Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Dương - KD44
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây khi nền kinh tế nước ta chuyển sang kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước, các doanh nghiệp được coi là những đơn vị kinh tế tự chủ từ khâu
sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm. Ba vấn đề chính là: Sản xuất cái gì? Sản
xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Hiện được các doanh nghiệp quan tâm để
đạt được hiệu quả cao nhất trên cơ sở nguồn lực sẵn có của mình. Đó chính là
cả một quá trình mà các doanh nghiệp cần nghiên cứu để đưa ra những sản
phẩm, hàng hoá phù hợp với nhu cầu của thị trường, để thúc đẩy quá trình sản
xuất của xã hội nói chung và của doanh nghiệp nói riêng.
Hiện nay trong nền kinh tế thị trường khách hàng là một trong những
nhân tố quan trọng quyết định tới quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp và các đơn vị sản xuất khác. Nhiệm vụ quan trọng của
các doanh nghiệp là phải nắm bắt được các nhu cầu về thị trường từ đó có
định hướng cho sản xuất của doanh nghiệp mình, sản xuất sản phẩm mà thị
trường cần phù hợp với nhu cầu thị trường trong từng khoảng thời gian,
không gian nhất định.
Trong mấy năm gần đây, cùng với ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi của
nước ta đã không ngừng phát triển và đã đạt được kết quả đáng kể. Đó là sự
khởi đầu trong việc triền khai chương trình phát triển chăn nuôi, đưa ngành
chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính của Hội nghị lần thứ VI Ban chấp
hành Trương ương Đảng khoá VIII và nghị quyết 06 NQ/TW của Bộ Chính
trị. Trong đó ngành chăn nuôi gia cầm đã góp phần vào sự phát triển của
ngành chăn nuôi cả về số lượng và chất lượng sản phẩm. Chăn nuôi gia cầm
là một loại hình chăn nuôi phổ biến trong hộ gia đình Việt Nam là một số mô
hình trang trại, xí nghiệp, doanh nghiệp . Với những đặc điểm nổi bật là nó
phù hợp với điều kiện xã hội, tự nhiên, điều kiện địa lý... của nước ta.
1
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Dương - KD44
Để góp phần thúc đẩy quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gà giống
của Công ty trong thời gian tới, được sự phân công của khoa Kinh tế và phát
triển nông thôn, được sự đồng ý của ban lãnh đạo Công ty giống gia cầm
Lương Mỹ, dưới sự hướng dẫn của thầy Đặng Văn Tiến chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm gà giống
thương phẩm tại Công ty giống gia cầm Lương Mỹ- Chương mỹ - Hà Tây".
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu tình hình thực trạng tiêu thụ sản phẩm của Công
ty để đề ra giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm cho Công ty.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
+ Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về thị trường và tiêu thụ sản
phẩm trong nền kinh tế thị trường
+ Tìm hiểu đánh giá thực trạng tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
của công ty.
+ Phân tích các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ sản
phẩm của công ty.
+ Định hướng và đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh tiêu thụ
sản phẩm cho công ty ngày càng có hiệu quả.
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tiêu thụ sản phẩm gà
giống của Công ty giống gia cầm Lương Mỹ -Chương Mỹ - Hà Tây.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm gà giống
của Công ty giống gia cầm Lương Mỹ.
Thời gian nghiên cứu: Đánh giá thực trạng tiêu thụ sản phẩm gà giống
của công ty qua 3 năm (2000-2001-2002).
Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu tại Công ty giống gia cầm Lương
Mỹ - Chương Mỹ- Hà Tây.
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Dương - KD44
+ Thị trường là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, là mục tiêu của quá
trình sản xuất hàng hoá. Thị trường chính là nơi hình thành và giải quyết các
mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các doanh nghiệp, doanh nghiệp với Nhà
nước, doanh nghiệp với người tiêu dùng.
+Thị trường là đối tượng hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
+ Thị trường là khâu tất yếu là quan trọng nhất của sản xuất hàng hoá,
thị trường là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng.
