Tìm hiểu hệ thống pháp luật Cộng hoà Liên bang Đức
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - ĐẶC SAN 9/2011 69
Thu Lan Boehm *
rong hệ thống pháp luật của CHLB Đức,
luật gia đình là bộ phận chuyên ngành
của luật dân sự. Luật gia đình điều chỉnh các
quan hệ pháp luật giữa các cá nhân có liên
quan với nhau qua hôn nhân, qua quan hệ gia
đình và qua quan hệ huyết thống. Ngoài ra
luật gia đình cũng điều chỉnh các quan hệ
pháp luật thay thế quan hệ huyết thống có liên
quan đến chức năng đại diện theo pháp luật
như giám hộ, hỗ trợ pháp luật và bảo trợ.
Bài viết này giới thiệu tổng quát hệ
thống luật gia đình hiện hành ở CHLB Đức
được quy định ở quyển IV của Bộ luật dân
sự
(1)
(BLDS) của CHLB Đức.
1. Nguồn của luật gia đình CHLB Đức
1. Hiến pháp nước CHLB Đức
(2)
ghi nhận
sự bảo hộ đặc biệt của nhà nước đối với hôn
nhân và gia đình tại Điều 6.
2. Công ước châu Âu về nhân quyền
7. Luật tố tụng dân sự
(7)
quy định các thủ
tục tố tụng cho các vụ kiện về gia đình nếu
Luật về thủ tục tố tụng trong các vấn đề gia
đình và trong các vấn đề tự nguyện không có
những quy định khác.
8. Luật về thủ tục tố tụng trong các vấn
đề gia đình và trong các vấn đề tự nguyện
(8)
quy định những thủ tục tố tụng đặc biệt.
2. Lịch sử phát triển của luật gia đình
CHLB Đức từ năm 1900 đến nay
Theo BLDS (năm 1900) thì người chồng
là người đứng đầu và đại diện pháp lí cho
cả gia đình. Họ của người chồng là họ của
cả gia đình, người chồng quyết định nơi ở
của gia đình, đặt tên cho các con, quyết
định nghề nghiệp của các con và có nghĩa
vụ cấp dưỡng, đảm bảo cho vợ con cuộc
T
* Luật sư tại Toà án tối cao tiểu bang Rostock,
tiểu bang Mecklenburg-Vorpommern
Tìm hiểu hệ thống pháp luật Cộng hoà Liên bang Đức
70 TẠP CHÍ LUẬT HỌC - ĐẶC SAN 9/2011
sống đầy đủ về vật chất Người vợ có
quyền và nghĩa vụ thực hiện các công việc
xã hội đối với các giá trị tinh thần và vật chất
liên quan đến gia đình.
3. Nội dung của luật gia đình CHLB Đức
Các quy định về luật gia đình được tập
trung chủ yếu trong Quyển IV của BLDS và
được chia thành ba chương:
- Hôn nhân dân sự;
- Họ hàng;
- Giám hộ, chăm sóc pháp luật và hỗ trợ.
Như vậy, cấu trúc của Bộ luật đã thể hiện
rõ những mối quan hệ xã hội nào là đối
tượng của luật gia đình trong BLDS. Các
quan hệ giữa các bạn đời cùng giới tính được
quy định riêng trong Luật về bạn đời. Điều
này là có chủ ý, vì qua đó thấy rõ quan hệ
bạn đời có đăng kí không phải là hôn nhân
và vì thế không được đặt dưới sự bảo hộ của
Hiến pháp CHLB Đức (khoản 1 Điều 6 Hiến
pháp CHLB Đức ghi rõ: “ Nhà nước bảo
hộ hôn nhân và gia đình”. Các chủ thể chính
của luật gia đình là gia đình theo nghĩa hẹp
(gồm trẻ em và cha mẹ chúng), các cơ quan
liên quan như toà án gia đình, sở bảo vệ
người chưa thành niên và các cơ quan đỡ
đầu người chưa thành niên.
3.1. Hôn nhân dân sự
Chương hôn nhân dân sự có các mục sau:
- Đính hôn;
- Kết hôn;
- Huỷ kết hôn;
diện (số 2 khoản 1 Điều 1353 BLDS).
