụng lợi thế khi một NHTWchuẩn bị điêu chỉnh tỷ giá .Cuối cùng là ,dưới
áp lực của đàu cơ ngoại hối ,các NHTW chuyển hẳn sang áp dụng chế độ tỷ
giá thả nổi có điều tiết .Do chế độ tỷ giá cố định áp dụng quá lâu đã làm cho
một số đồng tiền trở nên định giá quá cao ,trong khi đó một số đồng tiền bị
định giá quá thấp ,đây chính là môi trường thuận lợi và là mảnh đất màu mỡ
cho các hoạt động đầu cơ phát triển .Khi chuyển qua chế độ tỷ giá thả nổi
.nhiều đồng tiền ngay lâp tức mất giá hàng chục phần trăm ,số đòng tiền khác
lên giá với mức độ tương ứng .Qua quan sát sư biến động của tỷ giá ,chúng ta
thây rằng rủi ro hối đoái đối vơi ngân hàng trong chê độ tỷ giá thả nổi là lơ
hơn nhiều so với chế độ tỷ giá cố định .Mặc dù hiện nay trên thế giới các
nước có nhiều cố găng để duy trì tỷ giá giao dộng một cách vừa phải ,như
việc thiết lâp hệ thông tiền tệ châu âu ,tỉ giá giữa các đồng tiền trong hệ thống
được ấn định cố định trước khi đồng tiền chung EURO ra đời từ
1/1/1999.Ngoài ra một nỗ lực của các nước G7 thông qua viêc quy định các
giới hạn cho phép đồng tiền các nước này được dao động mà không cần phải
có sư phối hợp giữa các quốc gia hay sự can thiệp của NHTW.Tuy nhiên sư
sụp đổ của đồng bảng Anh vàn tháng 9 năm 1992 ,sự điều chỉnh của hệ thông
tiên tệ châu âu và gần đây nhât là ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ các nước ĐNÁ,Brazin ,Argentina đã làm cho mục tiêu ổn định tỉ giá
gặp nhiều khó khăn .Cũng cần phải nhận tháy rằng việc duy trì tỉ giá một cách
ổn định là một điều hết sức khó khăn ,bởi lẽ các nhân tố chính xác đnhj sự
vận đọnh tỷ giá lại chính là các lực lượng kinh tế (thị trường) không ổn định
chút nào và nạn đầu cơ trên thị trường ngoại hối
Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu hai bộ phận cấu thành rủi ro hối đoái đối với
một ngân hàng đó là :Hoạt động ngoại bảng (hay mua bán kinh doanh ngoại

đầu cơ (unheđge position = open position),tức là hoạt động 4.Thông thường
trạng thái mở phát sinh trong giao dịch giữa các ngân hàng vơí nhau trên thị
trường ngoại hối nhằn mục đích đầu cơ tỉ giá ,đặc biệt là đối với các ngân
hàng thương mại và ngân hàng đầu tư lớn là những ngân hàng tạo thị trường
Nguyễn Văn Tuyến - TTC 46

14
(market makers ) thông qua niêm yết tỷ giá mua bán hai chiều “Bid-Ask) đối
với các ngoại tệ kinh doanh .Một số nét đặc thù trong hoạt động kinh doanh
ngoại hối của NHTM đươc mô tả thông qua thị trường ngoại hối Uc như sau:

Năm 1989 ,có 92 nhà kinh doanh tiền tệ (Dealers-Trades) trên thị
trường ngoại hối Uc ,đến năm 1995 con số này giảm xuống còn 75 .Trong
năm 1993 ,ngân hàng dự trữ Uc ước tính chỉ 20 nhà kinh doanh tiền tệ lớn
nhất đã chiếm tới 90% doanh số mua bán ngoại tệ trên thị trường .Trên thị
trường quốc tế ,năm1992 ,đồng đôla Uc đứng thứ 9 các đồng tiền được mua
bán nhiều nhất trên thế giới ,xem bảng 3
Bảng3:doanh số giao dịch trung bình ngày của một số đồng tiền chính ,4/1992
Loại tiền Quy tỉ USD
Đôla Mỹ
Mác Đức
Yên Nhật
Bảng Anh
Franc Thụy Sỹ
Franc Pháp
Đôla Canada
Đôla Úc
928
461
256

Anh
Mỹ
Nhật
Singapore
Thụy Sỹ
Hồng Kông
Đức
Pháp
Úc
Đan Mạch
300
192
126
76
68
61
57
36
30
28
60
49
10
38
19
24
n.a
38
0
112

5
3
47
39
8
6
Cộng 100% 100%

Qua bảng trên thấy rằng tỷ trọng của nghiệp vụ giao ngay có xu hướng
giảm dần trong khi đó tỷ trọng của các nghiệp vụ phái sinh đều tăng, đặc biệt
là nghiệp vụ hoán đổi.