+ Thông qua thị trường có thể nhận biết được sự phân phối của các
nguồn lực sản xuất, thông qua hệ thống giá cả.
+ Thị trường là môi trường kinh doanh, nó giúp các nhà sản xuất nhận
biết nhu cầu xã hội về thế mạnh kinh doanh của mình để có các phương án
sản xuất kinh doanh phù hợp với đòi hỏi của thị trường
+ Thị trường là nơi cung cấp thông tin quan trọng trên cơ sở đó nhà sản
xuất kinh doanh đưa ra các quyết định riêng cho doanh nghiệp mình.
+ Thị trường có vai trò quan trọng trong quản lý kinh tế, đó là đối tượng
căn cứ để kế hoạch hoá. Thị trường là công cụ bổ sung cho các công cụ điều
tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước.
2.1.1.3. Chức năng của thị trường
Thị trường là nơi diễn ra hoạt động mua bán do đó nó có các chức năng
nhất định và tầm quan trọng của từng chức năng được thể hiện như sau:
+ Chức năng thừa nhận : Thị trường là nơi gặp gỡ giữa nhà sản xuất và
người tiêu dùng trong quá trình trao đổi hàng hoá, thị trường với mong muốn
chủ quan bán được nhiều hàng hoá với giá cả sao cho bù đắp được mọi chi
phí bỏ ra và có lợi nhuận, còn người tiêu dùng tìm đến thị trường để mua
những hàng hoá đúng công dụng, hợp thị hiếu và có khả năng thanh toán theo
mong muốn của mình. Trong quá trình diễn ra sự trao đổi, mặc cả trên thị
trường giữa đôi bên về một mặt nào đó sẽ có 2 khả năng xẩy ra là thừa nhận
5
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Dương - KD44
Trong công tác quản lý nền kinh tế thị trường, vai trò tiếp nhận thông tin
từ thị trường đã quan trọng, song việc chọn lọc và xử lý thông tin lại là công
việc quan trọng hơn nhiều. Để đưa ra những quyết định chính xác nhằm thúc
đẩy sự vạn hành mọi hoạt động kinh tế trong cơ chế thị trường, tuỳ thuộc vào
sự chính xác của việc sàng lọc và xử lý thông tin.
Tóm lại: 4 chức năng của thị trường có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Thực tế một hiện tượng kinh tế diễn ra trên thị trường đều thể hiện đầy đủ và
đan xen lẫn nhau giữa 4 chức năng. Tuy nhiên cũng phải thấy rõ là chỉ khi
thực hiện chức năng thừa nhận thì các chức năng khác mới phát huy tác dụng.
2.1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường
Các nhân tố kinh tế: Có vai trò trực tiếp đến cung, cầu cơ sở vật chất kỹ
thuật, quan hệ kinh tế đối ngoại, giá cả, thu nhập bình quân trên đầu người,
tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Các nhân tố xã hội: Mật độ phân bổ dân cư, phong tục tập quán, trình độ
văn hoá... Chúng có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của thị trường.
Các nhân tố về chính trị: Tình hình chính trị trong và ngoài nước, hệ
thống pháp luật và các văn bản dưới luật, các công cụ chính sách của Nhà
nước.
Các nhân tố thuộc về kinh tế vĩ mô: Thể hiện bằng các chính sách của
Nhà nước như : Chính sách thuế, chính sách dự trữ và điều hoà, chính sách
trợ giá... Các chính sách đều có ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường. Nhà nước
luôn có xu hướng quản lý và bình ổn giá cả.
Các nhân tố thuộc về kinh tế vi mô: Là chiến lược chính sách biện pháp
của các cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng trong kinh doanh như: chiến lược
sản phẩm mới, chiến lược đa dạng hoá sản phẩm, chiến lược giá, hoạt động
marketing của doanh nghiệp. Các chiến lược tác động trực tiếp chủ quan vào
thị trường.
7
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Dương - KD44
2.1.1.5. Phân khúc thị trường
Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của
hàng hoá, thông qua tiêu thụ mà hàng hoá được chuyển từ hình thái hiện vật
sang hình thái giá trị (tiền tệ) và vòng chu chuyển vốn của doanh nghiệp được
hoàn thành.