3.1.1. Đính hôn (được quy định từ Điều
1297 đến Điều 1302)
Đính hôn là dạng thoả thuận giữa hai bên
nam nữ là sẽ kết hôn trong tương lai song sự
thoả thuận này không có hiệu lực pháp lí,
không bên nào có thể qua tranh tụng bắt
buộc bên kia phải thực hiện thoả thuận. Tức
là sau khi đính hôn mà một bên không muốn
kết hôn nữa thì bên kia không thể ra toà án
kiện bắt bên kia phải thực hiện thoả thuận
này. Nếu một bên do tin vào sự kết hôn trong
tương lai mà có những chi tiêu cho việc đính
hôn hay những chi tiêu hợp lí khác cho cuộc
sống chung trong tương lai mà bên kia
không muốn kết hôn nữa thì họ có quyền đòi
bên không muốn kết hôn đền bù những phí
tổn này. Ngoài ra, hai người đã đính hôn với
nhau được pháp luật coi là người thân thích
của nhau và họ có quyền từ chối khai báo về
nhau trước toà án và cơ quan điều tra (Điều
383 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 52 Bộ
luật tố tụng hình sự). Chung sống với nhau
như vợ chồng không có giá thú không được
coi là đính hôn.
3.1.2. Kết hôn (được quy định từ Điều
1303 đến Điều 1312)
Kết hôn là sự tự nguyện xác lập quan hệ
vợ chồng giữa hai người nam và nữ theo quy
định của pháp luật và được nhà nước cho
Tìm hiểu hệ thống pháp luật Cộng hoà Liên bang Đức
72 TẠP CHÍ LUẬT HỌC - ĐẶC SAN 9/2011
2 Điều 1314) thì toà án có quyền huỷ việc
kết hôn theo yêu cầu của người bị lừa dối
hay bị đe dọa, của cơ quan có thẩm quyền
hay của người thứ ba có liên quan (người vợ
hay người chồng trong trường hợp chồng
hay vợ của họ kết hôn). Trong khi việc yêu
cầu huỷ kết hôn do trái với các điều từ Điều
1303 đến Điều 1312 không bị giới hạn về
thời gian thì thời hạn cho việc yêu cầu huỷ
kết hôn theo Điều 1314 khoản 2, số 4 là ba
năm khi người vợ hoặc chồng bị đe dọa, thời
hạn của các trường hợp khác trong khoản
này là một năm. Điều này là cần thiết để
nhanh chóng thiết lập sự rõ ràng cho tính
hợp pháp của việc kết hôn (Điều 1357
BLDS). Hậu quả pháp lí của huỷ kết hôn trái
pháp luật là hai người đã kết hôn không phải
là vợ chồng và không có trách nhiệm hay
quyền hạn xuất phát từ hôn nhân đối với
nhau. Trong một số trường hợp do luật định
(đặc biệt khi một người bị đe dọa hay bị lừa
dối) thì những quy định về chia tài sản hay
cấp dưỡng của li hôn được vận dụng có lợi
cho người bị đe dọa hay bị lừa dối.
3.1.4. Kết hôn sau khi có chồng hay vợ bị
tuyên bố là chết (được quy định tại Điều
1319 và Điều 1320): quy định về việc huỷ
quyền này là đặc thù của quan hệ hôn nhân.
Việc tranh luận về quyền này chỉ còn mang
tính chất hàn lâm từ khi Điều 177 Bộ luật
hình sự Đức được sửa đổi và việc cưỡng ép
chịu đựng tình dục trong hôn nhân qua bạo
lực hay đe dọa cũng là tội cưỡng dâm và
hiếp dâm.
(12)
Trong điều kiện lí tưởng, sự
mâu thuẫn giữa các quyền không tồn tại vì
vợ chồng còn có nghĩa vụ tôn trọng nhân
phẩm và chính kiến của nhau, chăm sóc và
giúp đỡ lẫn nhau, chung thuỷ với nhau.
