LUẬN VĂN:
Quan hệ phân phối ở nước ta
hiện nay Lời nói đầu
Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Trong nền kinh tế đó thì vị trí của việc phân phối là hết sức quan trọng. Nhưng do
hạn chế của sinh viên năm thứ 2 nên ta chỉ tập chung nghiên cứu vấn đề phân phối thu
nhập ở nước ta hiện nay.
Trong nền kinh tế thị trường phân phối thu nhập giữ một vị trí hết sức quan trọng.
Phân phối thu nhập nối liền sản xuất với sản xuất, sản xuất với tiêu dùng, nối liền các thị
trường hàng hoá tiêu dùng, dịch vụ với thị trường yếu tố sản xuất làm cho sự vận động
của kinh tế thị trường diễn ra thông suốt. Giải quyết tốt vấn đề phân phối thu nhập có ý
nghĩa to lớn đối với sự ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế. Mặt khác để ổn định và
tăng trưởng nền kinh tế chúng ta phải cải cách lưu thông, phân phối mới dần thoát khỏi
tình trạng khủng hoảng, lạm phát và từng bước có sự tăng trưởng, phát triển.
Phân phối bao gồm: phân phối cho tiêu dùng sản xuất (sự phân phối tư liệu sản
xuất, sức lao động của xã hội vào các ngành sản xuất) là tiên đề, điều kiện và là một yếu
tố sản xuất, nó quyết định quy mô, cơ cấu và tốc độ phát triển của sản xuất. Phân phối thu
nhập quốc dân hình thành thu nhập của các tầng lớp dân cư trong xã hội. Phân phối thu
nhập là kết quả của sản xuất, do sản xuất quyết định. Tuy là sản vật của sản xuất, song sự
phân phối có ảnh hưởng không nhỏ đối với sản xuất: có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự
phát triển của sản xuất. Ph. Ăngghen viết: " Phân phối không phải chỉ đơn thuần là kết
quả thụ động của sản xuất và trao đổi": nó cũng có tác động trở lại đến sản xuất và trao
đổi". Nó cũng có liên quan mật thiết với việc ổn định tình hình kinh tế - xã hội và nâng
cao đời sống nhân dân.
Như vậy, phân phối là phân phối tổng sản phẩm xã hội và phân phối thu nhập
quốc dân và nó được thực hiện dưới các hình thái; phân phối hiện vật và phân phối dưới
hình thái giá trị (phân phối qua quan hệ tài chính, quan hệ tín dụng ) 1.1.2. Phân phối là một mặt của quan hệ sản xuất
C. Mác đã nhiều lần nêu rõ quan hệ phân phối cũng bao hàm trong phạm vi quan
hệ sản xuất: " quan hệ phân phối về thực chất cũng đồng nhất với quan hệ sản xuất ấy,
rằng chúng cấu thành mặt sau của quan hệ sản xuất ấy". Xét về quan hệ giữa người và
người thì phân phối do quan hệ sản xuất quyết định. Vì vậy, mỗi phương thức sản xuất có
quy luật phân phối của cải vật chất thích ứng với nó. Quan hệ sản xuất như thế nào thì
quan hệ phân phối như thế ấy. Cơ sở của quan hệ phân phối là quan hệ sở hữu về tư liệu
sản xuất và quan hệ trao đổi hoạt động cho nhau. Sự biến đổi lịch sử của các lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất xét theo sự biến đổi của quan hệ phân phối. Quan hệ phân
phối có tác dụng trở lại đối với quan hệ sở hữu và do đó đói với sản xuất: có thể làm tăng
hoặc giảm quy mô sở hữu, hoặc cũng có thể làm biến dạng tính chất của quan hệ sở hữu.
Các quan hệ phân phối vừa có tính đồng nhất, vừa có tính lịch sử. Tính đồng nhất thể
hiện ở chỗ, trong bất cứ xã hội nào, sản phẩm lao động cũng được phân chia thành: một
bộ phận cho tiêu dùng sản xuất, một bộ phận để dự trữ và một bộ phận cho tiêu dùng
chung của xã hội và cho tiêu dùng cá nhân. Tính lịch sử của quan hệ phân phối là mỗi xã
khác nhau về thu nhập.