Tiêu thụ sản phẩm đơn giản được cấu thành từ người bán người mua
hàng hoá, tiền tệ, khả năng thanh toán, sự sẵn sàng mua và bán... Nhằm tối da
hoá lợi nhuận mỗi bên
2.1.2.2. Vai trò của tiêu thụ sản phẩm trong quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Sơ đồ 1. Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Sơ đồ cho thấy: Kết quả tiêu thụ có vai trò quyết định đến sự vận động
nhịp nhàng của các giai đoạn trước, trong chu kỳ sản xuất kinh doanh, cụ thể:
Tiêu thụ sản phẩm nhằm thực hiện quá trình đưa sản phẩm từ nơi sản
xuất đến nơi tiêu dùng. Nói cách khác tiêu thụ đóng vai trò là khâu lưu thông
hàng hoá, là trung gian mua bán giữa người sản xuất và người tiêu dùng.
Tiêu thụ sản phẩm làm cho người sản xuất hiểu cụ thể khách hàng mong
muốn về số lượng, chất lượng, chủng loại, mẫu mã hàng hoá mà mình sản
xuất ra, để từ đó thảo mãn nhu cầu của họ.
9
T H Sản xuất H' T'
Tiêu thụ
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Dương - KD44
Tiêu thụ sản phẩm làm cho người tiêu dùng tiếp cận sản phẩm hàng hoá
mà họ cần và chấp nhân được tính hữu ích của mỗi sản phẩm hàng hoá đó.
Khi sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận thì doanh nghiệp mới thu hồi
được các chi phí có liên quan và xác định được mức sản phẩm sản xuất ra .
Đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân tiêu thụ có vai trò làm cân đối giữa
cung và cầu để tạo nên sự ổn định xã hội nói chung và từng khu vực nói riêng
doanh nghiệp khác, từ đó ảnh hưởng rất lớn đến tiêu thụ. Môi trường hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp ở nước ta có sự quản lý của Nhà nước,
đường lối phát triển kinh tế có sự can thiệp của Đảng. Các công cụ của Đảng
và Nhà nước ta đề ra như : Chính sách tín dụng ngân hàng, chính sách xuất
nhập khẩu... đã trực tiếp, gián tiếp tác động đến sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
2.1.2.4. Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả tiêu thụ
Khối lượng sản phẩm của doanh nghiệp tiêu thụ được thể hiện dưới hai
hình thức là hiện vật và giá trị.
Hình thức hiện vật có ưu điểm là biểu hiện cụ thể khối lượng đang tiêu
thụ, từng loại hàng, song hình thức này không tổng hợp và không so sánh
được.
Khối lượng sản phẩm tiêu thụ trong một năm hoặc trong một kỳ được
tính theo công thức:
Lượng tồn kho đầu năm + Lượng sản xuất trong năm - Lượng tồn cuối năm
Số lượng tồn kho đầu năm tiêu thụ trong năm hình thức hiện vật là chỉ
tiêu phản ánh bằng tiền của khối lượng sản phẩm bán ra và doanh nghiệp đã
thu được doanh thu hoặc lấy giấy báo của ngân hàng.
Doanh số (doanh thu) = khối lượng tiêu thụ trong năm x giá bán
K
t
= ∑
=
n
i
ii
GQ
1
Trong đó: K
t
và hợp lí lực lượng lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp nông thôn. Do đặc
điểm của sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao, hơn nữa lao động trong
nông nghiệp lại chiếm một tỉ trọng khá lớn trong tổng số lao động của nước ta
và các nước đang phát triển khác. Lực lượng lao động này có một thời gian
nhàn rỗi quá lớn do tính chất thời vụ trong sản xuất sinh ra. Do đó việc phát
triển ngành chăn nuôi đã giúp tạo công ăn việc làm cho nông dân và giúp họ
tăng thu nhập.
+ Đối với ngành nông nghiệp
12
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Dương - KD44
Đối với sản xuất nông nghiệp chăn nuôi có một vai trò rất quan trọng.
