nghiên cứu - trao đổi
tạp chí luật học số 8/2011 25
ThS. Trần Vũ Hải *
o him nhõn th (BHNT) l loi nghip
v bo him cho trng hp ngi
c bo him sng hoc cht.
(1)
Do tớnh
cht l loi hỡnh bo him nhm bo v cuc
sng ca ngi c bo him nờn gia hỡnh
thc BHNT v hỡnh thc bo him xó hi cú
nhng tng ng nht nh v c ch bo
him. Tuy nhiờn, BHNT khỏc vi bo him
xó hi v bn cht. BHNT l dch v ti chớnh
ca nn kinh t th trng, theo ú, nú c
biu hin ra l sn phm c th (gi l sn
phm BHNT) cú th c mua (bi bờn mua
bo him) v c bỏn (bi doanh nghip
kinh doanh BHNT). Trong khi ú, bo him
xó hi khụng c coi l dch v ti chớnh
theo ỳng ngha vỡ nú n thun l c ch bo
m an sinh xó hi cho ngi lao ng vi ba
bờn tham gia l ch s dng lao ng, ngi
lao ng v nh nc.
(2)
BHNT cú mt s c im c bn sau õy:
Th nht, sn phm BHNT cng nh cỏc
sn phm bo him khỏc, th hin ra l loi
dch v, tc l sn phm vụ hỡnh nhng cú
tớnh ti sn.
Sn phm BHNT chớnh l loi dch v
nờn cú tớnh vụ hỡnh, khụng biu hin di
hỡnh thỏi vt cht c th m thụng qua cỏc
cam kt ca DNBH i vi ngi tham gia
bo him. Li ớch c bn nht t sn phm
BHNT l c tr tin trong trng hp xy
ra s kin bo him. Bờn tham gia bo him
cú th c hng mt s li ớch khỏc nu
cú tho thun nh: c hon li mt phn
phớ bo him trong trng hp hu hp
B
* Ging viờn Khoa phỏp lut kinh t
Trng i hc Lut H Ni nghiên cứu - trao đổi
26 tạp chí luật học số 7/2011
ng, c min np phớ bo him nu b
thng tt, bnh him nghốo v.v Nhiu
doanh nghip cũn sn sng cho ngi tham
gia bo him vay tin s dng nu hp ng
ó cú giỏ tr hon li.
Tuy sn phm bo him l dch v
thng mi nhng khỏc vi nhng dch v
thụng thng ch cung cp cho khỏch hng
riờng cú chu trỡnh kinh doanh o ngc.
(5)
i vi sn phm BHNT, vic nh phớ
bo him l quỏ trỡnh k thut phc tp liờn
quan n quy lut s ụng, bng t l t vong
cng nh cỏc yu t k thut khỏc. Mi sn
phm bo him c thit k, do quyn li
ca khỏch hng khỏc nhau nờn vic nh phớ
cng khỏc nhau. ú l khụng k n trng
hp khỏch hng mua thờm cỏc sn phm bo
him b tr gia tng quyn li bo him
hoc quyn li u t ca mỡnh.
Th ba, sn phm BHNT rt a dng v cú
tớnh a mc ớch trong tng sn phm.
Do tớnh cht l nghip v bo him con
ngi nờn BHNT da trờn nguyờn tc khoỏn
s tin bo him ch khụng da trờn nguyờn
tc bi thng ngang bng tn tht nh trong
bo him phi nhõn th. Chớnh vỡ vy, kh
nng úng phớ ca khỏch hng s l yu t
quyt nh n vic la chn sn phm bo
him phự hp. Do ú, ỏp ng kh nng
np phớ khỏc nhau, cựng vi nhng nhu cu
khỏc nhau, DNBH phi thit k nhiu sn
phm BHNT phự hp vi tng nhúm
khỏch hng nht nh. ú l lớ do ti sao li
tn ti nhiu loi sn phm BHNT trờn th
trng bo him v cỏc sn phm mi xut
hin ngy cng a dng.
cạnh tranh cao hơn trên thị trường bảo hiểm.
