TIỂU LUẬN: Báo cáo tình hình kinh tế tại chi nhánh NHCT-KVII- Hai Bà Trưng doc - Pdf 12



TIỂU LUẬN:

Báo cáo tình hình kinh tế tại
chi nhánh NHCT-KVII- Hai
Bà Trưng Giới thiệu về chi nhánh NHCT-KVII- Hai Bà Trưng
I.1.Qúa trình hình thành và phát triển:
Ngân hàng Công thương Khu vựcII Hai Bà Trưng là một trong những Chi
nhánh của Ngân hàng Công Thương Việt Nam đặt tại Quận Hai Bà Trưng – Hà
Nội. Ngân hàng được thành lập từ năm 1955 với tên gọi “ Chi điếm Ngân hàng
Hai Bà Trưng”. Đến tháng 11/1985 để phục vụ sản xuất kinh doanh trên địa bàn
quận được tốt hơn, Ngân hàng tách thành hai bộ phận:
Một bộ phận có nhiệm vụ đắp ứng nhu cầu tín dụng của các đơn vị kinh tế
tập thể, tư nhân, hộ gia đình, có trụ sở đặt tại Trương Định với tên gọi “ Ngân hàng
Công Thương khu vực I quận Hai Bà Trưng”

Do quận Hai Bà Trưng là một địa bàn đông dân cư và nhiều thành phần kinh
tế, đặc biệt là có những doanh nghiệp lớn như Công ty Dệt 8/3 ;Nhà máy khoá Minh
Khai ; Nhà máy bia Halida… nên Ngân hàng Công Thương khu vực IIHai Bà
Trưng đã có một liượng khách hàng thường xuyên rất lớn, tạo môi trường phục vụ
lý tưởng cho Ngân hàng. Đó là những phục vụ trôi nổi mà Ngân hàng Công Thương
khu vực II Hai Bà Trưng có được.
Tuy vậy cũng có nhiều khó khăn và hạn chế trong môi trường kinh doanh đã
làm cho Ngân hàng Công Thương khu vực IIHai Bà Trưng mặc dù có mở rộng và
đa dạng hoá hoạt động kinh donh nhưng hầu hết vẫn chủ yếu tập trung vào nghiệp
vụ truyền thống đơn thuần của Ngân hàng là huy động tiền gửi và cho vay trực tiếp.
II. 2. Các định hướng mục tiêu hoạt động của Ngân hàng:
Theo phương châm “ phát triển- an toàn - hiệu quả” của Ngân hàng Công
Thương Việt Nam, Ngân hàng Công Thương khu vực II Hai Bà Trưng đã đề ra mục
tiêu và nhiệm vụ công tác năm 2002 như sau:
*Hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu chủ yếu sau:
Tổng nguồn vốn huy động tăng so với cuối năm 2001 là 22%
Dư nợ cho vay và các khoản đầu tư kinh tế khác tăng 21%
Nợ quá hạn dưới 3%
Lợi nhuận tăng trên 9% so với năm 2000
*Tập trung chỉ đạo công tác tín dụng bám sát các định hướng, tín dụng phải thực
sự góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp, đưa hoạt
động của chi nhánh đi đúng hướng đạt mục tiêu đã đề ra. Tăng cường công tác tiếp
thị, linh hoạt trong việc thực hiện chính sách khách hàng. Đẩy việc tìm các dự án
khả thi. Tập trung xử lý nhanh chóng có hiệu quả một số khoản nợ quá hạn.
*Đẩy mạnh hoạt động thanh toán quốc tế, tăng cường quốc tế, tăng cường quản
lý kinh doanh ngoại hối
*Tăng cường công tác kiểm tra- kiểm soát nội bộ.

