Đề tài: PHÂN LẬP CÁC CHỦNG NẤM MEN CÓ Ý NGHĨA TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT RƯỢU CẦN - Pdf 12

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
KHOA SINH HỌC

BÁO CÁO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN 2011
PHÂN LẬP CÁC CHỦNG NẤM MEN CÓ Ý NGHĨA TRONG
QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT RƯỢU CẦN
CƠ QUAN QUẢN LÝ: TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
Đà Lạt, tháng 05 năm 2011
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
KHOA SINH HỌC

BÁO CÁO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN 2011
PHÂN LẬP CÁC CHỦNG NẤM MEN CÓ Ý NGHĨA TRONG
QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT RƯỢU CẦN
Cơ quan chủ trì : Trường Đại học Đà Lạt
Chủ nhiệm đề tài : Đỗ Bá Dương
Lớp CSK32 – MSSV: 0810951
Thành viên tham gia – Lớp CSK32:
Mã Phước Huyền Thanh An 0810928
Đặng Ngọc Nam 0811022
Lê Thị Thanh Nhi 0811037
Bùi Khắc Hoàng Vũ 0811122
Cán bộ hướng dẫn: ThS. Nguyễn Khoa Trưởng
Đà Lạt, tháng 05 năm 2011
Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học SV 2011 – CSK32 GVHD:ThS. Nguyễn Khoa Trưởng
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của nhóm chúng tôi. Những kết quả và số
liệu nghiên cứu trong báo cáo nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học chưa được ai công
bố dưới bất cứ hình thức nào. Nhóm chúng tôi sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà
trường về lời cam đoan này.
Đà Lạt, ngày 20 tháng 05 năm 2011

22
Bảng 3.5. Số lượng tế bào nấm men sau khi nuôi cấy trong khoảng thời gian
từ 0h – 48h
23
PHÂN LẬP CÁC CHỦNG NẤM MEN CÓ Ý NGHĨA TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT RƯỢU CẦN
Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học SV 2011 – CSK32 GVHD:ThS. Nguyễn Khoa Trưởng
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 3.1. Biểu đồ sự ảnh hưởng của pH tới số lượng tế bào nấm men sau 24h
nuôi cấy 21
Hình 3.2. Biểu đồ đường cong sinh trưởng của các chủng nấm men tuyển chọn 24
Hình 3.3. Quy trình sản xuất rượu cần 25
PHÂN LẬP CÁC CHỦNG NẤM MEN CÓ Ý NGHĨA TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT RƯỢU CẦN
Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học SV 2011 – CSK32 GVHD:ThS. Nguyễn Khoa Trưởng
MỤC LỤC
PHÂN LẬP CÁC CHỦNG NẤM MEN CÓ Ý NGHĨA TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT RƯỢU CẦN
Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học SV 2011 – CSK32 GVHD:ThS. Nguyễn Khoa Trưởng
MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong bước chuyển mình hội nhập, bên cạnh tiếp thu các thành tựu
khoa học tiên tiến, việc bảo tồn, phát huy các truyền thống văn hóa dân tộc càng phải
được chú trọng. Việt Nam có nền văn minh lúa nước lâu đời, các sản phẩm từ nông
nghiệp đã xuất hiện lâu đời và trở thành các giá trị văn hóa ẩm thực cần lưu giữ trong đó
có rượu. Trải dài trên đất nước Việt Nam mỗi mảnh đất là một hương vị riêng của rượu
hòa quyện trong nét văn hóa bản địa như Rượu Mẫu Sơn – Lạng Sơn, rượu bản Phố - Bắc
Hà, rượu Đao – Yên Bái, rượu cần Tây Bắc, Tây Nguyên… Như chúng ta đã biết, rượu
cần là một đặc sản văn hóa của các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và các dân tộc
Tây Nguyên nói riêng, trong có các dân tộc ở tỉnh Lâm Đồng.
Rượu cần là thứ đồ uống quý có trong tất cả các gia đình người Tây Nguyên, dùng
trong các dịp lễ tế thần linh, những ngày hội làng và dành đãi khách. Người dân Tây
Nguyên cho rằng, rượu của họ là do Giàng (trời) bày cho cách làm, mỗi khi cúng Giàng