Thứ năm, cơ sở kĩ thuật cơ bản của sản
phẩm BHNT là quy luật về số đông, bảng tỉ
lệ tử vong, lãi suất kĩ thuật và phí bình quân.
Để thiết kế sản phẩm BHNT với tư cách
là loại hình bảo hiểm thương mại, DNBH
phải dựa trên những cơ sở kĩ thuật nhất định
nhằm cùng một lúc đạt được hai mục tiêu
song song đem lại quyền lợi cho người tham
gia bảo hiểm với mức chi phí hợp lí đồng
thời đem lại lợi nhuận cho DNBH.
Cũng giống như các sản phẩm bảo hiểm
khác, đặc trưng kĩ thuật đầu tiên của sản
phẩm BHNT là dựa trên quy luật về số
đông. Quy luật về số đông đòi hỏi việc
tham gia BHNT phải gồm nhiều người. Quỹ
bảo hiểm sẽ do nhiều người cùng đóng góp
để chi trả cho những trường hợp xảy ra tổn
thất hoặc có cam kết trả tiền của DNBH.
Bên cạnh quy luật về số đông, BHNT đã
dựa cụ thể vào cơ sở kĩ thuật thứ hai là bảng
tỉ lệ tử vong. Bảng tỉ lệ tử vong được xây
dựng dựa trên nguyên tắc thống kê với số
lượng lớn những cá nhân sống qua các độ
tuổi khác nhau. Để đảm bảo công bằng, pháp
luật một số quốc gia đã quy định về bảng tỉ
lệ tử vong làm cơ sở cho các DNBH tính
toán mức phí bảo hiểm đối với khách hàng.
Cơ sở kĩ thuật cơ bản tiếp theo của sản
phẩm BHNT là lãi suất kĩ thuật. Do hầu hết
nghiªn cøu - trao ®æi
28 t¹p chÝ luËt häc sè 7/2011
sẽ cao hơn so với mức phí thực, còn những
năm cuối lại thấp hơn mức phí thực.
Thứ sáu, sản phẩm BHNT thường được
DNBH cung cấp với thời hạn tương đối dài.
Đa phần sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ
đều có thời hạn bảo hiểm từ một năm trở
xuống. Tuy nhiên đối với sản phẩm BHNT,
thời hạn bảo hiểm là tương đối dài. Đối với
DNBH, thời hạn bảo hiểm dài sẽ đảm bảo cho
khả năng đầu tư của doanh nghiệp từ nguồn
phí bảo hiểm, từ đó đảm bảo được tính tiết
kiệm của hợp đồng bảo hiểm. Thời hạn bảo
hiểm dài cũng giúp cho bên mua bảo hiểm có
khả năng nộp phí bảo hiểm để tham gia
những hợp đồng bảo hiểm có giá trị lớn, đáp
ứng được nhu cầu bảo hiểm, tiết kiệm và đầu
tư của mình.
(7)
Riêng đối với sản phẩm bảo
hiểm tử kì, do chỉ có tính chất bảo hiểm thuần
tuý nên có thể được cung cấp với thời hạn
bảo hiểm ngắn, thông thường là một năm.
Thời hạn bảo hiểm dài cũng ảnh hưởng
đến kĩ thuật quản lí đối với sản phẩm bảo
hiểm cũng như các quy định pháp luật nhằm
bảo vệ quyền lợi cho người được bảo hiểm
cao, trong khi đó trên thị trường hiện nay có
những sản phẩm tài chính khác hấp dẫn hơn
ở mức lợi tức thu được như gửi tiền tiết kiệm
hoặc mua chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu v.v.;
hai là chính sách an sinh xã hội của nhà
nước ngày càng tốt hơn, đặc biệt là ở những
nước phát triển, đã làm giảm nhu cầu bảo vệ
từ sản phẩm bảo hiểm sinh kì.
