Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
LỜI MỞ ĐẦU
Đề tài: "Phát triển kinh doanh các dịch vụ logistics của công ty Sao Mai" là
đề tài gây được sự chú ý và quan tâm của tất cả mọi người. Dịch vụ logictis là dịch
vụ rất mới mẻ đối với Việt Nam. Trên thế giới dịch vụ này đã có từ lâu, các doanh
nghiệp tham gia hoạt động trong lĩnh vực này hàng năm thu được nguồn doanh thu
rất lớn.
Hiện nay dịch vụ này đã phát triển và được đưa vào Luật Kinh tế 2005. Việt
Nam có vị trí địa lý rất thuận lợi để phát triển loại hình dịch vụ này. Sau 5 tuần thực
tập tại công ty Sao Mai, tìm tòi và nghiên cứu hoạt động kinh doanh dịch vụ logictis
của Công ty em càng hiểu sâu hơn về lĩnh vực này và nó là nguồn kiến thức giúp em
hoàn thành tốt chuyên đề tốt nghiệp và phục vụ tốt cho công việc sau này.
1
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS
I. Khái quát chung về dịch vụ Logistics
1. Sự ra đời và phát triển của Logistics
1.1 Khái niệm về Logistics
Logistics có nguồn gốc từ hai chữ Logis và stic, có nghĩa là tính toán một
cách "hợp lý". Như vậy nội dung của Logistics bao gồm việc hướng dẫn mọi người
cách thức thực hiện công việc sao cho hợp lý nhất. Từ “Logistics” được giải nghĩa
bằng tiếng anh trong cuốn “Oxford Advances Learners Dictionary of Current English,
A.S Hornby. Fifth Edition, Oxford University Press, 1995” như sau: "Logistics có
nghĩa là việc tổ chức cung ứng và dịch vụ đối với một hoạt động phức hợp nào đó"
Logistic gồm có 3 mảng chính là kho bãi, giao nhận và vận chuyển. Công việc
cụ thể là quản lý hàng tồn, giao hàng và nhận tiền theo đơn đặt hàng, phân phối hàng
đến các đại lý… Công việc đòi hỏi phải lập kế hoạch tốt, có sự linh hoạt, nhạy bén về
kinh doanh, điều phối tốt. Ngoài ra cần có một số kỹ năng tổng quát như: kỹ năng
tính toán tốt, khả năng giao tiếp tốt. Biết tiếng Anh, vi tính là bắt buộc phải có.
Tuy nhiên hiện ở Việt Nam chưa có trường nào đào tạo chuyên về ngành này
lực cạnh tranh được nâng cao. Vì vậy, Logistics không phải là một dịch vụ đơn lẻ (do
đó thuật ngữ này bao giờ cũng ở dạng số nhiều: LOGISTICS. Dù là danh từ, hay tính
từ, không bao giờ người ta viết LOGISTIC). Logistics luôn luôn là một chuỗi các
dịch vụ về giao nhận hàng hoá như: làm các thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, bao bì
đóng gói ghi nhãn hiệu, lưu kho lưu bãi, phân phát hàng hoá (nguyên liệu hoặc thành
phẩm) tới các địa chỉ khác nhau, chuẩn bị cho hàng hoá luôn luôn sẵn sàng trong
trạng thái có yêu cầu của khách hàng là đi ngay được (inventory level). Chính vì vậy,
nói tới Logistics bao giờ người ta cũng nói tới một chuỗi hệ thống dịch vụ (logistics
system chain). Với hệ thống chuỗi dịch vụ này, người cung cấp dịch vụ Logistics
(Logistics service provider) sẽ giúp khách hàng có thể tiết kiệm được chi phí của đầu
vào trong các khâu dịch chuyển, lưu kho, lưu bãi và phân phát hàng hoá (nguyên liệu,
bán thành phẩm, hoặc thành phẩm), cũng như chi phí dịch vụ Logistics đã nói trên
Theo sách giáo khoa Logistics Liên Hợp Quốc (Khóa đào tạo quốc tế về vận
tải đa phương thức và quản lý logistics, Đại học Ngoại Thương, tháng 10/2002):
3
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu
kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng
Ủy ban Quản lý logistics của Hoa Kỳ: Logistics là quá trình lập kế hoạch,
chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo
quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán
thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản
xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của
khách hàng
Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ-1988: Logistics là quá trình liên kế
hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và lưu
trữ nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất xứ
đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng
Trong lĩnh vực quân sự, logistics được định nghĩa là khoa học của việc lập kế
là nhờ một phần lớn vào sự nỗ lực của khâu chuẩn bị hậu cần và quy mô của các
phương tiện hậu cần được triển khai.