nhiều người, nhiều quốc gia biết đến như là sản phẩm truyền thống thứ hai của dân tộc
Việt Nam.
Rượu cần là cách gọi của người Việt đối với loại rượu đặc sản được một số dân tộc
thiểu số Việt Nam ủ men trong hũ/bình/ché/chóe/ghè, không qua chưng cất, khi đem ra
uống phải dùng các cần làm bằng tre/trúc đục thông lỗ để hút rượu. Rượu cần là đồ uống
quý thường chỉ dùng trong các dịp lễ tế thần linh, những ngày hội làng và dành đãi
khách.
Từ thời xa xưa, các đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta đã biết lợi dụng các chủng vi
sinh vật trong tự nhiên để thực hiện quá trình lên men rượu tự nhiên không qua chưng cất
tạo thành sản phẩm rượu có tên gọi chung là rượu cần. Hầu hết các đồng bào dân tộc
PHÂN LẬP CÁC CHỦNG NẤM MEN CÓ Ý NGHĨA TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT RƯỢU CẦN Page 9
Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học SV 2011 – CSK32 GVHD:ThS. Nguyễn Khoa Trưởng
thiểu số của nước ta đều có nghề làm rượu cần. Các đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc,
đồng bào các dân tộc Xê - đăng, Cơ tu, H’Rê… ở miền trung. Đặc biệt đặc sắc là rượu
cần của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên như: Bana, Giarai, Mạ, Stiêng,
K

ho,…
Nguyên liệu làm rượu của đồng bào rất đa dạng từ hạt bo bo, ngô, gạo tẻ, gạo nếp
cho đến củ khoai mì, củ dong. Các loài thực vật mà đồng bào sử dụng làm rượu cần cũng
rất đa dạng thay đổi tùy theo đồng bào dân tộc. Bên cạnh đó, nguồn nguyên liệu thực vật
để làm men phải vào rừng sâu và quá trình làm rượu mất rất nhiều thời gian, công sức. Vì
vậy, hiểu biết về làm rượu cần truyền thống ngày càng giảm làm cho tri thức dân gian
không được kế thừa mà dần mất đi bản sắc độc đáo riêng. Chính vì thế, việc bảo tồn văn
hóa dân tộc, đang rất cần được chú trọng trước khi bị mất hoàn toàn.
Mặc dù sản phẩm rượu cần đã được sản xuất từ lâu đời nhưng hiện nay vẫn chưa có
nhiều nghiên cứu về rượu cần chỉ có một số nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Huệ (1996),
từ bánh men của người dân tộc K’Ho, Nguyên liệu để làm bánh men là gạo và một số loại
cây lá đặc trưng ở mỗi dân tộc như cây đòng và cây me kà zút (tên gọi của người dân tộc
K’Ho), đã phân lập được:

H
12
O
6
2C
2
H
5
OH + 2CO
2
+ 113,4kJ
Các phản ứng của quá trình lên men rượu rất phức tạp, nó phải trải qua 10 phương
trình phản ứng khác nhau với sự tham gia của nhiều hệ enzyme xúc tác, kết quả cho ra
rượu etylic, CO2 và một số sản phẩm khác.
Nấm men là cơ thể hiếu khí, chúng hô hấp như cơ thể bậc cao, khi trong môi trường
hết oxy phân tử (oxy không khí hòa tan trong môi trường lên men), chúng mới tiến hành
lên men, tức là chuyển sang hô hấp kỵ khí.
Trong điều kiện lên men rượu, các đường đơn như glucose, fructose sẽ được phân giải
theo con đường EMP và chu trình axit tricacboxylic (ATC) lúc đầu được thực hiện, tiếp
theo là chuỗi hô hấp hoạt động, nấm men thu nhiều năng lượng, sinh khối dịch lên men
tang. Môi trường sẽ dần chuyển sang lên men, sau đó sản phẩm sẽ hình thành Etanol,
CO2, sinh khối, các axit hữu cơ và sản phẩm phụ như Glyserin.
Quá trình lên men rượu có 5 quá trình chủ yếu:
− Biến đồi glucose thành fructose-1,6-phosphate.
− Biến đổi fructose-1,6-phosphate thành 3-phospho glyceraldehyde và
phosphodioxy-acetone.
PHÂN LẬP CÁC CHỦNG NẤM MEN CÓ Ý NGHĨA TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT RƯỢU CẦN Page 11
Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học SV 2011 – CSK32 GVHD:ThS. Nguyễn Khoa Trưởng
− Biến đổi phosphodioxy-acetone thành 2- phospho glycerate rồi thành axit
pyruvic.