2.4 Rủi ro ngoại hối trong hoạt động TSC và TSN bằng ngoại tệ

Khía cạnh thứ hai của khía cạnh ngoại hối mà các ngân hàng phải đối mặt
là sự không cân xứng giữa tài sản có và tài sản nợ đối với từng loại ngoại tệ.
Tài sản có và ngoại tệ là khỏan mục trên bảng tổng kết tài sản như các khoản
cho vay bằng ngoại tệ, các chứng khoán bằng ngoại tệ, tiền gửi bằng ngoại tệ
Nguyễn Văn Tuyến - TTC 46

17
ở các ngân hàng khác… Tài sản nợ bằng ngoại tệ là các khoản mục trên bảng
tổng kết tài sản như phát hàng các chứng chỉ tiền gửi bằng ngoại tệ, phát hành
các trái phiếu Châu Âu, và các hình thức huy động vốn khác bằng ngoại tệ.
Do tính chất toàn cầu hoá của thị trường tài chính đã tạo ra những khả năng to
lớn để tăng nguồn vốn của các ngân hàng bằng các ngoại tệ khác nhau. Đây là
lợi thế to lớn không những đa dạng hoá nguồn vốn và sử dụng vốn bằng ngoại
tệ, mà còn tạo ra những cơ hội để tăng lợi tức đầu tư và giảm được chi phí
huy động vốn.


Chúng ta giả sử rằng, khoản tín dụng cho các công ty nước ngoài bằng USD
không có rủi ro, mức lãi suất là 15% một năm. Muốn đầu tư cho các công ty
nước ngoài bằng USD, trước hết ngân hàng phải chuyển hoá 50% của 2000 tỷ
VNĐ thành USD theo tỉ giá giao ngay, và tiến hành cho vay theo các bước
giao dịch sau:
-Tại thời điểm đầu năm, bán 1000 tỉ VNĐ để lấy USD. Giả sử tỷ giá giao
ngay là 1USD = 15385 VND, ta có:
1000000 : 15385 = 65 triệu USD
-Cho các công ty nước ngoài vay 65 triệu USD kỳ hạn một năm, lãi suất
15% / năm
-Tại thời điểm cuối năm (thời điểm tín dụng đến hạn) thu được các lẫn lãi
là :
65 * (1+0.15) = 74,75 triệu USD
- Chuyển hoá lượng 74,75 triệu USD thu được thành VND theo tỉ giá
giao ngay tại thời điểm cuối năm. Giả sử tỷ giá giao ngay tại thời điểm cuối
năm là không đổi, thì số lượng VNĐ thu được là:
74,75 * 15385 = 1150 tỉ VNĐ
Tỷ lệ lợi tức đầu tư là:
(1150-1000)/1000=0,15 hay 15%
Tỷ lệ lợi tức đầu tư cho cả danh mục tài sản có được tính là:
(0.5* 0,1)+(0,5*0,15)=0,125 hay 12,5%

Đến đây, chúng ta thấy rằng, mức lợi tức đầu tư của toàn bộ danh mục tài
sản có lớn hơn 4,5% (12,5%-8%) so với chi phí huy động vốn, và lớn 2,5%
so với đầu tư bằng nội tệ. Tuy nhiên, nếu giá trị của USD so với VNĐ vào
thời điểm cuối năm, thì tỷ lệ lợi tức từ khoản cho vay bằng khoản USD sẽ
Nguyễn Văn Tuyến - TTC 46

19
còn cao hơn và ngược lại nếu giá trị của USD giảm so với VNĐ vào thời

III .PHÒNG NGỪA RỦI RO NGOẠI HỐI BẰNG HỢP ĐỒNG HOÁN
ĐỔI
Sau đây chúng ta đi xem xét việc ngân hàng phòng ngừa rủi ro ngoại hối
bằng hợp đồng hoán đổi tiền tệ trong trường hợp các tiền tệ trong bảng cân
đối tài sản không cân xứng với nhau là như thế nào