Vì vậy, không thể có một hình thức phân phối thu nhập thống nhất, trái lại có
nhiều hình thức khác nhau.
1.2.2. Các hình thức phân phối thu nhập trong thời kỳ chủ nghĩa xã hội
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta đã khẳng định và Đại hội
Đảng lần thứ IX cũng tiếp tục khẳng định điều đó: " Thực hiện hình thức phân phối, lấy
phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa
trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất - kinh doanh và phân phối
thông qua phúc lợi xã hội".
Một là: Phân phối theo lao động: Phân phối theo lao động là phân phối trong các đơn vị kinh tế dựa trên cơ sở sở
hữu công cộng về tư liệu sản xuất (kinh tế Nhà nước) hoặc các hợp tác xã cổ phần mà
phần góp vốn của các thành viên bằng nhau (kinh tế hợp tác). Các thành phần kinh tế này
đều dựa trên chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất ở các trình độ khác
nhau. Người lao động làm chủ những tư liệu sản xuất, nên tất yếu cũng làm chủ phân
phối thu nhập. Vì vậy, phân phối phải vì lợi ích của người lao động.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và ngay cả trong giai đoạn thấp của chủ
nghĩa cộng sản, tức là chủ nghĩa xã hội cũng chưa thể thực hiện phân phối theo nhu cầu
cũng không thể phân phối bình quân mà chỉ có thể phân phối theo lao động.
Tất yếu phải thực hiện phân phối theo lao động trong các đơn vị kinh tế thuộc
thành phần kinh tế dựa trên cơ sở công hữu về tư liệu sản xuất là vì:
- Lực lượng sản xuất phát triển chưa cao, chưa đến mức có đủ sản phẩm để phân
phối theo nhu cầu. Vì phân phối do sản xuất quyết định, cho nên C. Mác đã viết: " Quyền
không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hoá của xã
hội do chế độ kinh tế đó quyết định".
- Sự khác biệt về tính chất và trình độ lao động dẫn tới việc mỗi người có sự cống
hiến khác nhau, do đó phải căn cứ vào lao động đã cống hiến cho xã hội của mỗi người
để phân phối.
- Thúc đẩy mọi người nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy nâng cao năng suất
lao động, xây dựng tinh thần và thái độ lao động đúng đắn, khắc phục những tàn dư tư
tưởng cũ, củng cố kỷ luật lao động
- Thúc đẩy mọi người nâng cao trình độ nghề nghiệp, trình độ văn hoá, ổn định lao
động, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức lao động xã hội.
- Tác động mạnh đến đời sống vật chất và văn hoá của người lao động, vừa đảm
bảo tái sản xuất sức lao động vừa tạo điều kiện cho người lao động phát triển toàn diện.
Phân phối theo lao động là hợp lý nhất, công bằng nhất so với các hình thức phân
phối đã có trong lịch sử. Cơ sở của sự công bằng xã hội của sự phân phối đó là sự bình
đẳng trong quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất.
Tuy vậy, theo C. Mác, phân phối theo lao động về nguyên tắc vẫn là sự bình đẳng
trong khuôn khổ "pháp quyền tư sản", tức là sự bình đẳng trong xã hội sản xuất hàng hoá,
theo nguyên tắc sự trao đổi hoàn toàn ngang giá. Sự bình đẳng ở đây được hiểu theo
nghĩa quyền của người sản xuất là tỷ lệ với lao động mà người ấy đã cung cấp; sự bình
đẳng đó còn thiếu sót là "với một công việc ngang nhau và do đó, với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực tế, người này vẫn lĩnh nhiều hơn
người kia, người này vẫn giàu hơn người kia".
Phân phối theo lao động còn có những hạn chế nhưng đó là những hạn chế không
thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chỉ khi nào cùng với sự
phát triển toàn diện của cá nhân, năng suất của họ càng tăng lên và tất cả các nguồn của
cải xã hội đều tuôn ra dồi dào thì khi đó người ta mới có thể vượt ra khỏi giới hạn chật
hẹp của cái pháp quyền tư sản và xã hội mới có thể thực hiện phân phối theo nhu cầu. Chỉ
khi đó mới có sự bình đẳng thật sự.
