LUẬN VĂN:
Kế toán TSCĐ và phân tích tình hình
trang bị và sử dụng TSCĐ trong công ty
Điện lực TP Hà Nội Lời nói đầu
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, tất cả các doanh nghiệp SXKD dù lớn hay
nhỏ cũng đều phải quan tâm tới sức lao động, tư liệu lao động và vốn. TSCĐ là
những tư liệu lao động thể hiện ở cơ sở vật chất, trình độ kỹ thuật, trình độ công
nghệ, năng lực SX và thế mạnh của mỗi doanh nghiệp khi tham gia vào các hoạt
động SXKD . TSCĐ giữ một vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất tạo ra sản
phẩm và cũng là cơ sở vật chất vô cùng quan trọng trong quá trình sản xuất và tái sản
Những lý luận cơ bản về kế toán TSCĐ và phân tích tình hình trang bị và sử
dụng TSCĐ trong doanh nghiệp
1.1 ý nghĩa,vai trò và nhiệm vụ của kế toán TSCĐ
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của TSCĐ
TSCĐ là bộ phận quan trọng nhất, là một trong 3 yếu tố cơ bản của quá trình
SXKD của doanh nghiệp. TSCĐ là cơ sơ vật chất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân
và không thể thiếu đối với mọi quốc gia, mọi doanh nghiệp sản xuất cũng như doanh
nghiệp thương mại.
- Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 16 (IAS16) tài sản được sử dụng trong
quá trình sản xuất, cung cấp hàng hoá dịch vụ hoặc cho các mục đính hành chínhvà
có thời gian sử dụng nhiều hơn một kỳ kế toán gọi là TSCĐ.
TSCĐ bao gồm toàn bộ các tư liệu lao động và các tài sản có giá trị lớn và thời
gian sử dụng lâu dài mà người ta dùng nó để tác động vào làm thay đổi đối tượng lao
động. Theo nghĩa rộng hơn thì tư liệu lao động còn bao gồm cả những điều kiện vật
chất không trực tiếp tham gia vào quá tình sản xuất nhưng không thể thiếu được, hay
nếu thiếu thì quá tình sản xuất kinh doanh sẽ bị hạn chế như đất đai, cầu cống, đường
xá….
Theo quy định số 166/1999/QD.BTC ngày 30/12/1999 của Bộ tài chính; mọi tư liệu
lao động được coi là TSCĐ khi nó thoả mãn đồng thời cả hai yếu tố: có giá trị từ
5.000.000 đ trở lên và có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên. Những tư liệu lao động
không có đủ tiêu chuẩn trên được coi la công cụ lao động nhỏ, được hạch toán trực
tiếp hoặc được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2 Vai trò và yêu cầu quản lý TSCĐ trong doanh nghiệp
1.1.2.1 Vai trò:
Trong lịch sử phát triển nhân loại, các cuộc cách mạng công nghiệp đều tập trung vào
giải quyết các vấn đề cơ khí hoá, điện khí hoá tự động hoá của quá trình sản xuất gắn
liền với đổi mới cải thiện TSCĐ, tự động hoá của quá trình sản xuất gắn liền với đổi
mới cải thiện TSCĐ. TSCĐ là cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp, nó phản ánh
quản lý thì phải tổ chức hạch toán TSCĐ hợp lý và khoa học. 1.2 - Phân loại và đánh giá TSCĐ.
1.2.1 - Phân loại TSCĐ.
Trong doanh nghiệp TSCĐ rất đa dạng cả về số lượng cũng như hình thái biểu
hiện tính chất công dụng và tình hình sử dụng khác nhau Để thuận tiện cho công
tác quản lý và hạch toán TSCĐ thì cần phân loại TSCĐ theo những đặc trưng nhất
định.
Phân loại TSCĐ là việc phân chia toàn bộ TSCĐ hiện có theo những tiêu thức
nhất định nhằm phục vụ cho nhu cầu quản lý, có nhiều cách phân loại TSCĐ khách
nhau. Nhưng trong phạm vi cho phép của bài tôi chỉ xin nêu một số biện pháp tiêu
biểu, cụ thể như sau:
a.) Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện:
Theo cách phân loại này TSCĐ được chia làm hai loại: TSCĐ hữu hình và
TSCĐ vô hình.
TSCĐ hữu hình : Là những tư liệu lao động có đủ tiêu chuẩn giá trị và thời gian
sử dụng theo chế độ quy định, có hình thức vật chất cụ thể : nhà cửa máy móc
thiết bị, phương tiện vận tải truyền dẫn, thiết bị dụng cụ dùng cho quản lý vườn
cây lâu năm, xúc vật làm việc
TSCĐ vô hình : Là những tài sản không có hình thái cụ thể nhưng lại đại diện
trong một quyền hợp pháp nào đó và người chủ được hưởng quyền lợi kinh tế.