3.1. Hợp đồng hoán đổi tiền tệ có lãi suất cố định/cố định

Ta xét :
-Một ngân hàng A :tài sản có bằng VND với mức lãi suất cố định ;tài sản
nợ bao gồm trái phiếu bằng USD có giá trị 1tiệu USD kì hạn 5 năm lãi suất
coupon cố định là 10%/năm
-Ngân hang B có: tài sản bằng USD với mức lãi suất cố định ;tài sản nợ bao
gồm trái phiếu bằng VND có giá trị 15tỉ VND kì hạn 5 năm lãi suất coupon
cố định là 10%/năm
với giả thiết như trên ,cả hai ngân hàng đều bộc lộ rủi ro ngoại hối ,nhưng
ngược chiều nhau .Ngân hàng A bộc lộ rủi ro hối đoái trong trường hợp nếu
giá trị của VND giảm so với USD trong 5 năm tới ,bởi vì chi phí để thanh
toán số tiền gốc 1tiệu USD trong 5 năm tới ,bởi vì chi phí để thanh toán số
tiền gốc 1 triệu USD và lãi coupon 10% /năm từ việc huy động trái phiếu
bằng USD sẽ tăng lên. Mặt khác đối với ngân hàng B cũng bộc lộ rủi ro ngoại
hối trong trường hợp nếu giá trị của VNĐ sẽ tăng lên so với USD trong 5 năm
tới thì chi phí thanh toán số tiền gốc 15 tỷ VNĐ và tiền lãi coupon 10%/năm
từ việc huy động trái phiếu bằng VNĐ sẽ tăng lên.
Một giải pháp phòng ngừa rủi ro ngoại hối cho cả hai ngân hàng, đó là hai
ngân hàng tiến hành giao dịch hoán đổi tiền tệ như sau:
- Ngân hàng B sẽ thanh toán toàn bộ số tiền gốc và lãi coupon hàng năm
bằng USD đối với các trái phiếu bằng USD do ngân hàng A phát hành
Nguyễn Văn Tuyến - TTC 46


Ngân hàng B
thanh toán
tương đương
(triệu VND)
luồng tiền
ròng (triệu
VND)
1
2
3
4
5
1.500
1.500
1.500
1.500
16500
100
100
100
100
1100
1500
1500
1500
1500
16500
0
0
0

nổi. như sau: Giả sử ngân hàng A nắm giữ tài sản có của mình bằng VND và
chủ yếu ở dạng ngắn hàng với lãi suất thả nổi. Để tài trợ cho tài sản có, ngân
hàng A huy động 1 triệu USD trái phiếu kỳ hạn 4 năm với mức lãi suất
coupon là 10%/năm. Ngược lại ngân hàng B nắm giữ tài sản có của mình
Nguyễn Văn Tuyến - TTC 46

23
bằng USD và chủ yếu ở dạng dài hạn với lãi suất cố định để tài trợ cho tài sản
có ngân hàng B huy động 15 tỷ VND bằng cách phát hành tiền gửi ngắn hạn
với lãi suất thả nổi, và được xác định bằng chỉ số (BBSW+1%) kết quả là
ngân hàng A phải đối mặt với hai loại rủi ro đó là: rủi ro lãi suất và rủi ro hối
đoái. Đặc biệt nếu lãi suất ngắn hạn của VND giảm và đồng thời VND giảm
giá so với USD thì ngân hàng A sẽ phải chịu chi phí tăng lên do phải thanh
toán tiền gốc và lãi đối với các trái phiếu huy động bằng USD. Do đó ngân
hàng A mong muốn chuyển hoá tài sản nợ bằng các trái phiếu huy động USD
có lãi suất cố định sang tài sản nợ bằng USD có lãi suất thả nổi. Ngân hàng B
cũng phải đối mặt với rủi ro lãi suất và rủi ro ngoại hối. Nếu lãi suất của
VND tăng và VND lên giá so với USD thì ngân hàng B sẽ phải chịu mức chi
phí tăng lên do thanh toán tiền gốc và lãi đối với các chứng chỉ tiền gửi huy
động bằng VND. Kết quả là ngân hàng B mong muốn chuyển hoá tài sản nợ
bằng các chứng chỉ tiền gửi huy động bằng VND có lãi suất thả nổi sang tài
sản nợ bằng USD có lãi suất cố định.
Từng ngân hàng có thể đạt được mục đích của mình là chuyển hoá được tài
sản nợ bằng cách tham gia giao dịch hoán đổi tiền tệ có lãi suất cố định/thả
nổi. Hàng năm hai ngân hàng thanh toán cho nhău theo một tỷ giá đã định ví
dụ: 1USD = 15000 VND. Ngân hàng B chuyển các khoản thanh toán cố định
bằng USD cho ngân hàng A để thanh toán tiền gốc và tiền lãi của trái phiếu
bằng USD do ngân hàng A huy động. Trong khi đó ngân A chuyển các khoản
thanh toán thả nổi bằng VND cho ngân hàng B để thanh toán tiền gốc và tiền
lãi các chứng chỉ tiền gửi bằng VND do ngân hàng B huy động.

VND)
Ngân A
thanh toán
ròng
(triệuVND)

1
2
3
4
9%
8%
8%
10%
10%
9%
9%
11%
1500
1350
1350
16650
100
100
100
1100
1500
1500
1500
16500


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status