Hai là: Phân phối theo vốn
ở nước ta đang tồn tại nhiều thành phần kinh tế với sự đa dạng các hình thức sở
hữu và các hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh. Do đó, ngoài hình thức phân phối
theo lao động, trong thời kỳ quá độ còn tồn tại các hình thức phân phối thu nhập khác. Đó
là:
hoa, phô trương hình thức. Vì các quỹ này có quan hệ đến lợi ích thiết thân của mỗi
thành viên tập thể, cộng đồng, cho nên cần phát huy đầy đủ dân chủ, trưng cầu ý kiến của
quảng đại quần chúng, sao cho mỗi loại phúc lợi đều thích hợp với nhu cầu bức thiết của
quần chúng, phát huy được tác dụng vốn có của nó.
- Quỹ phúc lợi xã hội là bộ phận của chính sách xã hội cần được giải quyết theo
tinh thàn xã hội hoá. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt; đồng thời động viên mỗi người dân,
các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham
gia đóng góp.
1.3. Từng bước thực hiện công bằng xã hội trong phân phối thu nhập
Chủ nghĩa xã hội phát triển mới có điều kiện để thực hiện một bước cơ bản về
công bằng xã hội trong phân phối thu nhập.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa từ một
nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và
lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá theo định hướng XHCN, thì vẫn còn sự
tồn tại bất bình đẳng về phân phối thu nhập. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi
phải tạo ra những tiền đề, những biện pháp để từng bước thu hẹp và xoá bỏ sự bất bình
đẳng đó, tiến tới một xã hội: "không có chế độ người bóc lọt người, một xã hội bình
đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động, ai làm nhiều thì hưởng nhiều,
làm ít hưởng ít, không làm không hưởng.
Để đạt mục tiêu này, từ thực tiễn nước ta, cần phải thực hiện: Thứ nhất, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, bởi như Ph.Ăngghen, phương
thức phân phối về căn bản là phụ thuộc vào số lượng sản phẩm được phân phối.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện chính sách tiền công, tiền lương, chống chủ nghĩa bình
quân và thu nhập bất hợp lý, bất chính.
Để từng bước thực hiện phân phối công bằng hợp lý, cần có chính sách phân phối
bảo đảm thu nhập của những người lao động có thể tái sản xuất sức lao động. Gắn chặt
tiền công, tiền lương với năng suất, chất lượng và hiệu quả sẽ đảm bảo quan hệ hợp lý về
thu nhập cá nhân giữa các ngành nghề. Nhgiêm trị những kẻ có thu nhập bất chính, cần
hợp pháp mà còn tạo điều kiện, giúp đỡ bằng nhiều biện pháp.
Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang
ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động. Mọi công dân đều được tự do hành
nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật, phát triển dịch vụ việc làm. Phân bố lại dân
cư và lao động trên địa bàn cả nước. Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao
động. Tạo điều kiện cho mọi người lao động tự tạo, tìm kiếm việc làm.
Thực hiện xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, bảo hiểm xã hội và các hoạt
động nhân đạo, từ thiện. Để từng bước đạt tới sự tiến bộ và công bằng xã hội trong phân
phối thu nhập, xuất phát từ điều kiện cụ thể, nhiệm vụ trước mắt là phải thực hiện tốt
chương trình xoá đói giảm nghèo, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào
dân tộc thiểu số. Chương II
Thực trạng quan hệ phân phối và một số
giải pháp nhằm hoàn thiện quan hệ phân phối
ở nước ta hiện nay
2.1. Thực trạng
Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập chung quan liêu bao cấp
sang nền kinh tế hàng hoá với kinh tê hàng hoá nhiều thành phần, tất yếu phải đổi mới
chính sách kinh tế - xã hội cũ trước đây cho phù hợp vớ cơ câu cơ chế mới của nền kinh
tế. Trong đó việc thay đổi về vấn đề phân phối thu nhập là rất quan trọng. Trong đó chính
sách tiền lương, tiền công là đặc biệt quan trọng. Để có cơ sở cho việc đổi mới đó,
trước hết cần phải đánh giá đúng thực trạng của các chính sách đó. Trên cơ sở đó mới có
thể đưa ra những phương hướng giải quyết trong thời gian tới.