- Vợ chồng chọn một họ chung cho cả gia
đình. Họ đó có thể là họ khai sinh hay họ do
hôn nhân lần trước mà có của người chồng
hay của người vợ. Người có họ khai sinh
không được chọn làm họ chung thì có thể để
họ khai sinh của mình vào trước hay sau họ
chung. Nếu không chọn họ chung thì vợ và
chồng vẫn giữ nguyên họ của mình và các
con chung khi sinh ra chỉ được mang họ của
bố hoặc mẹ. Đây là thay đổi có ý nghĩa rất
lớn đối với việc thực hiện quyền bình đẳng
nam nữ vì theo văn hoá phương Tây từ xưa
Tìm hiểu hệ thống pháp luật Cộng hoà Liên bang Đức
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - ĐẶC SAN 9/2011 73
đến nay, người nữ khi kết hôn phải bỏ họ
khai sinh của mình để mang họ của chồng.
tài sản của vợ hay chồng, kể cả tài sản có
được sau khi kết hôn, vẫn là tài sản riêng của
người ấy, mỗi người tự quản lí và chịu trách
nhiệm về tài sản của mình và chỉ cần ý kiến
đồng thuận của người kia khi muốn chuyển
nhượng toàn bộ tài sản của mình hay đồ vật
thuộc về đồ đạc trong nhà (các điều từ Điều
1363 đến Điều 1369 BLDS). Tài sản gia tăng
của vợ chồng chỉ được chia khi cộng đồng
gia tăng chấm dứt. Nếu chế độ cộng đồng
gia tăng bị chấm dứt vì người vợ hay chồng
chết thì sự chia tài sản gia tăng được thực
hiện qua việc phần thừa kế của người sống
được tăng thêm ¼. Nếu chế độ cộng đồng
gia tăng bị chấm dứt qua li hôn thì người nào
có phần tài sản gia tăng cao hơn sẽ phải chia
đôi phần nhiều hơn với người kia, để cho
phần gia tăng tài sản của hai vợ chồng trong
thời gian hôn nhân bằng nhau. Tài sản gia
tăng là sự chênh lệch về giá trị (tức là phần
gia tăng) của tài sản tính từ ngày kết hôn đến
ngày đơn xin li hôn được toà án gia đình thụ
lí. Những tài sản mà người vợ hay người
chồng nhận được từ cha mẹ hay họ hàng của
mỗi người như của hồi môn, thừa kế, quà
tặng riêng trong thời gian hôn nhân không
bị coi là phần gia tăng của tài sản khi li hôn.
Qua hợp đồng hôn nhân, vợ chồng có thể
thoả thuận không theo chế độ tài sản cộng
đồng gia tăng mà chọn chế độ tài sản sở hữu
dứt chế độ tài sản. Lúc đó tài sản sẽ chia đôi
giữa vợ chồng sau khi thanh toán hết những
nghĩa vụ chi trả. Trong trường hợp người vợ
hay chồng chết thì tài sản sẽ chia đôi giữa
người còn sống và các con sau khi thanh
toán hết những nghĩa vụ chi trả.
3.1.7. Li hôn
Li hôn (được quy định từ Điều 1564 đến
Điều 1587 BLDS) là sự kết thúc quan hệ hôn
nhân qua bản án của toà án. Khi nào bản án
li hôn chưa có hiệu lực pháp luật thì hôn
nhân vẫn còn tồn tại. Hôn nhân chỉ được kết
thúc khi hôn nhân đã tan vỡ, tức là vợ chồng
không còn gắn bó với nhau nữa và khả năng
đạt được mục đích của hôn nhân trong tương
lai là không còn, hay ít nhất là một người đã
hoàn toàn không còn tình cảm vợ chồng với
người kia nữa và hai vợ chồng đã sống li
thân ít nhất là một năm.
Đủ hai điều kiện này, toà án sẽ xử cho li
hôn khi cả vợ, chồng hoặc một trong hai
người yêu cầu li hôn và người kia đồng ý.
Nếu thời gian gian li thân kéo dài đã ba
năm thì toà án vẫn xử li hôn, ngay cả khi
một bên vợ hay chồng không đồng ý li hôn.