Ngày nay thuật ngữ "Logistics" đã được phát triển mở rộng và được hiểu với
nghĩa là quản lý (management). Nó diễn tả toàn bộ quá trình vận động của nguyên
vật liệu và sản phẩm đi vào - qua và đi ra khỏi doanh nghiệp tới khâu phân phối tới
tay người tiêu dùng.
* Sự phát triển của Logistics
Theo Jacques Colin - giáo sư về khoa học quản lý tại trường đại học Aix -
Marseille II, giám đốc trung tâm nghiên cứu về vận tải và Logistics thì sự ra đời và
phát triển của Logistics trải qua các thời kỳ sau:
5
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
- Giai đoạn những năm 50 và 60 của thế kỷ XX:
Đây là giai đoạn thử nghiệm, các chuyên gia Logistics trong quân đội đã phục
viên thử áp dụng các kỹ năng Logistics của mình để giải quyết các vấn đề gặp phải
trong doanh nghiệp. Giai đoạn thử nghiệm này được bắt đầu từ việc nghiên cứu các
tác nghiệp và những kỹ thuật tối ưu hoá ứng dụng để giải quyết những vấn đề trong
chuyên chở và kho hàng...
- Giai đoạn những năm 70 của thế kỷ XX:
Đây là thời kỳ khởi động Logistics trong doanh nghiệp. Trong thời kỳ này,
Logistics trước hết là nghiên cứu việc tối ưu hoá các bộ phận tách biệt (quản lý kho
bãi, quản lý hàng tồn kho, luân chuyển giao hàng...) và hợp lý hoá cơ cấu của doanh
nghiệp. Nghiên cứu hiệu quả của việc giảm các chi phí hoạt động và người lao động.
chuyển dần những hoạt động này sang cho những người chuyên chở và cung cấp dịch
vụ. Sự tìm kiếm tính liên tục trong vận hành doanh nghiệp là đặc điểm chính của
Logistics sản xuất ở thời kỳ này.
- Giai đoạn những năm 80 đến 90 của thế kỷ XX:
Giai đoạn này là giai đoạn phát triển của Logistics. Đây là giai đoạn Logistics
hướng vào việc phối hợp các bộ phận chịu trách nhiệm lưu chuyển các luồng hàng
- Giai đoạn 3: Quản lý dây chuyền cung cấp
Giai đoạn này diễn ra từ những năm 90 của thế kỷ XX cho đến nay. Quản lý
dây chuyền cung cấp - đây là khái niệm có tính chiến lược về quản lý dãy nối tiếp các
hoạt động từ người cung ứng - đến người sản xuất - đến khách hàng cùng với dịch vụ
làm tăng thêm giá trị sản phẩm như cung ứng chứng từ liên quan, theo dõi, kiểm tra...
Khái niệm này coi trọng đối tác, phát triển đối tác, kết hợp giữa doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh với người cung ứng, khách hàng cũng như những người liên quan
đến hệ thống quản lý (các công ty vận tải, lưu kho, những người cung cấp công nghệ
thông tin...). Như vậy Logistics được phát triển từ việc áp dụng các kỹ năng "tiếp
vận", "hậu cần" trong quân đội để giải quyết những vấn đề phát sinh của thực tế sản
xuất - kinh doanh và đến nay được hoàn thiện trở thành hệ thống quản lý mang lại
hiệu quả kinh tế cao.