TSCĐ vô hình gồm : Quyền sử dụng đất, chi phí phù hợp doanh nghiệp, bằng
phát minh sáng chế, chi phí nghiên cứu phát triển, lợi thế thương mại và các
TSCĐ vô hình khác.
b.) Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu :
Căn cứ vào quyền sở hữu, TSCĐ của doanh nghiệp được chia làm 2 loại :
TSCĐ tự có và TSCĐ đi thuê.
TSCĐ tự có : Là những doanh nghiệp được xây dựng, mua sắm hoặc chế tạo bằng
nguồn vốn của doanh nghiệp do ngân sách nhà nước cấp, do đi vay của Ngân
- TSCĐ được đầu tư mua sắm bằng vốn liên doanh.
- TSCĐ được đầu tư mua sắm bằng nguồn vốn đi vay.
d) Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng :
Tuỳ theo mục đích sử dụng, TSCĐ được phân loại thành :
TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh cơ bản : Đó là những TSCĐ được sử dụng
trực tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp sử dụng trực tiếp
cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Nó bao gồm nhà
xưởng,vật kiến trúc, thiết bị động lực, truyền dẫn
TSCĐ dùng ngoài sản xuất kinh doanh cơ bản: Đó là những TSCĐ dùng cho các
hoạt động sản xuất kinh doanh phụ và phụ trợ, các TSCĐ không có tính chất sản
xuất kinh doanh và tài sản cố định cho thuê.
TSCĐ chưa dùng hoặc không cần dùng : Là những TSCĐ dùng để dự trữ, không
phù hợp với cơ cấu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
TSCĐ chờ thanh toán và chờ giải quyết : Là những TSCĐ đã hư hỏng hoặc quá
lạc hậu chờ quyết định thanh lý.
Ngoài các cách phân loại TSCĐ trên, TSCĐ còn có thể phân loại theo một số
cách khác như theo đặc trưng kỹ thuật
1.2.2 Đánh giá TSCĐ .
Đánh giá TSCĐ là việc xác định giá trị ghi sổ của TSCĐ tại từng thới điểm nhất
định, TSCĐ được đánh giá lần đầu và có thể được đánh giá lại trong quá trình sử
dụng. Xuất phát từ đặc điểm, yêu cầu quản lý TSCĐ trong quá trình sử dụng. TSCĐ
được đánh giá theo nguyên giá, giá trị hao mòn và giá trị còn lại.
a) Đánh giá TSCĐ theo nguyên giá :
- Theo thông lệ quốc tế thì : "Nguyên giá TSCĐ bao gồm : Giá mua, thuê, chi phí
hoa hồng và tất cả các chi phí trực tiếp khác liên quan tới việc nhận TSCĐ như chi
phí vận chuyển, chạy thử để cho tài sản vào vị trí sẵn sàng hoạt động".
- Theo kế toán Việt Nam : "Nguyên giá TSCĐ là giá trị thực tế của TSCĐ ở thời
điểm đưa TSCĐ vào sử dụng ở đơn vị" bao gồm các chi phí liên quan đén việc xây
dựng, mua sắm TSCĐ , các chi phí vận chuyển, lắp đặt chạy thử và các chi phí cần
về vị trí kinh doanh, về danh tiếng và uy tín với bạn hàng, về trình độ tay nghề người
lao động, về tài điều hành của ban quản lý doanh nghiệp.
Đối với TSCĐ thuê tài chính.
- Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính phản ánh ở các đơn vị thuê tài chính là
nguyên giá ở đơn vị : Phần chênh lệch giữa tổng số tiền thuê TSCĐ phải trả với
nguyêngiá TSCĐ (nếu có) là số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.
b) Giá trị còn lại của TSCĐ :
- GIá trị còn lại của TSCĐ = nguyên giá - giá trị đã hao mòn.
Nguyên giá và giá trị đã hao mòn (số đã trích khấu hao) được lấy theo số liệu kế
toán hoặc được tính bằng giá trị thực tế còn lại theo nguyên giá.
Trường hợp nguyên giá TSCĐ được đánh giá lại thì :
Giá trị còn lại Giá trị còn lại (Nguyên giá mới) của TSCĐ
Của TSCĐ sau khi = của TSCĐ trước khi x
đánh giá lại đánh giá lại ( Nguyên giá cũ) của TSCĐ
Cũng có thể giá trị còn lại sau khi đánh giá lại TSCĐ được xác định bằng giá
trị thực tế còn lại theo thời gian biên bản kiểm kê và đánh giá lại TSCĐ .