Chính vì vậy, hầu như các DNBH hiện
nay chỉ cung cấp sản phẩm bảo hiểm sinh kì
trả tiền định kì (thường được biết đến với tên
gọi là niên kim nhân thọ). Ở sản phẩm này,
bên mua bảo hiểm có thể nộp phí bảo hiểm
một lần hoặc định kì, sau đó từ thời điểm
thoả thuận, DNBH sẽ định kì trả tiền bảo
hiểm cho người được bảo hiểm cho đến khi
người đó qua đời hoặc đến thời điểm nhất
định. Nếu DNBH cam kết trả tiền bảo hiểm
định kì cho đến khi nào người được bảo
hiểm qua đời thì đó là sản phẩm bảo hiểm
hưu trí tự nguyện.
(8)
nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 8/2011 29
Sản phẩm bảo hiểm có những cam kết
ngược lại so với bảo hiểm sinh kì là bảo
hiểm tử kì. Bảo hiểm tử kì là sản phẩm
Bảo hiểm hỗn hợp là sản phẩm phổ biến
vì tính đa mục đích của nó. Trước tiên, nó có
đầy đủ tính bảo vệ như loại hình bảo hiểm tử
kì nhưng lại có tính tiết kiệm và đầu tư như
bảo hiểm sinh kì. DNBH chắc chắn sẽ phải
trả tiền bảo hiểm tuỳ thuộc vào sự kiện bảo
hiểm nào xảy ra trước: Người được bảo hiểm
chết trong thời hạn bảo hiểm hoặc hết thời
hạn bảo hiểm mà người được bảo hiểm vẫn
còn sống. Các sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp
hiện nay rất đa dạng và có nhiều tên gọi khác
nhau tuỳ theo cách đặt tên của DNBH cũng
như các quyền lợi mà DNBH dành cho
khách hàng.
- Nếu phân loại theo sự kết hợp giữa
BHNT và các sản phẩm phi bảo hiểm do
DNBH cung cấp thì sản phẩm BHNT có hai
loại là sản phẩm BHNT thuần tuý và sản
phẩm bảo hiểm BHNT liên kết đầu tư.
Sản phẩm BHNT thuần tuý là sản phẩm
bảo hiểm có đầy đủ các thuộc tính của
BHNT, không kèm theo các lợi ích gia tăng
về đầu tư. Trong sản phẩm BHNT thuần tuý
cũng có những lợi ích gia tăng (quyền lợi bổ
sung) từ những sản phẩm bảo hiểm bổ trợ
được mua kèm nhưng các lợi ích này chỉ
nhằm gia tăng quyền lợi bảo hiểm, chứ không
phải quyền lợi về đầu tư.
Sản phẩm BHNT liên kết đầu tư là sản
phẩm BHNT mà ngoài những quyền lợi bảo
v phn phớ dnh cho u t. Trong phn
phớ dnh cho u t, bờn mua bo him cú
t cỏch nh l nh u t u thỏc, chu
trỏch nhim i vi khon u t ca mỡnh
theo tho thun vi DNBH. Sn phm bo
him liờn kt u t gúp phn lm gia tng
yu t u t ca sn phm BHNT, giỳp th
trng BHNT cú kh nng cnh tranh thu
hỳt vn vi cỏc b phn khỏc ca th trng
ti chớnh nh th trng chng khoỏn, th
trng tin t v.v
Ngoi nhng tiờu chớ phõn loi trờn õy,
sn phm BHNT cũn c phõn loi thnh
bo him chớnh thc, bo him tm thi, bo
him nhúm, bo him cỏ nhõn v.v Do
khụng cú iu kin trỡnh by õy, ngi
vit xin c phõn tớch mt bi vit khỏc.
3. Khung phỏp lut iu chnh hot
ng kinh doanh sn phm bo him
nhõn th
Cú th cú nhiu la chn khỏc nhau ca
mi quc gia trong vic xỏc nh v trớ ca
b phn phỏp lut v sn phm BHNT l
nm õu trong h thng cỏc quy nh v
kinh doanh bo him, tu thuc vo cu trỳc
phỏp lut ca quc gia ú cng nh nhng
yờu cu xut phỏt t thc tin kinh t xó hi.