1.3 Nguyên nhân ra đời và phát triển Logistics trong doanh nghiệp
7
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
Trong chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh thế giới lần thứ II, rất nhiều kỹ năng
của Logistics được biết đến nhưng lại bị lãng quên trong hoạt động kinh tế thời hậu
chiến vì lúc này, sự chú ý của các nhà quản trị Marketing đang hướng vào việc đáp
ứng những nhu cầu hàng hoá sau chiến tranh. Phải đến thời kỳ suy thoái kinh tế và
những năm 50 của thế kỷ XX thì họ mới bắt đầu nghiên cứu mạng lưới phân phối vật
chất. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1958 và việc thu hẹp lợi nhuận đã thúc đẩy
các các doanh nghiệp tìm kiếm các hệ thống kiểm soát chi phí để đạt hiệu quả hơn.
Và hầu như đồng thời rất nhiều doanh nghiệp nhận ra rằng "phân phối vật chất" và
"Logistics" là những vấn đề chưa được nghiên cứu kỹ và chưa thực sự kết hợp với
nhau để kiểm soát và giảm tối đa chi phí. Qua nghiên cứu thực tế, các doanh nghiệp
đều cho rằng: Việc Logistics ra đời và phát triển trong doanh nghiệp là một yếu tố tất
yếu nếu doanh nghiệp muốn đạt được lợi nhuận cao nhất trong quá trình hoạt động,
sản xuất kinh doanh. Nguyên nhân chính xuất phát từ các yếu tố sau:
* Thứ nhất, chi phí vận tải tăng nhanh
loại máy chữ màu có bàn phím phù hợp với nhu cầu của người mua. Điều này phản
ánh nhu cầu đa dạng và phức tạp của khách hàng, đòi hỏi nhà sản xuất phải tìm cách
để luôn hoàn thiện mình và hoàn thiện sản phẩm sao cho phù hợp với nhu cầu và thị
hiếu của khách hàng.
* Thứ năm, công nghệ thông tin đã tạo nên sự thay đổi lớn trong sản xuất –
kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc quản lý cách thức thực hành Logistics đòi hỏi phải có một khối lượng
lớn chi tiết và dữ liệu. Ví dụ như: Vị trí của mỗi khách hàng; nhu cầu của từng đơn
hàng; vị trí nơi sản xuất; nhà kho và các trung tâm phân phối; chi phí vận tải từ kho
đến từng khách hàng; người chuyên chở săn sóc các dịch vụ mà họ cung cấp; vị trí
của các nhà cung cấp và lượng hàng tồn kho tại các kho, trung tâm phân phối...Tất cả
các thông tin này làm cho việc phân tích thủ công không thể thực hiện được. Nhưng
ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ mà đặc biệt là máy vi
tính - vị cứu tinh toán học, việc hiện thực hoá khái niệm phân phối và Logistics
không còn là vấn đề khó khăn nữa. Như vậy các thành tựu khoa học công nghệ đã
góp phần rất lớn trong việc tạo nên sự thay đổi vượt bậc trong sản xuất kinh doanh
của mỗi doanh nghiệp.
9
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
* Thứ sáu, yếu tố này cũng liên quan đến sự gia tăng của sử dụng máy vi tính
Như chúng ta đã biết máy tính có vai trò rất quan trọng. Hầu như tất cả các
phòng ban trong các doanh nghiệp đều được trang bị hệ thống mạng lưới vi tính rất
tiên tiến và hiện đại. Vi tính đi vào đời sống công sở như một sự thật hiển nhiên mà
ai cũng nhìn thấy. Mặc dù có thể có một số doanh nghiệp không dùng máy vi tính
nhưng các nhà cung cấp và các khách hàng của họ vẫn sử dụng. Điều này giúp cho
doanh nghiệp nhận thấy được một cách có hệ thống chất lượng của các dịch vụ mà họ
nhận được từ các nhà cung cấp. Dựa trên sự phân tích này, nhiều doanh nghiệp đã
xác định được nhà cung cấp nào thường xuyên cung cấp các dịch vụ dưới mức tiêu
chuẩn. Nhiều doanh nghiệp nhận thấy sự cần thiất phải nâng cấp hệ thống phân phối
cũng tương đối ổn định và có thể dự đoán được. Nhưng Logistics hoạt động lại
không thể dự đoán được khi nào máy móc có sự cố, để sửa chữa thì cần cái gì và thời
gian sửa chữa như thế nào... Như vậy Logistics hoạt động chỉ liên quan đến sự vận
động và lưu kho của nguyên liệu vào trong, qua và đi ra khỏi doanh nghiệp và là nền
tảng cho Logistics hệ thống.