Nếu thời gian li thân chưa đến một năm
thì toà án chỉ cho li hôn khi có những lí do
đặc biệt làm cho sự tồn tại của hôn nhân là
không thể chấp nhận được đối với một bên
vợ hay chồng, ví dụ nếu một bên vợ hay
Tìm hiểu hệ thống pháp luật Cộng hoà Liên bang Đức
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - ĐẶC SAN 9/2011 75
- Giúp đỡ của sở bảo vệ người chưa
thành niên;
- Nhận con nuôi.
3.2.1. Quan hệ họ hàng (được quy định
từ Điều 1589 đến Điều 1590 (BLDS) phân
biệt họ hàng qua huyết thống và họ hàng
được thiết lập qua hôn nhân. Họ hàng được
thiết lập qua hôn nhân không bị xoá bỏ, ngay
cả khi cuộc hôn nhân tạo ra quan hệ họ hàng
này không còn tồn tại nữa. Song quan hệ họ
hàng này chỉ phát sinh một lần khi hôn nhân
còn tồn tại, ví dụ người chồng sau khi li hôn
vẫn là bố dượng của con riêng của vợ có
trước khi kết hôn nhưng nếu sau khi li hôn
mà người vợ có thêm con với người khác thì
người chồng đã li hôn không phải là bố
dượng của đứa trẻ mới sinh. Vợ chồng
không phải là họ hàng của nhau.
3.2.2. Nguồn gốc xuất thân: Quan hệ mẹ-
con và cha-con là mối quan hệ huyết thống
theo quy luật sinh học. Theo quy luật này,
đứa trẻ được thụ thai từ trứng của một người
phụ nữ và tinh trùng của một người đàn ông.
Những người này là cha mẹ của một đứa trẻ.
Từ trước tới nay, vấn đề khó của pháp
luật là xác định chính xác cha của đứa trẻ.
Với sự phát triển của khoa học, việc xác định
nhận quan hệ cha-con với đứa trẻ; hay c) Là
người được xác định là cha của đứa trẻ qua
quyết định của toà án gia đình. Quan hệ cha-
con được xác định theo hai trường hợp a) và
b) có thể được huỷ bỏ theo yêu cầu trước toà
án gia đình.
Những người có quyền yêu cầu huỷ bỏ
quan hệ cha con là người được nhận là cha
theo trường hợp a) và b), người đã thề tuyên
thệ là đã quan hệ với người mẹ trong thời kì
thụ thai pháp định, người mẹ, người con và
các cơ quan liên quan (ví dụ sở bảo vệ người
chưa thành niên). Thời hạn cho việc yêu cầu
huỷ bỏ quan hệ cha-con là hai năm nhưng
đối với từng chủ thể khác nhau thì thời hạn
bắt đầu từ những thời điểm khác nhau. Ví dụ
nếu những người đại diện cho đứa trẻ để lỡ
thời hạn quy định cho họ thì khi đứa trẻ 18
tuổi nó có quyền yêu cầu xoá bỏ quan hệ cha
Tìm hiểu hệ thống pháp luật Cộng hoà Liên bang Đức
76 TẠP CHÍ LUẬT HỌC - ĐẶC SAN 9/2011
con. Trong trường hợp này, thời hạn cũng là
hai năm nhưng không bắt đầu trước thời
điểm thành niên của đứa trẻ và không bắt
đầu trước thời điểm đứa trẻ được biết những
tình tiết để cho rằng người được nhận làm
cha không phải là cha nó.
Hậu quả của việc huỷ bỏ là quan hệ cha
con coi như không có từ thời điểm đứa trẻ
lợi ích chính đáng của trẻ em, chứ không
phải là cơ sở pháp lí cho quyền lực đơn
thuần của cha mẹ đối với con (“quyền sinh,
quyền sát”). Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ
bao gồm các quyền và nghĩa vụ về nhân thân
và về tài sản đối với con. Trong cả lĩnh vực
nhân thân và tài sản, cha mẹ là người đại
diện pháp lí của con cái. Các quyền và nghĩa
vụ về nhân thân bao gồm quyền đặt họ, tên
cho con, quyền quyết định về tôn giáo, chỗ
ở, quốc tịch, quyền đại diện theo pháp luật
Các quy định của luật gia đình Đức về họ
của đứa trẻ rất cụ thể và khá nghiêm ngặt.