2.1.1. Việc phân phối qua hệ thống tiền lương của nhà nước có nhiều điểm bất
hợp lý.
Tiền lương tối thiểu điều chỉnh thấp không đủ chi cho nhu cầu thiết yếu của người
lao động và gia đình họ, về lý thuyết thì xây dựng các mức tiền lương tối thiểu nhu cầu
năm 1993 đến hết năm 1998, giá cả đã tăng lên tới gần 50%, tưc là tới thời điểm cuối
năm 1998 mức lương thực tế đã giảm đi một nửa so với thời điểm áp dụng chính sách
tiền lương mới theo nghị định 25/CP, mặc dù Nhà nước đã nâng mức lương tối thiểu từ
120.000 đồng / tháng lên 144.000 đồng / tháng. 180.000 đồng / tháng và210.000/ tháng (
từ 1/1/ 2002) để điều chỉnh những bất hợp lý trong chính sách tiền lương cho phù hợp
hơn thực tiễn cuộc sống.
Chính sách tiền lương có nhiều điểm bất hợp lý giữa các khu vực các bộ phận
cũng như các đơn vị sản xuất kinh doanh trong nội bộ khui vực doanh nghiệp nhà nước.
Ví dụ, tình trạng bất hợp lý giữa các khu vực thể hiện ở việc xếp các khu vực nghiên cứu
và triển khai vào từng ngạch bậc với khu vực hành chính sự nghiệp. Tiền lương trong nội
bộ khu vực doanh nghiệp nhà nước có rất nhiều vấn đề cần giải quyết. Ví dụ, có những
doanh nghiệp chỉ đạt mức lương tối thiểu 200.000 đồng – 300.000 đồng/ tháng. Trong
khi mức lương ở một số doanh nghiệp có sản phẩm độc quyền trên 2 triệu đồng/ tháng.
Ngoài ra ở nước ta đang tồn tại sự không bình đẳng trong việc trả lương lao động
ở một số nghành nghề kinh doanh. Theo loại hình doanh nghiệp hay theo khu vực kinh tế. Số liệu điều tra cho thấy nghành có thu nhập cao nhất hiện nay là nghành dịch vụ ( tài
chính, ngân hàng, kinh doanh vàng bạc, khách sạn và du lịch )
Ngành có thu nhập thấp nhất là khu vực quản lý nhà nước ( quận, huyện, sở ban
ngành) , thu nhập bình quân lao động của ngành dịch vụ năm 1994 là 17,07 triệu đồng
năm 1995 là 24,01 tiệu đồng năm 1996 là 28,68 triệu đồng. Trong lúc thu nhập bình quân
năm của lao động ở khu vực quản lý nhà nước chỉ đạt 4,58 triệu năm 1994; 5,21 triệu
năm 1995, và 5,51 triệu năm 1996. Như vậy thu nhập bình quân của một lao động ở khu
vực quản lý kinh doanh dịch vụ cao cấp 5,2 lần thu nhập bình quân của một lao động ở
khu vực quản lý nhà nước, các ngành còn lại có thu nhập bình quân cao gấp 2,1 lần đến
2,5 lần thu nhập bình quân cuả lao động công chức thuộc khu vực quản lý Nhà nước.
2.1.2. Hệ thống chính sách liên quan đến phân phối thu nhập ngoài lĩnh vực
tiền lương của nhà nước có vai trò hết sức to lớn đối với tăng trưởng kinh tế và công
bằng xã hội, nhưng chưa được nhìn nhận đúng mức và chưa chuyển biến kịp với quá
cao. Vùng đồng bằng sông hồng là 7,07%. Vùng Đông – Bắc là 6,78%; Vùng Bắc –
Trung bộ là 6,82%; Vùng tây nguyên là 5,55% các tỉnh, thnhf phố lớn tỉ lệ thất nghiệp
giảm đi. Hà nội tỷ lệ thất nghiệp là 7,95% năm 2000 giảm xuống còn 7,39% năm 2001
Tỷ lệ về thời gian lao động được sử dụng ở khu vực nông thôn; 74,37% tăng hơn so với
năm 2000. Như vậy, thời gian qua nhờ có sự cố gắng của Đảng, nhà nước và cộng đồng
xã hội trong việc phát triển kinh tế – xã hội tạo ra nhiều việc làm mới, nên tỷ lệ thất
nghiệp và thiếu việc làm ở cả khu vực đô thị và khu vực nông thôn vẫn còn ở mức cao,
đây vẫn đang là vấn đề bức xúc cần giải quyết.