 Phòng kế toán với quy mô hoạt động và mức độ hiện đại công nghệ ngân hàng,
công tác quản lý ké toán tín dụng đổi mới theo chương trình kỹ thuật mới đã đi
vào ổn định, nâng cao trách nhiệm phục vụ kịp thời và chính xác mọi nhu cầu
thanh toán.
 Phòng thông tin điện toán: Hiện đại hoá công nghệ ngan hàng và công tác thanh
toán, ứng dụng thành tựu kỹ thuật tiên tiến để thanh toán chính xác an toàn, tiện
lợi, cũng là xu hướng tất yếu đối với nền kinh tế mở cửa của Việt Nam. Đây
chính là một phương châm cạnh tranh có hiệu quả của hoạt động Ngân hàng.
Phòng thông tin điện toán chính là trung tâm thông tin dữ liệu, xử lý, kiểm soát,
phân phối, lưu trữ, truyền nhận và cung cấp thông tin cho quản lý, điều hành
kinh doanh của Chi nhánh một cách nhanh chóng và có hiệu quả.
 Phòng Kiểm soát nội bộ thực hiện vai trò kiểm soát theo tinh thần chỉ đạo của
Ngân hàng Công thương Việt Nam: chỉ đạo sát sao và chủ động kiểm soát trên
các mặt nghiệp vụ tín dụng, nguồn vốn, kế toán tài chính, tiền tệ kho quỹ kinh
doanh vàng bạc, chấp hành dự trữ bắt buộc, chế độ an toàn kho quỹ, giao nhận
tiền… Đặc biệt là kiểm tra các hồ sơ vay vốn, từ đó đôn đốc bổ sung, hoàn
thiện những yếu tố pháp lý và những quy định của chế độ đã ban hành. Thực
hiện tốt công tác kiểm tra nội bộ, cho phép chấn chỉnh kịp thời những tồn tại,
thiếu sót trong các mặt nghiệp vụ và ngăn chặn những phát sinh mới, góp phần
hạn chế rủi ro trong kinh doanh.
 Phòng Kinh doanh, hay còn gọi là phòng tín dụng. Phòng có chức năng thực
hiện các khoản cho vay ngắn hạn, trung- dài hạn, cho vay bằng ngoai tệ. Kể từ
vài năm gần đây, Chi nhánh còn thực hiện chương trình cho vay đối với sinh
viên học giỏi trường Đại học Bách khoa, Xây Dựng, Mở theo đúng chủ trương
đúng đắn của nhà nước. .
Ngoài ra, phòng còn thực hiện một chức năng kinh doanh đối ngoại gồm việc
mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế, thanh toán nhờ thu, dịch vụ chi trả kiều hối,

vụ sản xuất kinh doanh (Năm 2000: tổng số có 22 dự án được thẩm định và 17 dự
án đã phát triển tiền vay đưa tốc độ tăng dư nợ trung và dài hạn lên 121,2% so với
năm 1999).
Với những giải pháp tích cực, sáng tạo và thích hợp trong đầu tư vốn, triển
khai thực hiện tốt chính sách khách hàng linh hoạt, đặc biệt quan tâm đến những
khách hàng truyền thống, các doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt đã mang lại
hiệu quả thiết thực trong hoạt động cho vay của Chi nhánh cũng như trong kết quả
kinh doanh của các doanh nghiệp.
Chất lượng tín dụng là một vấn đề được Chi nhánh coi trọng và thực tế đã có
nhiều tiến bộ. Ngoài việc hoàn thiện các qui chế, qui trình tín dụng, Chi nhánh
thường xuyên kiểm tra đánh giá phân loại khách hàng, phân loại nợ để bổ sung kế
hoạch cho vay và thu nợ. Hoạt động cho vay đã thực hiện tốt mục tiêu cho vay theo
dự án từ khâu: thẩm định hồ sơ, thông qua hội đồng tín dụng, dám sát việc thanh
toán, v.v… cho nên đã đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng đồng thời hạn chế
được rủi ro.
Ngoài ra, Chi nhánh còn luôn quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng
nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ tín dụng trong quá trình thẩm định và kiểm tra giám
sát món vay.
Tính đến 31/12/2001 tổng số nợ quá hạn chiếm 1,9% trong tổng dư nợ, giảm
1,2% so với cuối năm 2000 chứng tỏ chất lượng tín dụng và công tác thu nợ quá hạn
của Chi nhánh ngày càng tiến bộ.
Bên cạnh đó, Chi nhánh đã quan tâm phát triển các nghiệp vụ bảo lãnh, góp
phần đa dạng hoá hoạt động ngân hàng, đồng thời đáp ứng nhu cầu hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: bảo lãnh thi công, bảo lãnh dự thầu các
công trình, bảo lãnh thực hiện hợp đồng… theo đúng qui định của NHCTVN.
Về công tác kiểm tra sử dụng vốn vay: Để đảm bảo an toàn vốn vay, Chi
nhánh đã chú trọng công tác kiểm tra sử dụng vốn vay của các doanh nghiệp. Hầu
hết các doanh nghiệp vay vốn sử dụng đúng mục đích và trả nợ Ngân hàng đúng kế hợp pháp, hợp lệ, sử lý nghiệp vụ thành thạo chính xác và trung thực. Nhờ vậy mà
các công việc cũng như các nghiệp vụ phát sinh đều được giải quyết một cách khoa
học và mau lẹ khiến cho khách hàngcảm thấy yên tâm, thoải mái khi giao dịch qua
Ngân hàng.
I.4.5. Công tác thu chi tiền mặt.
Chi nhánh luôn chủ động tích cực tổ chức màng lưới thu chi nhanh chóng
cho khách hàng, đảm bảo thu chi kịp thời, chính xác, với thái độ văn minh lịch sự,
làm tốt các dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng như: thu tiền lưu động, chuyển tiền
nhanh đi các tỉnh, đáp ứng nhu cầu tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ của khách hàng.
Với tinh thần trách nhiệm cao, trong quá trình phục vụ các cán bộ nhân viên
Ngân hàng làm công tác thu chi tiền mặt đã thực hiện trả tiền thừa 401 món cho
khách hàng với tổng số tiền trên 300 triệu VND và gần 5000 USD.
Vấn đề an toàn kho quỹ đã dược Chi nhánh đặc biệt quan tâm và chấp hành
nghiêm chỉnh các qui định về bảo vệ, quản lý kho, giao nhận tiền… bảo vệ an toàn
tuyệt đối tiền, tài sản trong kho và trên đường vận chuyển.
I.4.6. Công tác thông tin điện toán.
Ngân hàng Công thương khu vực II Hai Bà Trưng đã duy trì và tiếp tục phát
triển công tác hiịen đại hoá công nghệ ngân hàng theo định hướng của NHCT VN.
Với vai trò trung tâm thông tin xử lý dữ liệu, hệ thống vi tính của Chi nhánh
đã thực hiện tốt việc thu nhận, xử lý, kiểm soát, truyền nhận và cung cấp thông tin
cho quản lý, điều hành kinh doanh một cách nhanh chóng, có hiệu quả.
Triển khai thực hiện tốt các chương trình quản lý kế toán-tín dụng, tiết kiệm
điện tử, thanh toán quốc tế, quản lý nguồn nhân lực, phong ngừa rủi ro…
Tổ chức khai thác triệt để các loại máy móc thông tin điện toán hiện có, đáp
ứng tối đa thiết bị tin học cho các phòng nghiệp vụ.
Phối hợp với các phòng ban thực hiện tốt chương trình thông tin báo cáo.
Đảm bảo môi trường kỹ thuật cho các phần mềm hiện có hoạt động thông suốt.
I.4.7. Công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ.