Australia, cỏc quy nh v sn phm BHNT,
cng nh hot ng ca DNBH kinh doanh
BHNT tp trung o lut BHNT nm 1995,
Do nhng c thự v lnh vc kinh
doanh sn phm BHNT, phỏp lut Vit Nam
cng nh nhiu quc gia trờn th gii thng
quy nh nhng vn c bn sau õy: nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 8/2011 31
* Quy định về DNBH cung cấp sản phẩm
BHNT
Chủ thể cung cấp sản phẩm bảo hiểm nói
chung và sản phẩm BHNT nói riêng là
DNBH. Pháp luật các quốc gia trên thế giới
đều có quan điểm chung là chủ thể cung cấp
sản phẩm BHNT là chủ thể kinh doanh (gọi
là doanh nghiệp, công ti hoặc những tên gọi
có nghĩa tương tự).
Là lĩnh vực kinh doanh có ảnh hưởng
tương đối sâu sắc đến nền kinh tế và xã hội,
hầu hết các quốc gia đều yêu cầu DNBH
phải được cấp phép thành lập sau khi chứng
minh đã thoả mãn đầy đủ các điều kiện do
pháp luật quy định. Ví dụ: Theo quy định
của pháp luật Cộng hòa Pháp, công ti bảo
hiểm chỉ được thành lập sau khi được cấp
giấy phép của Bộ kinh tế và tài chính và
công ti này chỉ được hoạt động trong phạm
vi giấy phép được cấp.
(13)
Theo pháp luật
cấp phép và chỉ được quyền thực hiện một
trong hai nghiệp vụ là kinh doanh BHNT
hoặc phi nhân thọ.
(18)
Ở một số quốc gia có
thị trường bảo hiểm phát triển như nước Anh,
DNBH có thể đồng thời cung cấp sản phẩm
BHNT và bảo hiểm phi nhân thọ nhưng pháp
luật thường yêu cầu phải có sự tách bạch về
quản lí tài sản và hoạt động kinh doanh giữa
hai loại nghiệp vụ bảo hiểm.
(19)
Theo quy định của pháp luật Việt Nam,
DNBH được thành lập và hoạt động khi
thoả mãn những điều kiện theo quy định
của pháp luật và phải được Bộ tài chính cấp
phép.
(20)
Pháp luật Việt Nam cũng quy định,
DNBH không được phép đồng thời kinh
doanh BHNT và bảo hiểm phi nhân thọ, trừ
trường hợp doanh nghiệp BHNT kinh
doanh nghiệp vụ bảo hiểm sức khoẻ và bảo
hiểm tai nạn con người để bổ trợ cho
BHNT.
(21)
DNBH theo quy định của pháp
luật Việt Nam bao gồm các loại hình công ti
cổ phần, công ti trách nhiệm hữu hạn và tổ
trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì sản
phẩm đó không được phép triển khai. Sở dĩ
cần phải có thủ tục phê chuẩn sản phẩm
BHNT là do nó được DNBH thiết kế và
không có sự tham gia của bên mua bảo hiểm.
Mặt khác, sản phẩm BHNT luôn dành cho số
đông người tham gia bảo hiểm nên cần đảm
bảo sự công bằng cho những chủ thể này
trong mối quan hệ với DNBH.
Rất nhiều quốc gia có những quy định
khá chặt chẽ về việc phê chuẩn sản phẩm
BHNT. Ví dụ, theo quy định của pháp luật
Thái Lan, hợp đồng BHNT bao gồm cả các
tài liệu liên quan phải được người đứng đầu
cơ quan quản lí bảo hiểm phê chuẩn và
DNBH không được quyền cung cấp dưới bất
kì hình thức nào khác.
(24)
Theo pháp luật Ấn
Độ, sản phẩm BHNT cũng phải được đăng kí
với cơ quan quản lí của chính quyền trung
ương.