hoa cau, vì vậy chúng được gọi là mốc vàng hoa cau. Chúng có khả năng sinh enzyme
amylaza và proteaza. Trong nghề làm tương, làm xì dầu và làm rượu rất hay gặp các mốc
vàng.
Aspergillus niger, bào tử thương đối lớn và rất đen, được gọi là mốc đen, có khả
năng sinh ra nhiều enzyme amylaza, nhưng đồng thời có thể tạo ra acid citric từ dịch
đường. Vì vậy người ta cũng không mong muốn sự có mặt của mốc này trong bánh men,
nhưng đây là một điều khó khăn vì mốc này rất phổ biến trong tự nhiên.
Việc sử dụng mốc vàng hoa cau trong nghề làm tương, nước chấm xì dầu và trong
nghề làm rượu cũng cần lưu ý: A. flavus có khả năng sinh enzyme amylaza và proteaza
dùng để thủy phân tinh bột thành đường, thủy phân protein thành peptide và acid amin,
nó còn sinh ra độc tố aflatoxin khi môi trường nuôi cấy có chất béo. Độc tố này ảnh
hưởng nhiều tới gan.
Mucor và Rhizopus có hình dạng rất giống nhau, chỉ khác nhau phần hệ sợi cơ chất.
Trong nghề làm rượu rất gặp hai giống này, đặc biệt là Mucor rouxii, M. mucedo, M.
japanicus. ở nước ta hay gặp M. rouxii (phát triển tốt trên môi trường czapek và trên
gạo).
Một số chủng Mucor có khả năng sinh tổng hợp hai hệ enzyme diastaza (amylaza)
đường hóa tinh bột và zymaza lên men rượu từ đường. Vì vậy chúng có thể lên men trực
tiếp từ tinh bột thành rượu. Mucor rouxii sinh ra nhiều rượu hơn một số loài khác và được
dùng nhiều trong men rượu.
Hơn nữa khi có mặt Rhizopus và Mucor lên men rượu có mùi thơm rất dễ chịu. Cơ
chế của mùi thơm ở đây của hai mốc này như thế nào đến nay hoàn toàn chưa rõ.
Penicilium là mốc sinh bào tử có màu xanh thường gọi là mốc xanh. Tuy nó có khả
năng sinh ra hệ enzyme đường hóa mạnh, nhưng nó thường cho mùi vị mốc rất khó chịu
như nhiều mốc khác. Nhưng mốc sinh “mùi đặc trưng” của mốc thường không được hoan
nghênh trong nghề chế biến thực phẩm.
Giống Endomycopsis được gọi là giả nấm men. Khi trưởng thành có hệ sợi giả cùng
với bào tử đính nhiều chồi, bào tử phấn hoặc bào tử phân đôi bằng vách ngăn hoặc nảy
chồi ở nhiều phía. Endomycopsis có khả năng sinh nhiều glucoamylaza và đặc biệt trong
hệ enzyme do giống này sinh ra ưu việt hơn nấm mốc là có ít enzyme transglucosidaza.