1.3 Nội dung kế toán TSCĐ và phân tích tình hình trang bị TSCĐ ở công ty.
1 3.1. Hạch toán chi tiết TSCĐ .
Mọi trường hợp tăng hoặc giảm TSCĐ phải lập đầy đủ thủ tục chứng từ, hồ sơ của
TSCĐ như : Biên bản giao nhận TSCĐ, biên bản thanh lý TSCĐ, nhượng bán TSCĐ,
biên bản đánh giá lại TSCĐ theo mẫu quy định của Bộ Tài chính. Khi tăng TSCĐ ,
phải lập hồ sơ cho TSCĐ gồm cả hồ sơ kế toán và hồ sơ kỹ thuật. Hồ sơ kỹ thuật do
phòng kỹ thuật lập và quản lý. Hồ sơ kế toán bao gồm :
+)Hợp đồng kinh tế.
+) Hoá dơn GTGT (hoặc hoá đơn bán hàng).
+) Biên bản nghiệm thu kỹ thuật TSCĐ .
+) Biên bản giao nhận TSCĐ .
Ngoài ra kế toán còn sử dụng Tài khoản 411,214,111,112,331…và nhiều tài
khoản liên quan khác.
Kế toán tăng TSCĐ hữu hình , vô hình trong một số trường hợp chủ yếu.
TSCĐ của doanh nghiệp tăng có rất nhiều nguyên nhân như : Tăng do mua
sắm, do xây dựng cơ bản hoàn thành, do nhận góp vốn liên doanh,được biếu tặng,
cấp phát, đặc nhượng, quyền sử dụng đất, chi phí phát sinh liên quan đến quá tình
thành lập doanh nghiệp, đầu tư nghiên cứu Đối với doanh nghiệp, tính thuế GTGT
theo phương pháp khấu trừ thì nguyên giá của TSCĐ không có thuế GTGT, nếu
doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp thuế trực tiếp thì nguyên giá TSCĐ
bao gồm cả thuế GTGT. Nếu TSCĐ không được tài trợ bởi các nguồn vốn như nguồn
vốn đầu tư phát triển,nguồn vốn xây dựng cơ bản, quỹ khen thưởng, phuc lợi thì đồng
thời bút toán ghi tăng TSCĐ phải ghi bút toán chuyển nguồn.
Sơ đồ hạch toán tổng quát tăng TSCĐ HH,VH
TK
TK 211,213
-
TSCĐ
TK 133
-
VAT kh
ấu
Thu
ế GTGT
Mua s
ắm mới
Quỹ phát triển phúc
l
ợi
TK 128,222
Nhận lại vốn góp liên doanh
TK
Các trường hợp tăng khác
TK 153
-
Nếu công cụ dụng cụ còn mới
TK 142
-
CF tr
ả
Công cụ dụng cụ
đang dùng
NGuyên gía TSCĐ HH,VH tăng trong cùng kỳ
Kế toán tổng hợp giảm TSCĐ hữu hình, vô hình.
- TSCĐ hữu hình, vô hình của doanh nghiệp do giảm nhiều nguyên nhân khác
nhau như do thanh lý, nhượng bán tài sản, khấu hao hết, do góp vốn liên
doanh Đối với những TSCĐ không cần dùng hoặc xét thấy quá lạc hậu về mặt kỹ
thuật, doanh nghiệp có quyền nhượng bán. Việc nhượng bán TSCĐ nhằm thu hồi
Giá trị hao
mòn
TK 821
Giá trị
còn l
ại
(theo giá trị còn lại)
TK 1381 - TK thiếu
ch
ờ xử lý
Giá trị góp vốn liên doanh
đư
ợc xác nhận
TK
Trả lại vốn góp liên doanh, vốn cổ
ph
ần
v
ốn cấp phát
TK 411
-
Khoản chênh lệch giữa giá
tr
Kế toán tổng hợp tăng, giảm TSCĐ thuê tài chính. Sử dụng tài khoản 212 -
TSCĐ thuê tài chính.
Ngoài ra, kế toán còn sử dụng tài khoản 142,342 …
1.3.2.3.1.Kế toán tổng hợp tăng, giảm TSCĐ đi thuê tài chính.