Cha mẹ chỉ được lựa chọn họ cho đứa con
theo các quy định từ Điều 1616 đến Điều
1617c. Nếu cha mẹ khi kết hôn đã chọn họ
chung của gia đình thì họ này cũng là họ của
đứa trẻ. Nếu không có họ chung của gia
đình, có nhiều quy định khác nhau như cha
mẹ cùng nhất trí chọn họ của người mẹ hay
của người cha cho đứa trẻ hoặc khi không có
sự nhất trí thì toà án gia đình có thể can thiệp
theo yêu cầu. Trong một đời người, họ của
một người có thể thay đổi nhiều lần (ví dụ
qua kết hôn, qua việc huỷ bỏ quan hệ cha-
con hay qua việc được nhận làm con nuôi),
chỉ có tên gọi là không được thay đổi.
Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền quản lí tài
sản của con. Riêng khi định đoạt về bất động
sản hay toàn bộ tài sản hay tài sản thừa kế
nghĩa vụ của cha mẹ, dẫn đến nguy cơ phát
sinh nguy hại về sức khoẻ, tinh thần, giáo dục
và tài sản của con và cha mẹ không chấp
nhận sự giúp đỡ của sở bảo vệ người chưa
thành niên thì toà án gia đình phải ra quyết
định về các biện pháp để ngăn chặn hậu quả,
cụ thể là hạn chế hoặc tước quyền và nghĩa
vụ của cha mẹ của những bậc cha mẹ này.
Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ chấm dứt
khi đứa con đủ 18 tuổi hay bị chết.
3.2.4. Giúp đỡ của sở bảo vệ người chưa
thành niên: Sở bảo vệ người chưa thành niên
có trách nhiệm giúp đỡ cha mẹ trong việc
chăm sóc và giáo dục con. Đặc biệt sở bảo
vệ người chưa thành niên có trách nhiệm hỗ
trợ người mẹ sinh con ngoài giá thú trong
việc xác định quan hệ cha-con và việc kiện
đòi tiền nuôi con (được quy định từ Điều
1712 đến Điều 1717 BLDS). Sở bảo vệ
người chưa thành niên là người giám hộ cho
đứa trẻ sinh ngoài giá thú, nếu mẹ đứa trẻ
chưa đến tuổi thành niên.
3.2.5. Nhận con nuôi: Quan hệ giữa cha
mẹ và con cũng có thể phát sinh qua hành vi
pháp lí nhận nuôi con nuôi (được quy định
từ Điều 1741 đến Điều 1766 BLDS).
BLDS phân biệt nuôi con nuôi chưa
thành niên và nhận con nuôi trưởng thành.
Mục đích của việc nuôi con nuôi chưa
thành niên là đem lại cho đứa trẻ cuộc sống
có thể làm đơn bổ sung xin nhận con đẻ của
bạn đời của mình làm con nuôi. Trong
trường hợp này, đứa trẻ sẽ có một cha hay
mẹ đẻ và một cha hay mẹ nuôi.
c) Đơn xin nhận con nuôi độc lập dành
cho những người độc thân.
B) Sự đồng ý của chính cha mẹ đẻ của
đứa trẻ được nhận làm con nuôi. Giấy đồng ý
cho con chỉ có giá trị một lần cho người cụ
thể muốn nuôi con nuôi và mất hiệu lực nếu
sau ba năm việc nhận con nuôi không được
tiến hành, hoặc đơn xin nuôi con nuôi bị bác
hoặc người muốn nuôi con nuôi rút đơn. Giấy
đồng ý cho con chỉ có giá trị pháp lí khi đứa
trẻ ít nhất là tám tuần tuổi. Giấy đồng ý cho
con của người cha ngoài giá thú không phải
theo thời hạn này mà có thể có giá trị pháp lí
từ trước khi đứa trẻ sinh ra. Trong những
trường hợp đặc biệt như cha mẹ đẻ vi phạm
thường xuyên quyền, trách nhiệm của cha mẹ
hay không có năng lực dân sự hay bị mất
tích hay đứa trẻ tự đặt đơn xin thì toà án gia
đình có quyền cấp phép thay cha mẹ đẻ.