hợp chất phân tử nhỏ, chứa các cơ quan con, các vật thể và các chất dự trữ khác.
• Ribosome: số lượng ribosome thay đổi tùy từng loại, tùy từng giai đoạn phát triển và điều
kiện nuôi cấy. Có 2 loại ribosome là loại 70S và 80S.
• Ty thể: là những ty thể hình cầu, hình que, hình sợi kích thước khoảng 0,2-1Mm. Ty thể
gồm 2 lớp là màng trong và màng ngoài. Màng trong có hình lượn sóng hay hình răng
PHÂN LẬP CÁC CHỦNG NẤM MEN CÓ Ý NGHĨA TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT RƯỢU CẦN Page 14
Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học SV 2011 – CSK32 GVHD:ThS. Nguyễn Khoa Trưởng
lược. Để tăng thêm diện tích tiếp xúc, giữa hai màng có các hạt nhỏ gọi là hạt cơ bản, bên
trong ty thể là chất dịch hữu cơ. Màng ngoài của tế bào nấm men khác với màng ty thể là
màng ty thể có rất nhiều đơn vị, hình thái dạng nấm và mũ nấm có đường kính khoảng
80-100A. Màng ngoài của ty thể có chứa các loại enzyme của chuỗi hô hấp, enzyme
phosphorin hóa, và trên đó cư trú một số men không có trong màng trong như mono
aminoxydaza, NAD-xytocrom, C-seductase.
Trong ty thể người ta tìm thấy tất cả các yếu tố của hệ thống tổng hợp protein. Người
ta tách ra từ cơ quan này các loại ribosome “VK”. Tức là những hạt ribosome 70s của
ribosome này cũng giống như ARN, thông tin của ty thể được tổng hợp dưới sự kiểm soát
của ADN ty thể. ADN của ty thể nấm men là ADN dạng vòng, có khối lượng phân tử là
50x60 Ra, gấp 5 lần so với động vật bậc cao. ADN ty thể nấm men chiếm 15-23% tổng
lượng ADN của toàn tế bào nấm men. Có một loại plasmid được phát hiện năm 1967 ở
nấm men Saccharomyces cerevisiae được gọi là YAC (nhiễm sắc thể nhân tạo). Ty thể
được coi là trạm năng lượng của tế bào nấm men.
Nó tham gia thực hiện các phản ứng oxy hóa giải phóng năng lượng ra khỏi cơ chất
làm cho năng lượng được tích lũy dưới dạng ATP, giải phóng năng lượng ATP và chuyển
hóa năng lượng đó thành năng lượng có ích cho hoạt động sống của tế bào.
Ngoài ra ty thể còn chứa nhiều loại enzyme khác như: oxidase, xitocromoxidase,
peoxydase…
• Các thể ăn nhập khác:
Không bào có chứa enzyme thủy phân, polyphosphate, lipid, ion kim loại, các phẩm
trao đổi chất, điều hòa các quá trình sinh trưởng và phát triển của tế bào nấm men. Ngoài
ra còn chứa các hạt dự trữ tinh bột khác như: hạt lipid dưới dạng các hạt nhỏ, các hạt