Trong sản xuất nông nghiệp thì hai ngành chính cấu thành nên nó là ngành
trồng trọt và chăn nuôi. Hai ngành này có sự liên hệ mật thiết với nhau, thúc
đẩy nhau cùng phát triển.
Một nền nông nghiệp muốn phát triển được một cách bền vững và ổn
định thì cần phải có sự phát triển một cách cân đối giữa hai ngành trồng trọt
và chăn nuôi. Trồng trọt cung cấp thức ăn cho ngành chăn nuôi phát triển,
mặt khác chăn nuôi cung cấp phân bón, sức kéo cho ngành trồng trọt. Nguồn
phân hữu cơ mà chăn nuôi cung cấp cho ngành trồng trọt có vai trò hết sức
quan trọng. Vì thế để có một nền nông nghiệp bền vững thì không bao giờ
được phép coi nhẹ vai trò của ngành chăn nuôi trong sản xuất nông nghiệp.
+ Đối với hộ nông dân
Ở nước ta hiện nay trong nền kinh tế thị trường, hộ nông dân đã được coi
là một đơn vị kinh tế tự chủ thì vai trò của ngành chăn nuôi càng được coi
trọng. Một thực tế không thể chối cãi được đó là ngành chăn nuôi chiếm một
vai trò quan trọng trong thu nhập của người nông dân, sản phẩm hàng hoá của
nông hộ chủ yếu là sản phẩm thu được từ quá trình chăn nuôi. Chăn nuôi đã
gắn bó mật thiết đối với đời sống của người dân, giúp tận dụng những sản
phẩm dư thừa trong sinh hoạt hàng ngày, tận dụng lao động nhàn rỗi và làm
tăng thu nhập, cải thiện bữa ăn hàng ngày của nông hộ.
2.2.3. Tình hình chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam
Trước năm 1974 nhìn chung ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta phát
triển theo hình thức chăn thả tự nhiên là chủ yếu. Sau năm 1974 được sự giúp
đỡ của Cu Ba, Bungari và sự quan tâm của Nhà nước ngành chăn nuôi gia
cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng đã và đang phát triển nhanh chóng.
Hàng loạt xí nghiệp gà giống được xây dựng như xí nghiệp gà giống Lương
14
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Dương - KD44
Mỹ, Tam Dương, Phúc Thịnh, Hà Nội, Nhân Lễ. Các xí nghiệp đã không
ngừng nghiên cứu thể hiện nhiều công thức lai tạo nhằm tạo ra con lai thích
hợp cho hoàn cảnh cụ thể ở nước ta, phần nào đáp ứng được nhu cầu con
giống cho chăn nuôi ở nước ta cả về số lượng và chất lượng sản phẩm gà.
Sau hơn 10 năm đổi mới, đặc biệt từ năm 1990 trở lại đây chăn nuôi gia
cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng có những bước phát triển đáng khích
lệ.
15
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Dương - KD44
Biểu 01. Số lượng và sản lượng thịt, trứng của cả nước qua 10 năm
Năm
Tổng số gia
cầm
(nghìn con)
Gà
(nghìn con)
Sản lượng
thịt
(nghìn tấn)
Sản lượng
trứng
(nghìn quả)
Biểu 02: Số lượng gia cầm và sản lượng thịt gia cầm ở các vùng sinh thái
(2000)
Chỉ tiêu
Tổng đàn gia cầm Sản lượng thịt gia cầm
Tổng đàn gia cầm Trong đó gà
Tổng đàn
(tr.con)
Tỷ lệ
(%)
Tổng đàn
(tr.con)
Tỷ lệ
(%)
Sản lượng
(1000 tấn)
Tỷ lệ(%)
Cả nước 196,2 100,0 147,1 100,0 286,5 100,0
Miền Bắc 112,8 57,5 94,9 64,5 146,1 51,0
Miền Nam 83,3 42,5 52,2 35,5 140,4 49,0
ĐB s.Hồng 44,8 22,8 37,4 25,4 67,4 23,5
Đông Bắc 39,9 20,3 34,4 23,4 47,0 16,4
Tây Bắc 5,0 2,5 4,5 3,1 4,2 1,5
Bắc Trung Bộ 23,0 11,7 18,6 12,6 27,5 9,6
DH miền Trung 13,9 7,1 9,2 6,3 13,7 4,8
Tây Nguyên 4,9 2,5 4,4 3,0 5,6 2,0
Đông Nam Bộ 20,3 10,3 15,8 10,7 42,9 14,0
ĐB s. Cửu Long 44,2 22,5 22,8 15,5 78,2 27,2
Nguồn: Tính toán dựa theo số liệu của Tổng cục Thống kê
Nhìn chung ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta trong đó có gà vẫn chủ
yếu là phương thức nuôi tận dụng tự nhiên, tận dụng thức ăn gia đình, chăn
gia cầm Việt Thái có mạng lưới gia công hơn 420 hộ gia đình nuôi từ 25 triệu
con gà thịt/năm.