* Logistics hệ thống liên kết các nguồn lực cần có trong việc giữ cho hệ
thống hoạt động. Những nguồn lực này bao gồm thiết bị, phụ tùng thay thế, nhân lực
và đào tạo, tài liệu kỹ thuật, các thiết bị kiểm tra, hỗ trợ và nhà xưởng... Các yếu tố
này không thể thiếu và phải được kết hợp chặt chẽ nếu muốn duy trì sự hoạt động của
một hệ thống sản xuất hay lưu thông.
Logistics sinh tồn, Logistics hoạt động và Logistics hệ thống không tách rời
nhau, quan hệ chặt chẽ với nhau, làm nền tảng cho nhau và tạo thành chuỗi dây
chuyền Logistics.
2.1.2 Logistics có chức năng hỗ trợ các hoạt động của doanh nghiệp.
Logistics có chức năng hỗ trợ thể hiện ở chỗ nó tồn tại chỉ để cung cấp sự hỗ
trợ cho các bộ phận khác của doanh nghiệp. Logistics hỗ trợ quá trình sản xuất
(Logistics hoạt động), hỗ trợ cho sản phẩm sau khi được di chuyển quyền sở hữu từ
người sản xuất sang người tiêu dùng (Logistics hệ thống). Điều này không có nghĩa
là quá trình sản xuất không bao gồm các yếu tố của Logistics hệ thống hay hoạt động
hỗ trợ sau khi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm không bao gồm các yếu tố của
Logistics hoạt động. Trên thức tế các khía cạnh của Logistics được liên kết với nhau
11
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
và được sắp xếp tuần tự với nhau. Sự liên kết tự nhiên của Logistics cho thấy những
quan niệm cho rằng Logistics hoạt động độc lập với Logistics hệ thống là không
đúng. Do vậy chỉ có một loại Logistics với các yếu tố như vận tải, kho bãi, phụ tùng
thay thế, nhân sự và đào tạo nhân sự, tài liệu, thiết bị kiểm tra, hỗ trợ, nhà xưởng.
Một doanh nghiệp có thể kết hợp bất cứ yếu tố Logistics nào với nhau hay tất cả các
yếu tố Logistics tuỳ theo cấp độ yêu cầu của doanh nghiệp mình.
nhiệm trước các nguồn luật điều chỉnh đối với những hành vi của mình Không phải
như trước kia chỉ cần dăm ba xe tải, một vài kho chứa hàng... là có thể triển khai
cung cấp dịch vụ vận tải giao nhận cho khách hàng. ngày nay, yêu cầu dịch vụ cung
cấp cho khách hàng đa dạng, phong phú, người cung cấp dịch vụ phải tổ chức quản lý
một hệ thống đồng bộ từ giao nhận đến vận tải, cung ứng nguyên vật liệu phục vụ
sản xuất kinh doanh, bảo quản hàng hoá trong kho, phân phối hàng hoá đúng nơi,
đúng lúc, sử dụng thông tin điện tử để theo dõi, kiểm tra... Rõ ràng dịch vụ vận tải
giao nhận không còn đơn thuần như trước mà được phát triển ở mức độ cao với đầy
tính phức tạp. Người vận tải giao nhận trở thành người cung cấp dịch vụ Logistics
(Logistics Service Provider)
2.1.5 Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức.