C) Sự đồng ý của chính đứa trẻ được
nhận làm con nuôi nếu trẻ đã tròn 14 tuổi.
Đối với trẻ dưới 14 tuổi hay chưa có đầy đủ
năng lực hành vi dân sự thì người đại diện
pháp lí của đứa trẻ kí giấy đồng ý.
D) Sự đồng ý của vợ hay chồng hay bạn đời.
Đ) Việc nhận nuôi con nuôi phải phù hợp
là sự có lợi do sự nuôi con nuôi đem lại thì
toà án sẽ không cho phép nuôi con nuôi. Ảnh
hưởng về lợi ích vật chất được quan tâm
nhưng không phải là yếu tố quyết định, ví dụ
do việc nhận con nuôi thì tiền cấp dưỡng hay
phần thừa kế của các con khác sẽ bị giảm đi.
Điều này chưa đủ để coi việc nhận nuôi con
nuôi là có hại lớn cho lợi ích chính đáng của
các con khác. Song việc nhận nuôi con nuôi
sẽ không được toà án cho phép nếu qua việc
nhận thêm con, người nuôi con nuôi sẽ
không đủ khả năng trả tiền cấp dưỡng ở mức
tối thiểu cho các con khác.
(17)
Đơn xin nhận con nuôi và tất cả các giấy
phép đồng ý đều phải được công chứng viên
xác nhận.
Tìm hiểu hệ thống pháp luật Cộng hoà Liên bang Đức
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - ĐẶC SAN 9/2011 79
Điều kiện để nhận con nuôi trưởng thành
có những điểm khác sau: Cả người nhận
nuôi và người được nhận là con nuôi phải
đặt đơn xin nhận con nuôi và giữa các bên đã
phải có quan hệ cha mẹ và con thân thiết và
quan hệ này không được trái với thuần
phong mĩ tục. Việc nhận nuôi con nuôi cũng
không được trái với lợi ích chính đáng của
người thứ ba, cụ thể là con của người nhận
nghĩa vụ này và điều này không trái với lợi
ích chính đáng của người con.
Quan hệ cha-con hay mẹ-con bị huỷ bỏ
nếu người nhận nuôi con nuôi kết hôn trái
pháp luật với con nuôi hay con của người con
nuôi. Các quan hệ họ hàng khác phát sinh từ
việc nuôi con nuôi vẫn tiếp tục tồn tại.
(18)
3.2.6. Các nguyên tắc về cấp dưỡng: CHLB
Đức có chính sách an sinh xã hội toàn diện.
Về nguyên tắc, việc đảm bảo cuộc sống ổn
định cho mỗi người dân là nhiệm vụ của
toàn xã hội, được thực hiện thông qua Nhà
nước. Người dân chỉ có nghĩa vụ cấp dưỡng
cho nhau nếu họ có quan hệ thân thiết với
nhau hơn là quan hệ xã hội nói chung. Quan
hệ gia đình là quan hệ như vậy nên các thành
viên trong gia đình có nghĩa vụ trợ cấp cho
nhau. Song nghĩa vụ này chỉ phải thực hiện
nếu người cấp dưỡng không tự lâm vào cảnh
túng thiếu vì phải thực hiện cấp dưỡng.
Các quy định về cấp dưỡng là mảng vấn
đề phức tạp của luật gia đình và có nhiều
điều liên quan đến các ngành luật khác như
luật trợ cấp xã hội, các quy định về lương
hưu trí, bảo hiểm
Luật gia đình Đức điều chỉnh những
quan hệ cấp dưỡng sau:
- Nghĩa vụ cấp dưỡng theo trực hệ
nhau chỉ còn tính chất đạo đức (được quy
định ở Điều 1569 BLDS).