18
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Dương - KD44
Tập đoàn CP Group tổ chức chăn nuôi gà công nghiệp ở những hộ gia
đình ở các tỉnh Sông Bé, Đồng Nai, ở miền Nam và Hà Tây ở miền Bắc với
qui mô từ 4000- 6000/ hộ. Từ năm 1998 chăn nuôi gà công nghiệp bắt đầu có
sự khó khăn từ phía đầu ra nhất là ở miền Nam, chăn nuôi gà công nghiệp có
số lượng lớn và qui mô lớn hơn so với miền Bắc.
Cụ thể ở thành phố Hồ Chí Minh gà thịt khó tiêu thụ dẫn đến tình trạng
hàng loạt gà xuất khẩu bị ứ đọng do vậy dẫn đến tình trạng gà con giống
không tiêu thụ được, trứng giống phải đem bán thành trứng thương phẩm.
Đến năm 2000 thì thị trường gà trong nước có phần tốt hơn song đầu ra
của sản phẩm ngành vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn xu hướng cung vượt quá
cầu, người chăn nuôi gà công nghiệp vẫn bị lỗ. Như vậy vấn đề tiêu thụ sản
phẩm của ngành gà hiện nay là một vấn đề mang tính cấp bách, đòi hỏi các
doanh nghiệp cần phải có các chiến lược, sách lược kịp thời trong quá trình
sản xuất kinh doanh của mình. Đồng thời Nhà nước cần có chính sách bổ trợ.
Hiện nay nước ta chỉ dừng lại ở công đoạn đầu, các khâu cuối cùng chưa
được chú trọng đúng mức, nhất là khâu chế biến sản phẩm của ta cực kỳ yếu
kém. Thực tế cho thấy chăn nuôi gà có lợi nhuận chưa cao, tiêu thụ sản phẩm
còn gặp nhiều khó khăn.
Lâu nay việc tiêu thụ gà thịt xuất chuồng chủ yếu là do các nhà bán buôn
trực tiếp bán lẻ cho các lò mổ, các nhà hàng... Mặc dù nước ta có một số cơ sở chế
biến nhưng vẫn hoạt động cầm chừng, ít coi trọng khâu tiếp thị, thông tin quảng
cáo - quảng cáo cho sản phẩm của mình đó cũng chính là một nguyên nhân.
Chưa đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm dẫn đến tình trạng lo ngại
dùng thịt, trứng trong nước. Hàng năm chúng ta vẫn còn nhập thịt và trứng
phục vụ cho khách sạn.
19
Phía Bắc giáp xã Hoàng Văn Thụ - huyện Chương Mỹ - tỉnh Hà Tây
Trung tâm của Công ty nằm trên trục đường 21A, cách thủ đô Hà Nội 40
km về phía Tây Bắc. Hệ thống giao thông đường bộ tương đối thuận lợi.
Tổng diện tích đất tự nhiên của công ty quản lý là 53,5 ha, địa hình tương đối
dốc, trung tâm và hai khu vực sản xuất chính được nằm trên 3 quả đồi.