Trước đây, hàng hoá đi từ nước người bán đến nước người mua dưới hình
thức bán lẻ, phải qua tay nhiều người vận tải và nhiều phương thức vận tải khác
nhau, vì vậy xác suất rủi ro mất mát đối với hàng hoá rất lớn và người gửi hàng phải
ký nhiều hợp đồng với nhiều người vận tải khác nhau, trách nhiệm của mỗi người
vận tải theo đó chỉ giới hạn trong chặng đường hay dịch vụ mà anh ta đảm nhiệm.
Những năm 60 - 70 của thế kỷ XX, cách mạng container trong ngành vận tải đã đảm
bảo an toàn và độ tin cậy trong vận chuyển hàng hoá, là tiền đề và cơ sở cho sự ra đời
và phát triển vận tải đa phương thức. Vận tải đa phương thức ra đời, bây giờ người
gửi hàng chỉ cần ký hợp đồng vận tải với một người (Người kinh doanh vận tải đa
phương thức - Multmodal transport operator - MTO). MTO sẽ chịu trách nhiệm tổ
chức thực hiện toàn bộ việc vận chuyển hàng hoá từ khi nhận hàng cho đến khi giao
hàng bằng một chứng từ duy nhất (Chứng từ vận tải đa phương thức - Multmodal
transport document) cho dù anh ta có thể không phải là người chuyên chở thực tế
(Actual Carrier). Hợp đồng chuyên chở như vậy có thể do người kinh doanh vận tải
13
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
đa phương thức đảm nhận, nhưng chủ hàng vẫn cần một người lên kế hoạch cung
ứng, mua hàng hoá, giám sát mọi sự di chuyển của hàng hoá để đảm bảo đúng loại
các phương pháp mang tính quốc tế đối với sản xuất, lưu thông và phân phối. Trong
một thị trường thống nhất như EU thì mỗi quốc gia không cần thiết phải sản xuất một
sản phẩm cụ thể hoặc dự trữ sản phẩm đó, miễn có một hệ thống vận tải hiệu quả có
thể giao hàng nhanh chóng từ một quốc gia khác.
2.2.2 Logistics có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hoá chu trình lưu
chuyển của sản xuất kinh doanh từ khâu đầu vào nguyên vật liệu, phụ kiện…tới sản
phẩm cuối cùng đến tay khách hàng sử dụng.
Kể từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX, liên tiếp các cuộc khủng hoảng năng lượng
buộc các doanh nghiệp phải quan tâm tới chi phí, đặc biệt là chi phí vận chuyển. Các
giai đoạn lãi suất ngân hàng cao hơn cũng khiến các doanh nghiệp nhận thức sâu sắc
hơn về vốn, vì vốn bị đọng lại do việc duy trì hàng tồn kho. Vì vậy muốn tối ưu hoá
quá trình sản xuất phải cắt giảm tất cả những chi phí không chỉ trong hoạt động sản
xuất mà cả trong những lĩnh vực khác như vận tải, lưu kho phân phối hàng hoá. Làm
thế nào để cắt giảm được những chi phí này trong chu trình lưu chuyển của sản xuất
kinh doanh. Tất cả những hoạt động này chỉ có thể kiểm soát bằng hệ thống Logistics
tiên tiến có sử dụng công nghệ thông tin hiện đại.
2.2.3 Logistics đóng vai trò hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong
hoạt động sản xuất kinh doanh.
Mục đích sản xuất kinh doanh là lợi nhuận. Muốn đạt được lợi nhuận như
mong muốn phải đưa ra được phương án sản xuất kinh doanh tối ưu. Nhưng trong
quá trình thực hiện, người sản xuất kinh doanh còn phải đối mặt với nhiều yếu tố
khách quan cũng như chủ quan, để giải quyết được phải có cơ sở để đưa ra những
quyết định chính xác. Nguồn nguyên liệu cung ứng ở đâu, thời gian nào, phương tiện
vận tải nào sẽ được lựa chọn để vận chuyển, địa điểm kho chứa nguyên liệu, hàng
hoá... tất cả những vấn đề này muốn giải quyết có hiệu quả không thể thiếu được vai
trò của Logistics. Logistics cho phép người quản lý kiểm soát và ra quyết định chính
xác những vấn đề như vật liệu cung ứng, lưu trữ trong kho, thời gian địa điểm cung
ứng, phương thức vận chuyển... để giảm tối đa chi phí phát sinh đảm bảo hiệu quả
trong sản xuất kinh doanh.