mới, mỗi nhân con cùng với một phần nguyên sinh chất tạo thành một túi bào tử. Túi bào
tử gặp điều kiện thích hợp sẽ phát triển thành một tế bào nấm men mới.
1.4.3.3. Các enzyme của nấm men
PHÂN LẬP CÁC CHỦNG NẤM MEN CÓ Ý NGHĨA TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT RƯỢU CẦN Page 16
Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học SV 2011 – CSK32 GVHD:ThS. Nguyễn Khoa Trưởng
Để sinh trưởng và phát triển, nấm men phải sử dụng enzyme phân giải các nguồn dinh
dưỡng phức tạp như tinh bột, rỉ đường, dầu mỏ… thành đường và chuyển hóa vào trong
cơ thể dưới dạng cacbon và năng lượng duy trì sự sống, đồng thời tạo ra sản phẩm sinh
học trong sản xuất.
• Enzyme Protease
Protease là một nhóm enzyme gồm hai loại peptidase và proteinase, chúng phân hủy
các liên kết phân tử protein thành polypeptide, pepton. Sau đó peptide phân tử nhỏ này
thủy phân thành các acid amin tự do có dưới tác dụng của peptidase. Các peptidase có
đặc hiệu hơn proteinase, chúng chỉ tác dụng lên peptide ở những vị trí nhất định.
• Enzyme Amylase
Là hệ enzyme được chiết ra sớm nhất và được nghiên cứu nhiều từ trước đến nay.
Amylase được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp, nông nghiệp và trong y học để tạo ra
đường glucose, dextrin thực phẩm, thành phần bổ sung vào khẩu phần thức ăn trong chăn
nuôi, các thuốc hỗ trợ tiêu hóa, thủy phân đường để lên men sản xuất mì chính và các sản
phẩm khác.
Amylase thuộc nhóm enzyme hydrolase xúc tác thủy phân lên kết glucoside trong tinh
bột và các sản phẩm tạo thành mà người ta chia nhóm thủy phân tinh bột ra làm nhiều
loại, trong đó có ba loại enzyme phổ biến:
− α-amylase (α-1,4glucan, 4-glucanhydrogenase)
− β-amylase (α-1,4glucan maltohydrolase)
− Gluco-amylase (γ-amylase)
Các enzyme khác nhau về tính đặc hiệu tác dụng đối với liên kết glucoside và một số
tính chất khác. Tùy thuộc vào mục đích thành phần mà người ta có thể sử dụng các loại
enzyme khác nhau.
1.4.4. Những ứng dụng của nấm men

• Tủ ấm.
• Tủ sấy.
• Máy lắc ổn nhiệt.
• Nồi hấp autoclave.
• Nhiệt kế.
• Cân kỹ thuật.
• Máy đo pH, giấy quỳ tím.
• Bông thấm nước, bông không thấm nước, giấy báo,vòng thun.
• Túi dựng mẫu.
2.2.2. Hóa chất
• Đường glucose
• Pepton
• KH
2
PO
4
• MgSO
4
PHÂN LẬP CÁC CHỦNG NẤM MEN CÓ Ý NGHĨA TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT RƯỢU CẦN Page 19
Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học SV 2011 – CSK32 GVHD:ThS. Nguyễn Khoa Trưởng
• NaCl
• H
2
SO
4
• Agar
• Thuốc nhuộm Xanh methylene
• Thuốc nhuộm Fuchsin
• Cồn 90
0

thuần chủng.
Giống thuần được cấy giữ giống trong thạch nghiêng và giữ trong tủ lạnh. Các thao
tác luôn được đảm bảo vô trùng.
2.2.3.3. Phương pháp phân loại nấm men
PHÂN LẬP CÁC CHỦNG NẤM MEN CÓ Ý NGHĨA TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT RƯỢU CẦN Page 20
Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học SV 2011 – CSK32 GVHD:ThS. Nguyễn Khoa Trưởng
Phân loại nấm men dựa theo các đặc điểm nuôi cấy, đặc điểm tế bào và sinh hóa của
chủng giống. Sử dụng khóa phân loại nấm men đến giống của Kudriavtxev, 1954.
2.2.3.4. Quan sát hình thái khuẩn lạc
Mô tả hình thái, kích thước, màu sắc, tính chất của khuẩn lạc mọc riêng rẽ trên đĩa
phân lập.
2.2.3.5. Quan sát hình thái tế bào, cách thức sinh sản của nấm men
Làm tiêu bản giọt ép với thuốc nhuộm Xanh methylene 0,1% , mẫu là chủng giống đã
phân lập được nuôi cấy trong môi trường Hansen lỏng sau khoảng thời gian 20 – 24 giờ.
Quan sát trên kính hiển vi.
2.2.3.6. Xác định bào tử của nấm men
a. Nuôi cấy tạo bào tử
Từ ống giống lỏng sau 24 giờ nuôi cấy, cấy giống trên môi trường thạch tạo bào tử.
Môi trường tạo bào tử nấm men (xem phần phụ lục).
Mẫu cấy được ủ trong tủ ấm ở nhiệt độ 29
0
C trong 2 ngày, sau đó đem sốc nhiệt ở
nhiệt độ 40
0
C trong 18 giờ.
b. Nhuộm và quan sát bào tử nấm men
• Các dung dịch thuốc nhuộm
+ Thuốc nhuộm Fuchsin
+ Thuốc nhuộm Xanh methylene
• Cách làm tiêu bản nhuộm bào tử nấm men