Trong hình thức thuê tài chính, bên đi thuê ghi sổ kế toán giá trị TSCĐ theo nguyên
giá tại thời điểm đi thuê như là đã được mua và ghi nhận một khoản nợ dài hạn toàn
bộ giá trị hợp đồng thuê (bao gồm nguyên giá TSCĐ thuê được xác định theo giá trị
hiện tại của hợp đồng thuê và phần tiền lãi vốn thuê tài sản). Chế độ kế toán hiện
hành của Việt Nam quy định, hạch toán phần lãi vốn thuê tài sản và chi phí trả ttrước,
không tính vào nguyên giá TSCĐ thuê. Mà nguyên giá của TSCĐ ở đơn vị đi thuê
tài chính phản ánh ở phần chênh lệch giữa tổng số nợ phải trả theo hợp đồng thuê và
tổng tiền lãi thuê mà đơn vị phải trả. Trong quá tình sử dụng, bên đi thuê có trách
nhiệm quản lý, bảo quản, sửa chữa như TSCĐ của doanh nghiệp đồng thời tiến hành
trích khấu hao vào chi phí SXKD trong kỳ tương ưngs với thời gian sử dụng. Tiền lãi
trả cho bên cho thuê phản ánh vào chi phí quản lý doanh nghiệp. Định kỳ bên đi thuê
phải thanh toán tiền cho bên cho thuê theo hợp đồng
Để theo dõi tình hình đi thuê TSCĐ thuê tài hình, kế toán sử dụng TK212- TSCĐ
thuê tài chính,Tk2142,142,342….
TSCĐ thu
ế
Trả lại TSCĐ
cho bên cho
113315111
Kế toán TSCĐ cho thuê tài chính.
Nghiệp vụ cho thuê tài chính được hạch toán như một khoản đầu tư dài hạn
khác (tài khoản 228) (nêú trong chế độ hiện hành, theo quyết định 166/1999/QĐ -
BTC ngày 30/12/1999 về việc ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao
TSCĐ thì các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không có chức năng cho thuê tài
chính. Chỉ có công ty thuê mua tài chính mới thực hiện chức năng này. Vì vậy, tại
doanh nghiệp sẽ không hạch toán TSCĐ cho thuê tài chính.
Hạch toán TSCĐ thuê hoạt động.
Mọi hợp đồng thuê TSCĐ nếu không thoả mãn ít nhất một trong bốn tiêu
chuẩn về thuê tài chính thì được coi là TSCĐ thuê hoạt động.
a) Đối với đơn vị đi thuê hoạt động.
Đối với nguyên giá của TSCĐ đi thuê sẽ hạch toán qua tài khoản 001 "TSCĐ
thuê ngoài". Đây là một tài khoản ghi đơn, phản ánh giá trị tài sản đi thuê ngoài.
- Chi phí trả cho bên cho thuê sẽ được tính vào chi phí của bộ phận sử dụng tài
sản đi thuê đó.
hao. Như vậy, hao mòn TSCĐ được hiểu là sự giảm dần về mặt giá trị của TSCĐ
trong quá trình TSCĐ tham gia vào sản xuất kinh doanh. Có hai hình thức hao mòn
TSCĐ .
- Hao mòn hữu hình : Là hao mòn về mặt vật chất của TSCĐ do tác động của
môi tường gây nên trong quá trình sử dụng.
- Hao mòn vô hình : Là hiện tượng bị giảm giá do lỗi thời về mặt kinh tế hoặc
do tiến bộ về khoa học kỹ thuật có thể chế tạo được các TSCĐ hiện đại hơn.
Hao mòn là một phạm trù trừu tượng mang tính tất yếu, khách quan và không
thể tách khỏi đối với bất kỳ TSCĐ nào, bất kỳ doanh nghiệp nào. Do đó, doanh
nghiệp nhất thiết phải thu hồi vốn đầu tư TSCĐ đảm bảo khả năng hoạt động liên tục
của doanh nghiệp.
1.3.3.2. Khấu hao TSCĐ .
Để thu hồi giá trị hao mòn TSCĐ, người ta tiến hành trích khấu hao. Khấu hao
TSCĐ là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá TSCĐ vào chi
phí kinh doanh tương ứng với thời gian sử dụng TSCĐ.
Về mặt giá trị : Giá trị hao mòn thì một hiện tượng khchs quan làm giảm giá trị và giá
trị sử dụng của TSCĐ thì khâú hao là một biện pháp chủ quan nhằm thu hồi giá trị đã
hao mòn của TSCĐ để thực hiện tái đầu tư TSCĐ.
Về mặt kinh tế : Khấu hao cho phép doanh nghiệp phản ánh được giá trị thực của tài
sản một cách tương đối chính xác, đồng thời làm giảm lợi nhuận ròng của doanh
nghiệp.