15
mắt xích "cung - cầu". Xu hướng đó không những đòi hỏi phải phối hợp liên hoàn
16
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
các phương thức vận tải (dịch vụ vận tải đa phương thức) mà còn phải kiểm soát
được các lượng thông tin, luồng hàng hoá... Chỉ khi tối ưu được quá trình này mới
giải quyết được vấn đề đặt ra là: vừa làm tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp sản
xuất, vừa làm tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải giao
nhận, đảm bảo được lợi ích chung.
2.3 Tác dụng của dịch vụ Logistics
Tác dụng của Logistics được thể hiện trên các mặt sau đây:
2.3.1 Dịch vụ logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí
trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp.
Cho đến nay theo thống kê của một số tổ chức nghiên cứu về Logistics như
viện nghiên cứu Logistics của Mỹ cho biết chi phí cho hoạt động Logistics chiếm tới
khoảng 10 - 13% GDP ở các nước phát triển, con số này ở các nước đang phát triển
thì cao hơn khoảng 15 - 20% (Trung Quốc là 16%, Ấn Độ là 15%). Điều này cho
thấy chi phí cho Logistics là rất lớn. Vì vậy với việc hình thành và phát triển dịch vụ
Logistics sẽ giúp các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân giảm được
chi phí trong chuỗi Logistics, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh tinh giảm hơn và
đạt hiệu quả hơn. Giảm chi phí trong sản xuất, quá trình sản xuất kinh doanh tinh
giảm, hiệu quả sản xuất kinh doanh đựoc nâng cao, góp phần tăng sức cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trường. Thực tế những năm qua tại các nước Châu Âu, chi phí
Logistics đã giảm xuống rất nhiều và còn có xu hướng giảm nữa trong các năm tới.
2.3.2 Dịch vụ Logistics có tác dụng tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động
lưu thông phân phối.
Giá cả hàng hoá trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng với phí
lưu thông. Chi phí lưu thông hàng hoá, chủ yếu là chi phí vận tải chiếm một tỷ lệ
không nhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hoá trên thị trường, đặc biệt là hàng
hoá trong buôn bán quốc tế. Vận tải là yếu tố quan trọng của lưu thông. C.Mac nói
2.3.4 Logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế.
Sản xuất mục đích là phục vụ tiêu dùng, cho nên trong sản xuất kinh doanh
vấn đề thị trường là vấn đề quan trọng luôn được các nhà sản xuất kinh doanh quan
tâm. Thị trường cung ứng và tiêu thụ sản phẩm càng rộng càng tạo điều kiện cho sản
xuất kinh doanh phát triển. Sản xuất kinh doanh phát triển thì càng đạt được hiệu quả
18
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
cao. Trong xu thế toàn cầu hoá, quốc tế hoá diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc đã làm cho
khoảng cách về mặt không gian giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngày càng trải
rộng. Các nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm lĩnh và mở rộng thị trường cho sản
phẩm của mình phải có sự hỗ trợ của dịch vụ Logistics. Dịch vụ Logistics có tác
dụng như chiếc cầu nối trong việc chuyển dịch hàng hoá trên các tuyến đường mới
đến các thị trường mới đúng theo yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra. Dịch vụ
Logistics phát triển có tác dụng rất lớn trong việc khai thác và mở rộng thị trường
kinh doanh cho các doanh nghiệp.
2.3.5 Dịch vụ Logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu
chuẩn hoá chứng từ trong kinh doanh đặc biệt trong buôn bán và vận tải quốc tế.
Thực tiễn, một giao dịch trong buôn bán quốc tế thường phải tiêu tốn các loại
giấy tờ, chứng từ. Theo ước tính của liên hợp quốc cho thấy chi phí về giấy tờ để
phục vụ mọi mặt giao dịch thương mại trên thế giới hàng năm đã vượt quá 420 tỷ
USD. Và theo các chuyên gia buôn bán quốc tế thì riêng các giấy tờ, chứng từ rườm
rà hàng năm khoản chi phí tiêu tốn cho nó cũng chiếm tới hơn 10 % kim ngạch mậu
dịch quốc tế, ảnh hưởng rất lớn đến các họat động buôn bán quốc tế.