Khí hậu ở công ty mang tính chất khí hậu vùng núi trung du, phân chia
thành 4 mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình 1 năm là 23,5
0
C, mùa đông rất lạnh,
mùa hè lại quá nóng bức.
3.1.3. Bộ máy tổ chức quản lý của Công ty
Sơ đồ 2. Tổ chức bộ máy của công ty
Trong đó:
Quan hệ trực tuyến
Quan hệ kiểm tra giám sát
21
Giám đốc
P. Giám đốc
P.TC-HC P. Tài vụ P. Kỹ thuật P. Tiếp thị
VPĐD PX sản xuất PX ấp PX vi sinh
Chi nhánh Quảng
nam Đà nẵng
Tổ chăn nuôi Tổ chế biến thức ăn
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Dương - KD44
Quan hệ tham mưu giúp việc
Các phòng ban và các đơn vị sản xuất chịu sự quản lý và điều hành của
giám đốc. Các phòng ban chức năng thực hiện một số chức năng nhất định,
ngoài ra các phòng ban này đảm bảo mệnh mệnh của Ban Giám đóc, thực
hiện đúng, hoàn thành nhiệm vụ đặt ra, đáp ứng kịp thời các yêu cầu của sản
xuất phát huy được năng lực của cán bộ giúp việc và thực sự phù hợp với quy
cơ bản tạo nên kết quả của các hàng hoá dịch vụ. Do vậy tạo nguồn vốn, quản
lý, sử dụng vốn và tài sản là một trong những nội dung quan trọng có liên
quan đến tài chính của công ty. Mục tiêu quan trọng nhất của quản lý, sử
dụng vốn và tài sản là đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến
hành bình thường và hiệu quả kinh tế cao.
Qua biểu 04 cho thấy vốn sản xuất kinh doanh của Công ty trong mấy
năm qua có xu hướng tăng lên. Cụ thể là tổng giá trị tài sản năm 2000 là
12350,7 triệu đồng, đến năm 2001 là 15990,4 triệu đồng, tăng 3639,7 triệu
đồng, tức là 29,4%, năm 2002 tổng giá trị tài sản là 19811,2 triệu đồng, tăng
23,8% tương đương với 3820,8 triệu đồng so với năm 2001. Bình quân tổng
giá trị tài sản đạt 126,6%. Như vậy phần biến động về tổng tài sản của công ty
là sự biến động của tài sản lưu động và tài sản cố định . Cụ thể năm 2001 tài
sản lưu động của Công ty là tăng 23,86%, sang năm 2002 tăng 1066,4 triệu
đồng so với năm 2001. Trong khi đó tài sản cố định cũng tăng trong 3 năm,
năm 2001 so với năm 2000 tăng 38,04% tức là tăng 1859,4 triệu đồng và đến
năm 2002 là 9502,2 triệu đồng, tăng so với năm 2001 là 40,8%. Bình quân cả
3 năm tăng 39,4%, lớn hơn tốc độ tăng bình quân của tổng tài sản. Điều này
chứng tỏ Công ty đã bỏ vốn của mình vào xây dựng thêm nhà trại, mua thêm
phương tiện vận tải, máy móc phục vụ cho sản xuất.
Xét theo nguồn hình thành ta thấy công ty đã sản xuất và có hiệu quả, nó
được thể hiện là nguồn vốn tự bổ sung của công ty tăng qua các năm. Năm
2000 vốn tự bổ sung là 9237,7 triệu đồng, nhưng đến năm 2001 là 9479,1 triệu
đồng, tăng 241,4 triệu đồng và năm 2002 là 12882,4 triệu đồng đạt 65,03%,
bình quân tăng qua 3 năm là 18,1%. Tuy vậy để mở rộng quy mô sản xuất thì
vốn do ngân sách cấp của Công ty cũng tăng qua các năm. Năm 2001 so với
năm 2000 tăng 3398,3
24
Luận văn tốt nghiệp Ngô Thị Dương - KD44
Biểu 04. Tình hình vốn sản xuất kinh doanh của Công ty
25