(25)
Tuy nhiên, một số quốc gia có thị
trường BHNT phát triển thường có những
quy định “lỏng” hơn. Ví dụ: Ở Anh và
Australia, các sản phẩm BHNT không nhất
thiết phải được cơ quan quản lí nhà nước phê
chuẩn nhưng phải tuân theo các quy định
pháp luật về BHNT. Trong trường hợp các cơ
dựng dựa trên số liệu thống kê, đảm bảo khả
năng thanh toán của DNBH và phải tương
ứng với điều kiện và trách nhiệm bảo hiểm.
Về thủ tục phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm,
pháp luật quy định DNBH cần chuyển cho
Bộ tài chính những tài liệu cần thiết cũng
như cần giải trình cho những nội dung của
sản phẩm BHNT. Trong thời hạn 30 ngày kể
từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ tài chính
phải chấp thuận hoặc từ chối chấp thuận sản
phẩm BHNT đó.
(29)
nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 8/2011 33
* Quy định về phân phối sản phẩm BHNT
Phân phối sản phẩm BHNT là quy trình
nhằm đưa sản phẩm BHNT đến với khách
hàng. Nói cách khác, phân phối sản phẩm
BHNT là cách thức mà thông qua đó, hợp
đồng BHNT được kí kết và thực hiện. Ở Việt
Nam, các kênh phân phối sản phẩm BHNT
tương đối mở rộng thông qua việc pháp luật
quy định sản phẩm BHNT có thể được
DNBH phân phối thông qua bán trực tiếp,
thông qua đại lí hoặc môi giới bảo hiểm,
thông qua đấu thầu và các hình thức khác phù
hợp với quy định của pháp luật.
hiểm phải được đào tạo tại các cơ sở đào tạo
đảm bảo chất lượng, theo những yêu cầu của
pháp luật về chương trình đào tạo và dưới sự
giám sát của Bộ tài chính.
(33)
Doanh nghiệp
môi giới bảo hiểm phải do Bộ tài chính cấp
giấy phép thành lập và hoạt động với các thủ
tục thành lập tương tự như DNBH và có mức
vốn pháp định là 4 tỉ đồng Việt Nam.
(34)
Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam hiện
hành còn quy định kênh phân phối bảo hiểm
qua hình thức đấu thầu. Về bản chất, đấu
thầu là phương thức lựa chọn nhà cung cấp
hàng hoá, dịch vụ trên cơ sở đảm bảo sự
cạnh tranh giữa các nhà cung cấp. Ở đây,
nhà cung cấp chính là DNBH còn bên mời
thầu là bên mua bảo hiểm. Pháp luật Việt
Nam quy định, việc đấu thầu bảo hiểm được
thực hiện theo các quy định pháp luật về đấu
thầu trên cơ sở đảm bảo sự minh bạch, cạnh
tranh bình đẳng và công bằng giữa các
DNBH tham gia đấu thầu.
(35)
Kênh phân phối qua ngân hàng (bancasurance,
asure banking) đã phát triển nhanh chóng
trong những năm gần đây và được coi là
Cam kết bảo hiểm cũng như quyền và
nghĩa vụ của các bên trong quan hệ BHNT
được thể hiện bằng hợp đồng. Hợp đồng
BHNT là sự thoả thuận giữa bên mua bảo
hiểm và DNBH về việc DNBH cam kết bảo
hiểm cho tuổi thọ của người được bảo hiểm,
với điều kiện bên mua bảo hiểm phải đóng
phí bảo hiểm; DNBH sẽ trả tiền bảo hiểm cho
người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng
nếu người được bảo hiểm sống hoặc chết
trong thời gian thoả thuận.
(38)
Một cách ngắn
gọn, hợp đồng BHNT là thoả thuận giữa
DNBH và bên mua bảo hiểm mà theo đó,
DNBH sẽ cung cấp cho bên mua bảo hiểm
sản phẩm BHNT nhất định trên cơ sở bên
mua đóng phí bảo hiểm.