Tiến hành nuôi cấy trong 24 giờ.
2.2.5. Phương pháp tạo bánh men rượu
Nguyên liệu: Gạo lức, rễ cây ”đoòng”, rễ cây vấn vương, thân cây gối hạc.
Dụng cụ: Dao, cối giã, khay đựng.
Phương pháp:
Bước 1: Rễ cây ”đoòng”, rễ cây vấn vương, thân cây gối hạc được cạo vỏ, đập dập,
phơi khô.
Tất cả nguyên liệu được cho vào cối giã nhuyễn. Hỗn hợp này gọi là bột tạo men.
Bước 2: Gạo lức đem ngâm (khoảng 2 giờ), vớt, để ráo đem xay nhỏ. Bột tạo men,
các chủng nấm men đem trộn với bột gạo bằng nước nóng (70
0
– 80
0
C). Sau đó vo thành
viên như quả trứng gà rồi bỏ lên khay đựng có lót một lớp trấu ở dưới (3 cm). Đậy lại ủ 2
ngày ở nhiệt độ 30
0
C cho đến khi xuất hiện nấm mốc trắng đều trên men.
Bước 3: Viên men được đem hong khô ở nhiệt độ 37
0
C trong thời gian 3 ngày.
2.2.6. Phương pháp lên men rượu
Nguyên liệu: Men rượu cần tự nhiên, một trong các loại ngũ cốc sau: gạo, ngô (bắp),
củ sắn được nấu chín.
PHÂN LẬP CÁC CHỦNG NẤM MEN CÓ Ý NGHĨA TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT RƯỢU CẦN Page 22
Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học SV 2011 – CSK32 GVHD:ThS. Nguyễn Khoa Trưởng
Dụng cụ: Chóe rượu cần 4 lít, 6 lít, khay, nong, nia, trấu sạch.
Phương pháp:
Bước 1: Nguyên liệu nấu chín sau đó dỡ, tải ra nong, nia, khay để nguội tới khoảng
30

Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học SV 2011 – CSK32 GVHD:ThS. Nguyễn Khoa Trưởng
que cấy giống, lắc đều và giữ ở nhiệt độ 25 – 30
o
C. Nếu nấm men lên men được đường
trong môi trường sẽ sinh ra CO
2
và đẩy ống Durham nổi lên.
Nếu sinh ra CO
2
thì ta kết luận được chủng nấm men đồng hóa được loại đường
nghiên cứu và qua cảm quan hoặc phân tích có tích tụ rượu etylic hay không ta kết luận
được nấm men có lên men được đường đó hay không.
Tiến hành thực nghiệm với hai nguồn đường: glucose và saccharose.
2.2.8. Phương pháp xác định độ cồn
Dựa theo phương pháp chưng cất.
Tiến hành chưng cất bằng hệ thống chưng cất cồn và đo độ cồn của mẫu chưng cất
được bằng cồn kế.
Cách tiến hành:
Dịch lên men xong, đem chưng cất. Nhiệt độ sôi của Ethanol là 78,4
0
C, hỗn hợp đẳng
phí sôi ở 78,15
0
C, thường còn nhiều tạp chất và nước. Có thể định lượng Ethanol trong
dung dịch chưng cất bằng cồn kế.
• Chưng cất cồn: Dùng bình định mức đong chính xác 100 ml dịch lên men, rót cẩn thận
vào bình cầu của bình chưng cất cồn. Lấy 40 ml nước cất tráng qua lại bình định mức vài
lần và chuyển vào bình cầu. Lắp hệ thống chưng cất, trong bình hứng chứa sẵn 5 ml nước
cất. Sau khi cất được 3/4 bình thì dừng lại, tháo bình hứng ra, chuyển dịch cất sang binh
định mức, tráng bình hứng vài lần với nước cất và chuyển vào bình định mức, thêm nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status