Trong những trường hợp sau, luật định
nghĩa vụ cấp dưỡng vì nhu cầu cấp dưỡng là
hậu quả của hôn nhân: a) Không đi làm được
vì phải chăm sóc con chung; b) Không đi
làm được vì tuổi đã cao khi li hôn; c) Không
đi làm được vì có bệnh hay tật nguyền; d)
Không đi làm được vì không tìm được việc
làm phù hợp; đ) Không đi làm được vì phải
đi học tiếp để có nghề nghiệp cho trường
hợp người vợ hay người chồng vì kết hôn
nên đã bỏ học; e) Có nhu cầu cấp dưỡng vì
thu nhập sau khi li hôn không đủ để giữ mức
sống như mức sống phù hợp của gia đình
(trước khi li hôn).
- Những quan hệ cấp dưỡng kể trên cũng
được áp dụng có lợi cho người bị đe dọa hay
bị lừa dối khi kết hôn sau khi cuộc hôn nhân
bị huỷ (được quy định ở Điều 1318 BLDS).
- Người cha của đứa trẻ sinh ngoài giá
thú có trách nhiệm cấp dưỡng người mẹ của
đứa trẻ (được quy định ở Điều 1615 BLDS).
Các điều kiện để phát sinh cấp dưỡng:
- Có người có nhu cầu cấp dưỡng: Người
có nhu cầu cấp dưỡng là người không thể tự
tạo cho mình mức sống thích hợp bằng tài
sản và thu nhập của mình. Trẻ em có quyền
được cha mẹ cấp dưỡng mà không cần tiêu
dùng vào tài sản của mình. Trẻ em luôn được
- Hỗ trợ pháp lí;
- Bảo trợ.
Đây là ba chế định điều chỉnh các quan
hệ pháp luật thay thế quan hệ huyết thống
trực hệ có liên quan đến chức năng đại diện
theo pháp luật.
3.3.1. Người giám hộ là cá nhân hay tổ
chức được toà án gia đình giao quyền để
thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền cũng
như lợi ích hợp pháp của người chưa thành
niên, khi người này không còn cha mẹ hoặc
cha mẹ không có quyền đại diện cho con cả
về nhân thân và tài sản. Người giám hộ cũng
được chỉ định nếu không xác định được cha
mẹ của người chưa thành niên (trẻ bị bỏ rơi).
Chế định giám hộ được quy định từ Điều
1773 đến Điều 1895 BLDS.
Toà án gia đình có nghĩa vụ chỉ định người
giám hộ khi điều kiện giám hộ phát sinh. Toà
án gia đình chọn người có đủ điều kiện về
nhân thân, tài sản và đủ khả năng thực hiện
việc giám hộ. Các yếu tố quan trọng khác như
ý muốn giả định của cha mẹ, quan hệ cá nhân
hay họ hàng với người được giám hộ và tôn
giáo của người được giám hộ phải được quan
tâm khi toà án gia đình lựa chọn người giám
hộ. Trong khi lựa chọn người giám hộ, toà án
gia đình nghe ý kiến của họ hàng của người
được giám hộ nếu việc này không đòi hỏi quá
nhiều thời gian hay quá tốn kém.
kiểm tra người giám hộ. Về nguyên tắc, thực
hiện việc giám hộ mang tính danh dự và
không được trả tiền. Đối với những người
giám hộ chuyên nghiệp thì tiền công của họ
được quy định riêng.
Việc giám hộ chấm dứt khi những yếu tố
phát sinh giám hộ không còn nữa (ví dụ cha
mẹ của người được giám hộ được trao lại
quyền trách nhiệm cha mẹ, người được giám
hộ chết, hay người được giám hộ đạt tuổi
Tìm hiểu hệ thống pháp luật Cộng hoà Liên bang Đức
82 TẠP CHÍ LUẬT HỌC - ĐẶC SAN 9/2011
trường thành, hay người được giám hộ được
nhận làm con nuôi ). Toà án gia đình ra
quyết định chấm dứt việc giám hộ.