Hầu hết pháp luật các quốc gia đều quy
định về nội dung cơ bản của hợp đồng
BHNT cũng như các quy định về hình thức
hợp đồng. Lí do quan trọng để giải thích cho
việc có quy định này là việc hợp đồng
BHNT thường bao gồm những nội dung rất
phức tạp và tương đối khó hiểu đối với
những người có nhận thức bình thường.
Chính vì vậy, để bảo vệ quyền lợi cho người
tham gia bảo hiểm, pháp luật các quốc gia ở
những chừng mực khác nhau, đều có những
quy định về nội dung cơ bản của hợp đồng
tuổi, nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm và một số nội
dung quan trọng khác.
(43)
Về hình thức hợp đồng, hầu hết pháp
luật các quốc gia đều yêu cầu hợp đồng
BHNT phải được lập bằng hình thức văn bản
nhằm đảm bảo khả năng thực hiện đúng hợp
đồng của các bên cũng như tạo thuận lợi cho
công tác kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền. Thậm chí pháp luật một
số nước còn yêu cầu in đậm một số điều
khoản quan trọng để gây sự chú ý của bên
mua bảo hiểm đối với những nội dung này.
(44)
Theo quy định của pháp luật Việt Nam,
hợp đồng bảo hiểm nói chung và hợp đồng
BHNT phải được lập thành văn bản. Bằng nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 8/2011 35
chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là giấy
chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện
báo, telex, fax và các hình thức khác do pháp
luật quy định.
(45)
Pháp luật Việt Nam cũng
tương tự như các quốc gia khác cho phép
sát bảo hiểm và cải thiện hệ thống giám sát
bảo hiểm trên thế giới thông qua sự hợp tác
và hỗ trợ lẫn nhau.
(46)
Hiện nay, các nguyên
tắc quốc tế về giám sát bảo hiểm được thực
hiện theo bộ “Các nguyên tắc cốt lõi của
bảo hiểm” (Insurance Core Principles, viết
tắt là ICP) được IAIS ban hành năm 2003.
Trên hết, các nguyên tắc của ICP đều trực
tiếp hoặc gián tiếp nhắc đến việc bảo vệ
những người tham gia bảo hiểm và phòng
chống gian lận. ICP cũng yêu cầu các cơ
quan giám sát cần phối hợp với nhau và
phối hợp với các cơ quan khác để việc giám
sát có hiệu quả hơn.
Về cơ bản, pháp luật về giám sát hoạt
động kinh doanh sản phẩm BHNT thường có
những nội dung sau đây:
- Về thẩm quyền giám sát
Hoạt động giám sát đối với lĩnh vực kinh
doanh sản phẩm BHNT thường được giao cho
các cơ quan chuyên trách. Mỗi quốc gia thường
có cơ quan chuyên trách riêng để thực hiện hoạt
động này nhằm đảm bảo tính hiệu quả cũng
như độc lập trong công tác giám sát. Ví dụ: Ở
Singapore là Cơ quan tiền tệ Singapore (MAS),
ở Thái Lan là Vụ bảo hiểm thuộc Bộ thương
mại Thái Lan… Ở Việt Nam, Bộ tài chính là cơ
quan có thẩm quyền giám sát hoạt động kinh
cũng như sự hợp tác giữa các cơ quan giám
sát với nhau nhằm phân tích các yếu tố có
khả năng tác động đến DNBH và thị trường
bảo hiểm.
Bốn là việc giám sát phải được thực hiện
nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng. Các
cơ quan giám sát cần đặt ra những yêu cầu tối
thiểu đối với DNBH và các trung gian trong
việc đối xử với người tiêu dùng trong các quy
định, bao gồm cả các DNBH nước ngoài bán
các sản phẩm xuyên biên giới. Nghĩa vụ cung
cấp và nhấn mạnh các thông tin quan trọng
của DNBH là hết sức quan trọng.