2.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quan hệ phân phối ở nước ta hiện nay.
2.2.1. Cải cách tiền lương trong giai đoạn tới
Nhiều năm qua chúng ta tiến hành sản xuất tiền lương theo nội quy trình ngược,
lấy ngân sách làm chuẩn. Để từ đó tìm mọi giải pháp thực hiện dần dần cho đến khi mức
lương phù hợp với giá trị sức lao động. Hậu quả của việc thực hiện quy trình ngược là
hơn một thập niên qua,dù đã điều chỉnh nhiều lần, mức lương vẫn chỉ dao động trên dưới
30% giá trị sức lao động. Những nhà quản lý tài chính ngân sách, tiền tệ biện minh trước
các kỳ họp quốc hội là do thiếu ngân sách, thiếu tiền nên không thể tăng lương do tăng
năng xuất lao động với việc trượt lương theo giá do yêu cầu cải cách giá đặt ra để đảm bảo đồng lương thực tế. Đó là nguyên nhân dẫn đến kéo dài sự vi phạm quy luật giá trị
sức lao động và nó đang gây ra tiêu cực trên mọi lĩnh vực hoạt động đời sống xã hội.
Để đảm bảo tính khoa học của cải cách tiền lương, đề nghị phải chuyển sang thực
hiện quy trình thuận. Tức là phải xây dựng mức lương tối thiểu phù hợp với giá trị sức
lao động làm chuẩn, sau đó tiến hành các giải pháp tạo nguồn thu để từng bước thực hiện
mức lương chuẩn đã xác định.
- Phải làm cho tiền lương thực sự trở thành giá cả của sức lao động:
Hiện nay ở Việt Nam thị trường sức lao động đang được hình thành sức lao động
cũng trở thành hàng hoá, người lao động có quyền tự do lựa chọn nơi làm việc đáp ứng
các nhu cầu, khả năng của mình theo đúng hợp đồng lao động. Trong nền kinh tế thị
trường tiền lương thực sự là giá cả của sức lao động, điều đó đỏi hỏi phải tính đúng, tính
phát huy quyền tự chủ của các tổ chức kinh tế trong lĩnh vực lao động. Tiền lương tối
thiểu thống nhất là công cụ cần thiết để bảo hộ giá trị sức lao động cho những người lao
động không phân biệt đó là thành phần kinh tế nào.
Nhà nước cần sớm luật pháp hoá tiền lương tối thiểu nhằm ngăn ngừa và giải
quyết các chanh chấp giữa các giới chủ và thợ. Buộc những người sử dụng lao động phải
tìm cách khác để giảm chi phí, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, bảo vệ cho người làm
công ăn lương. Việc luật pháp hoá tiền lương tối thiểu bao gồm việc xác định mức lương,
tiền lương cụ thể và phải điều chỉnh nó trong từng thời kỳ theo đà phát triển của sản xuất
và mức tăng của năng suất lao động, đồng thời cũng điều chỉnh trong từng thời gian
những mức lương tối thiểu áp dụng cho từng vùng khác nhau.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý phân phối tiền lương cho người lao động.
Vì nguồn tiền lương ở hệ thống trả lương khác nhau nên có cơ chế quản lý phân
phối nó khác nhau.
+ Đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh cụ thể là các doanh nghiệp quốc doanh,
nguồn tiền chi trả không phải từ ngân sách mà phải từ kết quả sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp này. Ngân sách Nhà nước phải tiếp tục việc cắt hẳn những khoản chi
bao cấp về tiền lương và thu nhập. Các doanh nghiệp này sau khi bù đắp các chi phí,
hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách, tổng thu nhập còn lại của doanh nghiệp do doanh
nghiệp toàn quyền sử dụng, phần chia cho các quỹ, Xí nghiệp. Nhà nước cần thực hiện
việc kiểm soát và điều tiết tổng thu nhập các doanh nghiệp.
+ Trong lĩnh vực hành chính sự nghiệp: Nhà nước trả lương phải trên cơ sở biên
chế nghiêm ngặt và tiếp tục thực hiện việc khoán quỹ lương.
Trong lĩnh vực này thực hiện khoán quỹ lương theo khối lượng công việc Nếu thực hiện mạnh mẽ việc sáng lọc, sa thải và thực hiện tuyển dụng lại theo quy
chế mới với phương châm chú ý chất lượng, trình độ, hạn chế dần số lượng, tiến tới tinh
giảm bộ máy đến mức tối ưu.
* Cải cách hành chính, sắp xếp lại bộ máy bầu cử tránh trung lặp sửa đổi pháp
lệnh công chức xác định rõ chức danh làm căn cứ trả lương công chức hành chính và cán
của thời đại, phải tự giác bắt tay vào xây dựng xã hội mới, không trông chờ hoàn cảnh
chín muồi đến mà phải biết tạo hoàn cảnh". Vai trò này thuộc về bộ tham mưu Đảng -
Nhà nước - người tổ chức, dắt dìu mọi hoạt động xã hội phải triển khai thực hiện những
vấn đề dưới đây:
- Nước ta phải xây dựng cho được cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, bằng con
đường công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Đồng thời ta phải đón đầu để hình
thành những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiên tiến của khoa học công nghệ thế giới
tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế.
Đảm bảo cho thành phần kinh tế quốc doanh phát triển, hỗ trợ đắc lực cho nền kinh tế tập
thể, tạo ra cơ sở kinh tế xã hội để thực hiện phân phối và mở rộng phân phối theo lao
động trong xã hội từng bước thực hiện công bằng xã hội.
- Phải đặc biệt chú ý tới vai trò của Nhà nước, tổ chức bộ máy Nhà nước và những
con người được tuyển dụng đảm trách công việc Nhà nước ở đây chỉ đưa ra những yêu
cầu đào tạo, tuyển dụng cán bộ nhân viên Nhà nước trước đòi hỏi mới của đất nước.
- Cần đổi mới tận gốc quan niệm và phương pháp công tác cán bộ, từ khâu đánh
giá tuyển chọn sử dụng bố trí cán bộ nhất là cán bộ chủ chốt. Đã qua rồi cái thời con
người chỉ biết chấp hành máy móc và theo chỉ thị mệnh lệnh như một chiếc máy. Cuộc
sống mới đòi hỏi phải tập trung được trong bộ máy Nhà nước những con người có tài
đức, nhìn xa thấy rộng, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tính toán hiệu quả, giữ nguyên
kỷ cương, phép nước.
- Phải dân chủ hoá công tác cán bộ mới trách được những tư thù, phe cánh, họ
hàng, gia thế, bè phái mới đề cao được yêu cầu tuyển chọn thận trọng công tâm.
- Tất cả phải gắn lại với công tác đào tạo bồi dưỡng theo nguồn chức danh, yêu
cầu sử dụng - không đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học; học để thực hành; thực
hành và học kỹ lưỡng theo quy trình thuận nghịch như vậy khó có được đội ngũ cán bộ
vừa hồng vừa chuyên đảm đang việc nước. Những con người như bác Hồ dạy là " công
bậc của dân, nghĩa là ghánh vác việc chung của dân, chứ không phải để đè đầu dân".
Người còn dạy "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa".
việc phân bổ nguồn lực đầu vào thông qua các chương trình phát triển kinh tế – xã hội. Ba là, có được hệ thống đảm bảo trợ giúp xã hội đối với những người già, không nơi
nương tựa, gặp rủi ro, khó khăn hoạn nạn để họ có mức sống bình thường tìm cơ hội
tham gia vào hoạt động kinh tế, có được thu nhập hoặc có thể sống được hết cuộc đời còn
lại của mình.