Việc cung cấp các dịch vụ Logistics đa dạng trọn gói đã có tác dụng giảm rất
nhiều các chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế. Người vận tải giao
nhận ngày nay trở thành người cung cấp các dịch vụ Logistics như gom hàng, tổ chức
giao nhận chuyên chở hàng. Tổ chức thực hiện việc giao nhận vận chuyển hàng từ
kho người bán đến tận kho người mua (Door to Door) , trên các phương thức vận tải
khác nhau mà chỉ cần một hợp đồng vận tải thể hiện trên một chứng từ với một chế
dựng Lộ trình Hội nhập nhanh ngành dịch vụ logistics trong ASEAN để ký kết tại
Hội nghị Không chính thức các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM Retreat) vào tháng
5/2007. Việt Nam được cử làm nước điều phối chung về xây dựng Lộ trình này.
Tháng 8/2006 và tháng 1/2007, Việt Nam đã tổ chức hai Hội nghị Tham vấn ASEAN
về logistics tại Hà Nội với sự tham gia rộng rãi của đại diện các nước ASEAN, giới
doanh nghiệp và các học giả liên quan trong khu vực. Trong ASEAN, bản dự thảo Lộ
trình Hội nhập nhanh ngành logistics đã được thảo luận tại các diễn đàn khác nhau
như Hội nghị các Quan chức kinh tế cao cấp (STOM), Hội nghị các Quan chức Cao
cấp về viễn thông (TELSOM) và các Ủy ban chức năng của ASEAN như Ủy ban
20
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
điều phối về Hải quan (CCC), Ủy ban điều phối về dịch vụ (CCS). Hiện nay, Việt
Nam phối hợp với Ban Thư ký ASEAN đã tổng hợp lấy ý kiến của các nước, các
nhóm công tác để hoàn chỉnh dự thảo lần 3 (dự thảo cuối cùng) của Lộ trình Hội
nhập nhanh ngành dịch vụ logistics.
Theo nội dung của dự thảo lần 3 của Lộ trình Hội nhập nhanh ngành dịch vụ
logistics trong ASEAN, thời hạn cuối cùng để tự do hóa các phân ngành thuộc dịch
vụ logistics là năm 2013,nhưng phương pháp tiếp cận để xử lý vấn đề tự do hóa sẽ
được thảo luận và thống nhất trong khuôn khổ Ủy ban điều phối về dịch vụ ASEAN
(CCS). Xét về phạm vi, dịch vụ logistics trong ASEAN được coi là gồm 11 phân
ngành sau:
1. Dịch vụ xếp dỡ hàng hóa trong vận tải biển (có mã phân loại trong Bảng
phân loại các hàng hóa và dịch vụ chủ yếu của Liên Hợp Quốc là 741-CPC
741)
2. Dịch vụ kho bãi (CPC 742)
3. Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa (CPC 748)
4. Các dịch vụ bổ trợ khác (CPC 749)
5. Dịch vụ chuyển phát (CPC 7512**)
6. Dịch vụ đóng gói (CPC 876)
22
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
- Phương thức 4: Chưa cam kết.
3.1.2. Vận tải đường thủy nội địa gồm hai phân ngành là vận tải hành khách
và vận tải hàng hóa nội địa
- Phương thức 1: Chưa cam kết
- Phương thức 2: Không hạn chế
- Phương thức 3: Chỉ cho phép thành lập liên doanh với vốn góp không
vượt quá 49% vốn pháp định
- Phương thức 4: Chưa cam kết
3.1.3. Vận tải hàng không gồm 3 phân ngành bán và tiếp thị sản phẩm hàng
không, đặt, giữ chỗ bằng máy tính, bảo dưỡng và sửa chữa máy bay.