- Về phương thức giám sát
IAIS quy định hai phương thức giám sát
cơ bản là giám sát gián tiếp và giám sát trực
tiếp. Việc giám sát gián tiếp được thực hiện
thông qua cơ chế tiếp nhận thông tin và thực
hiện việc đánh giá thông qua các thông tin
đã tiếp nhận. Trong khi đó, với phương thức
giám sát trực tiếp, cơ quan giám sát thực
hiện việc kiểm tra tại chỗ hoạt động kinh
doanh của DNBH và sự tuân thủ của DNBH
đối với những yêu cầu của pháp luật cũng
như của cơ quan giám sát.
(50)
Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện
hành, việc giám sát DNBH dựa trên Hệ
thống chỉ tiêu giám sát đối với DNBH được
đồng BHNT chỉ có giá trị hoàn lại sau 02 năm. Còn trên
thực tế, các DNBH ở Việt Nam chỉ cung cấp các sản
phẩm BHNT (trừ bảo hiểm tử kì) có thời hạn bảo hiểm
từ 5 năm trở lên.
(8).Xem: Jérôme Yeatman, Giáo khoa quốc tế về bảo
hiểm, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2001, tr. 180.
(9). Trong một số sản phẩm bảo hiểm tử kì loại này,
DNBH giới hạn thời gian sống của người được bảo
hiểm là 99 hoặc 100 tuổi. Tuy nhiên người được bảo
hiểm thường không phải nộp phí cho đến thời điểm đó.
(10).Xem: “Quy chế triển khai sản phẩm bảo hiểm
liên kết chung” ban hành kèm theo Quyết định của Bộ
tài chính số 96/2007/QĐ-BTC ngày 23/11/2007.
(11).Xem: “Quy chế triển khai sản phẩm bảo hiểm
liên kết đơn vị” ban hành kèm theo Quyết định của nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 8/2011 37
Bộ tài chính số 102/2007/QĐ-BTC ngày 14/12/2007.
(12).Xem: Các điều từ 567 đến 578 Bộ luật dân sự
năm 2005.
(13).Xem: Điều L.321.10 Bộ luật bảo hiểm Cộng
hoà Pháp.
(14). Australia, Life Insurance Act 1995.
(15).Xem: Jérôme Yeatman, Sđd, tr. 397.
(16). IAIS (1998), Supervisory Standard on Licensing,
nguồn: www.iaisweb.org/__temp/Supervi sory_stand
ard_on_licensing.pdf
ngày 27/3/2007.
(30).Xem: Điều 17 Nghị định số 45/2007/NĐ-CP ngày
27/3/2007.
(31).Xem: Bộ tài chính, Luật bảo hiểm một số nước,
Nxb. Tài chính, Hà Nội, 1999, tr. 432 - 435.
(32).Xem: Điều 86, Điều 93 và các điều khác được
dẫn chiếu Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa
đổi năm 2010).
(33).Xem: Điều 31 đến 33 Nghị định số 45/2007/NĐ-CP
ngày 27/3/2007.
(34).Xem: Điều 4 Nghị định số 46/2007/NĐ-CP ngày
27/3/2007 quy định về chế độ tài chính đối với
DNBH và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
(35).Xem: Điều 19 Nghị định số 45/2007/NĐ-CP
ngày 27/3/2007.
(36). Phạm Thị Liên, “Bảo hiểm ngân hàng – Kênh
phân phối nhiều tiềm năng”, Tạp chí nghiên cứu kinh
tế, số 8 (303), 2003, tr. 28 - 33.
(37). Tuy nhiên, bancassuarance không phải là bất
hợp pháp vì Nghị định số 45/2007/NĐ-CP cho phép
có những kênh phân phối mà pháp luật không cấm
(điểm d khoản 1 Điều 17).
(38).Xem: Trần Vũ Hải, “Hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ - Những vấn đề lí luận và thực tiễn”, Luận văn thạc
sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2005, tr. 8.
(39).Xem: Jérôme Yeatman (2001), sđd, tr.84 – 85.
(40).Xem: Điều 178 Luật hợp đồng bảo hiểm Cộng
hoà Liên bang Đức năm 1994.
(41).Xem: Điều 13 Luật kinh doanh bảo hiểm năm