Phồn thịnh là đặc trưng phân biệt CNXH khoa học với các thứ CNXH là phải nói
tới nền kinh tế ngày càng phát triển ở đó có nhiều hàng hoá và dịch vụ để đáp ứng nhu
cầu ngày càng gia tăng của con người, Trong phân phối thu nhập, phồn thịnh thể hiện ở
chỗ thu nhập ở các yếu tố sản xuất không chỉ bù đắp những hao phí đã chi ra như hao
mòn máy móc, thiết bị nhà xưởng, tiêu hao sức lực, mất giá của vốn, giảm sút của mầu
mỡ đất đai và thể hiện ở chỗ có được ngày càng nhiều hơn phần thu nhập giành cho tích
luỹ. Điều này có nghĩa là, các yếu tố sản xuất được tái sản xuất mở rộng sức lao động
ngày càng được nâng cao về trình độ, sức khoẻ, chuyên môn nghiệp vụ, sự phát triển toàn
diện. Đất đai, điều kiện tự nhiên như môi trường được bảo toàn tái tạo và nâng độ mầu
mỡ. Vốn được bảo tồn và ngày càng được tăng về quy mô. Năng lực quản lý kinh doanh
ngày càng được nâng cao và hoàn thiện.
Văn minh là sự phản ánh toàn diện các tiêu chuẩn đặc trưng của một chế độ xã hội
có trình độ phát triển cao. Đó là thước đo, là tiêu chuẩn của xã hội sau so với xã hội
trước. Xã hội phong kiến văn minh hơn xã hội nô lệ. Xã hội tư bản văn minh hơn xã hội
phong kiến. CNXH văn minh hơn CNTB. Đó là quy luật tự nhiên của sự phát triển các
phương thức sản xuất xã hội.
Văn minh thể hiện ở mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội, trong đó có lĩnh vực
phân phối thu nhập. Văn minh trong phân phối thu nhập không chỉ phản ánh ở sự phân
phối ngày càng bình đẳng hơn, phồn thịnh hơn mà còn thể hiện ở chỗ chế độ phân phối
ngày càng tiếp cận với quy luật hơn, đáp ứng đúng đắn nhu cầu và lợi ích của con người.
Từ những đặc trưng như vậy, phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường ở
nước ta cần tuân theo các nguyên tắc sau đây.
Thứ nhất, phân phối thu nhập theo quyền sở hữu các yếu tố sản xuất tức là người
ở Việt Nam.
Kết luận
Phân phối thu nhập đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường.
Nó nối liền sản xuất với sản xuất, sản xuất với tiêu dùng, nối liền các thị trường trong nền
kinh tế. Chế độ phân phối đúng đắn góp phần thúc đẩy tốc độ phát triển và tăng trưởng
kinh tế đồng thời đảm bảo được sự bình đẳng xã hội. Trong kinh tế thị trường, phân phối
thu nhập được xác định theo nguyên tắc sở hữu, năng suất giới hạn và phương tiện cung
cầu. Điều đó đảm bảo trả công và trả giá đúng đắn sự đóng góp của các yếu tố sản xuất.
Song phân phối thu nhập một cách tự phát tất yếu đến sự phân hoá bất bình đẳng. Vì vậy
cần có sự can thiệp của Nhà nước.
Lý thuyết phân phối thu nhập của các nhà kinh tế học được thực tiễn thừa nhận và
vận dụng một cách rộng rãi trong các nước có nền kinh tế thị trường mà đặc biệt gần gũi
với Việt Nam là các nước ASEAN. Nhưng lý thuyết đó cần được tiếp tục nghiên cứu và
vận dụng vào nước ta cho phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Nhà
nước.
ở nước ta trong những năm qua đã có nhiều sự cố gắng để giải quyết vấn đề phân
phối thu nhập. Đặc biệt rõ nét là từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường đến nay. Hàng
hoá các chính sách kinh tế được áp dụng để giải quyết vấn đề tiền lương, lợi nhuận, lợi
tức, địa tô, bảo hiểm, trợ cấp xã hội Nhằm tháo gỡ những khó khăn trong phân phối lưu