Về mặt tài chính : Khấu hao là một phương tiện giúp doanh nghiệp thu hồi được bộ
phận giá trị đã mất của TSCĐ, chính là luồng tiền vào doanh nghiệp trong tương lai.
Về mặt thuế khoá : Do khấu hao là một khoản chi phí nên nó làm giảm lợi nhuận và
do đó giảm thuế thu nhập phải nộp vào doanh nghiệp.
Về mặt kế toán : Sử dụng khấu hao để phản ánh hao mòn là đem lại cái cụ thể (khấu
hao trong thời gian bao lâu với số tiền bao nhiêu để phản ánh cái trừu tượng).
Việc trích khấu hao phải đảm bảo một số nguyên tắc sau :
- Khấu hao theo nguyên tắc tròn tháng ; TSCĐ tăng trong tháng này, tháng sau mới
đơn giản sau đây :
Nguyên giá TSCĐ
Mức khấu hao = = Nguyên giá x Tỷ lệ khấu hao
Bình quân năm. Thời gian sử dụng TSCĐ TSCĐ năm. Mức khấu hao bình quân năm
Mức khấu hao =
Bình quân tháng 12 (tháng)
Tỷ lệ khấu hao hàng năm được tính như sau :
1
Tỷ lệ khấu hao = X 100
Thời gian sử dụng mức của TSCĐ Mức khấu hao bình quân năm
=
Nguyên giá TSCĐ
Ưu điểm : Theo phương thức này mức khấu hao được phân bổ đều đặn vào chi phí
hàng năm trong suốt thời gian sử dụng TSCĐ, tính toán đơn giản, chính xác và dễ
tính, thích hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có số lượng TSCĐ ít. Do đó, nó
đảm bảo cho doanh nghiệp có mức chi phí và lợi nhuận ổn định trong mỗi năm.
Nhược điểm : Khả năng thu hồi vốn đầu tư chậm nên việc tái đầu tư TSCĐ không
kịp thời và dễ bị tổn thất do hao mòn vô hình.
Tuy nhiên, do ưu điểm đơn giản, dễ tính và cả do thói quen hiện nay phương pháp
này đang được sử dụng rộng rãi ở nước ta. Nó thích hợp với những doanh nghiệp
giá TSCĐ
Số khấu hao
TK'154 TK'641 Tk'642 1 2 3 4 5 6 7 8
…. …. ….
Người lập biểu Ngày tháng năm 200
(Ký, họ tên) Kế toán trưởng
(Ký, họ tên).
Trình tự kế toán khấu hao TSCĐ được khái quát theo sơ đồ sau.
Đối với sửa chữa lớn TSCĐ.
Công việc sửa chữa lớn thường có chi phí sửa chữa nhiều và được tiến hành theo
kế hoạch, dự toán theo từng công trình sửa chữa. Vì vậy, để giám sát chặt chẽ chi phí
và giá thành công trình sửa chữa lớn, các chi phí này trước hết phải được tập hợp ở
tài khoản 241 - Xây dựng cơ bản dở dang (2143 - Sửa chữa lớn TSCĐ ) chi tiết cho
từng công trình, từng công tác sửa chữa lớn căn cứ vào các chứng từ tập hợp chi phí.
-Khi công trình sử chữa lớn hoàn thành, giá trị thực tế công trình sửa chữa
hoàn thành được kết chuyển vào tài khoản chi phí trả trước hoặc chi phí phải trả về
sửa chữa lớn TSCĐ.
- Nếu doanh nghiệp áp dụng trích trước chi phí sửa chữa lớn, thì trước tiên, đơn vị
lập kế hoạch dự toán kinh phí sửa chữa. Khi công việc sửa chữa hoàn tất, nếu chi
phí sửa chữa thực té phát sinh nhỏ hơn chi phí dự toán thì phải ghi giảm chi phí
trích trước, ngược lại, nếu chi phí thực tế lớn hơn chi phí dự toán thì phải trích
thêm
- Trường hợp không trích trước chi phí sửa chữa, thì để khôi phục sự hoạt động của
TSCĐ, doanh nghiệp phải tiến hành sửa chữa ngay vì trong trương hợp này công việc
sửa chữa có tính bất thường như máy hỏng bất thường, nhà cửa hỏng do bão lụt…
nếu không sửa chữa kịp thời sẽ gây rất nhiều tổn thất cho doanh nghiệp.
Trình tự sửa chữa lớn TSCĐ có thể khái quát theo sơ đồ dưới đây:
Kế toán nghiệp vụ sửa chữa lớn TSCĐ
TK
TK
Chí phí
s
ửa chữa tự
làm
Chi phí sửa