- Dịch vụ bán và tiếp thị sản phẩm hàng không: Phương thức 1 và 2: Không
hạn chế. Trong Phương thức 3, các hãng hàng không nước ngoài được
phép cung cấp dịch vụ tại Việt Nam thông qua văn phòng bán vé của mình
hoặc các đại lý tại Việt Nam. Phương thức 4: Chưa cam kết
- Dịch vụ đặt, giữ chỗ bằng máy tính: Phương thức 1, 2, 3 không hạn chế,
ngoại trừ nhà cung cấp nước ngoài phải sử dụng mạng viễn thông công
cộng dưới sự quản lý của nhà chức trách viễn thông Việt Nam. Phương
thức 4: Chưa cam kết
- Dịch vụ bảo dưỡng và sửa chữa máy bay: Phương thức 1 và 2: Không hạn
chế. Phương thức 3: Cho phép thành lập liên doanh với vốn góp nước
ngoài là 51% kể từ ngày gia nhập. Đến năm 2012 sẽ cho phép thành lập
liên doanh 100% vốn nước ngoài.
3.1.4.Vận tải đường sắt: Phương thức 1 và 4: Chưa cam kết, phương thức 2:
Không hạn chế, phương thức 3 cho phép lập liên doanh với vốn góp nước ngoài
không quá 49%.
3.1.5Vận tải đường bộ: Phương thức 1 và 4 chưa cam kết. Phương thức 2
không hạn chế. Phương thức 3 cho phép hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc
Phương thức 4: Không cam kết.
24
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Thương mại
3.4.Dịch vụ phân phối:
Về cơ bản, Việt Nam giữ được như BTA, tức là khá chặt so với các nước mới
gia nhập. Trước hết, về thời điểm cho phép thành lập doanh nghiệp bán lẻ 100% vốn
nước ngoài là như BTA (1/1/2009). Thứ hai, tương tự như BTA, ta không mở cửa thị
trường phân phối xăng dầu, dược phẩm, sách báo, tạp chí, băng hình, thuốc lá, gạo,
đường và kim loại quý cho nước ngoài. Nhiều sản phẩm nhạy cảm như sắt thép, xi
măng, phân bón… ta chỉ mở cửa thị trường phân phối sau 3 năm kể từ ngày gia nhập.
Doanh nghiệp có có vốn đầu tư nước ngoài, mở điểm bán lẻ thứ hai trở đi phải được
Việt Nam cho phép theo từng trường hợp cụ thể.
Xét về phương thức cung cấp dịch vụ theo quy định của WTO, trong cam kết
gia nhập Việt Nam không cam kết Phương thức 1 (đồng nghĩa với việc kiểm soát bán
lẻ theo đơn đặt hàng qua mạng), trừ phân phối các sản phẩm phục vụ nhu cầu cá nhân
và các chương trình phần mềm máy tính hợp pháp và 4 (không cam kết về việc công
dân các nước thành viên WTO vào Việt Nam để phân phối hàng hóa với tư cách cá
nhân độc lập), và không hạn chế Phương thức 2 (người Việt Nam sang các quốc gia
thành viên WTO để sử dụng dịch vụ phân phối do các nhà phân phối của các nước đó
cung cấp).
Trong Báo cáo của Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO, Việt Nam
sẽ giành quyền kinh doanh đầy đủ cho các cá nhân và doanh nghiệp nước ngoài
(trong đó bao gồm quyền phân phối sản phẩm cho các cá nhân và doanh nghiệp được
phép phân phối sản phẩm đó ở Việt Nam) kể từ ngày 1/1/2007, ngoại trừ một số sản
phẩm chịu sự điều chỉnh của cơ chế thương mại nhà nước (thuốc lá, xăng dầu, báo,
tạp chí chuyên ngành, băng đĩa hình, tàu vũ trụ, máy bay trực thăng), gạo (cho phép
xuất khẩu kể từ ngày 1/1/2011), dược phẩm, phim điện
3.5.Dịch vụ máy tính và liên quan tới máy tính:
Việt Nam cam kết Không hạn chế trong Phương thức 1 và 2. Trong Phương