3.3.2 Hỗ trợ pháp lí: Từ năm 1992, chế
định giám hộ được thay thế bằng chế định hỗ
trợ pháp lí đối với người trên 18 tuổi, do có
bệnh tâm thần, bị khuyết tật về thân thể, trí
óc hay tinh thần và vì thế không nhận thức
và tự thực hiện được hoàn toàn hay từng
phần những hành vi của mình. Chế định hỗ
trợ pháp lí được quy định từ Điều 1896 đến
Điều 1908 k BLDS. Toà án quyết định người
hỗ trợ nếu giám định viên y tế xác định sự
cần thiết của hỗ trợ pháp lí. Nhóm lớn nhất
của những người cần sự hỗ trợ pháp lí là
những người mắc các bệnh về trí não khi cao
tuổi như bệnh Alzheimer.
Người được hỗ trợ pháp lí có thể yêu
cầu toà án thay người hỗ trợ hay kiểm tra,
mở rộng, thu hẹp và kết thúc hỗ trợ pháp lí
vào bất cứ lúc nào. Toà án có nghĩa vụ kiểm
tra yêu cầu này. Bình thường thời gian hỗ
trợ là bảy năm. Sau thời gian này, toà án
kiểm tra sự cần thiết của hỗ trợ mà không
cần yêu cầu và theo kết quả kiểm tra sẽ mở
rộng, thu hẹp, tiếp tục không thay đổi hay
kết thúc hỗ trợ pháp lí.
3.3.3. Bảo trợ: Bảo trợ là chế định được
quy định nhằm chỉ định người đại diện pháp
lí cho một hay nhiều người trong lĩnh vực
hay vụ việc cụ thể. Bảo trợ cho người chưa
thành niên được áp dụng trong trường hợp
người chưa thành niên chưa đủ khả năng và
người đại diện pháp lí của họ (cha mẹ hay
giám hộ) cũng không được phép hay không
đủ khả năng để bảo vệ quyền và lợi ích
chính đáng của người chưa thành niên trong
lĩnh vực hay vụ việc cụ thể. Người bảo trợ
chỉ là đại diện pháp lí cho người được bảo
trợ trong lĩnh vực họ được chỉ định. Chế
định bảo trợ được quy định từ Điều 1909 đến
Điều 1921 trong BLDS. Luật định những
trường hợp sau phải có người bảo trợ:
- Bảo trợ bổ sung cho người chưa thành
niên trong trường hợp người này được thừa
kế hay được tặng cho tài sản mà người thừa
kế hay người tặng cho ra điều kiện là cha mẹ
Gia đình là thể chế có từ thời sơ khai của
cộng đồng xã hội và luôn tồn tại cùng với xã
hội. Cùng với chính sách gia đình của chính
phủ, luật gia đình Đức luôn được hoàn thiện
để tạo điều kiện thích hợp cho sự phát triển
của gia đình trong xã hội hiện đại đồng thời
vẫn đảm bảo để gia đình có thể hoàn thành
chức năng đặc thù của mình là nơi duy trì sự
sinh tồn của loài người và là tổ ấm của mỗi
thành viên, là nơi con người được sinh ra,
được yêu thương, được nuôi dưỡng, chăm
sóc và được giáo dục./.
(1). Nguyên văn bằng tiếng Đức là Buergerliches
Gesetzbuch, viết tắt là BGB. Việc chuyển ngữ tên gọi
các bộ luật, các văn bản pháp luật và các thành ngữ
pháp lí chỉ mang tính quy ước để làm việc trong khuôn
khổ của bài viết này. Để tiện cho so sánh và nghiên
cứu, tên các văn bản pháp luật được đề cập trong bài
này đều được chú thích nguyên văn bằng tiếng Đức.
(2). Nguyên văn bằng tiếng Đức là Grundgesetz der
Bundesrepublik Deutschland.
(3). Nguyên văn bằng tiếng Đức là Europaeische
Menchenrechtskonvention.
(4). Nguyên văn bằng tiếng Đức là UNO –
Kinderkonvention.
(5). Nguyên văn bằng tiếng Đức là Gesetz zur
Beendigung der Diskriminierung gleichgeschlechtlicher
Lebenpartnerschaften năm 2001.