chi nhánh Ngân hàng có công tác TTKDTM thực sự có hiệu quả và thu hút được
đông đảo khách hàng trên địa bàn quận cũng như các đơn vị kinh tế đóng tại các
quận khác. ý thức được mong muốn của khách hàng khi thực hiện TTKDTM là an
toàn –kịp thời- chính xác, Ngân hàng Công Thương Khu vực II Hai Bà Trưng đã
đáp ứng được phần lớn các nhu cầu đó bằng uy tín, khả năng kinh doanh và thái độ
phục vụ của mình.
Do vậy, tình hình thanh toán chung tại Chi nhánh trong thời gian gần đây có
nhiều chuyển biến tốt, cụ thể được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1:
Doanh số ttbtm & ttkdtm theo từng quý 2001 - 2002
Chỉ tiêu
Quý I/2001

Quý II/2001

Quý III/2001

Q
uý IV/2001

Quý I/2002

S

1.188.829

19,85

1.419.893

27,85

1.975.871

26,3

2.034.871

20,76

TTKDTM

4.528.976

81.5

4.798.943

80,15

3.677.924

72,15


100 Qua bảng 1, cho thấy doanh số TTBTM & TTKDTM từng quý đều có biến động,
làm cho doanh số thanh toán từng quý có chiều hướng tăng lên vào cuối năm 2001 và đầu
năm 2002. Tỷ trọng TTKDTM có xu hướng tăng nhanh đặc biệt vào quý IV năm 2001 và
quý I năm 2002 chứng tỏ khách hàng ngày càng tin tưởng và áp dụng các thể thức
TTKDTM qua Ngân hàng. Việc gia tăng về doanh số thanh toán còn nói lên rằng: Ngân
hàng đã sử dụng các biện pháp, các chính sách phù hợp để phục vụ khách hàng và đã được
khách hàng chấp nhận.
Nhìn lại 3 quý đầu năm có thể thấy, mặc dù tỷ trọng TTKDTM chiếm tỷ trọng
tương đối lớn trong công tác thanh toán nói chung, doanh số TTBTM & TTKDTM của quý
I, quý II không có biến động nhiều, đến quý III doanh số thanh toán chung giảm từ
5.556.818 triệu đồng (quý I) xuống còn 5.097.817 triệu đồng (quý III).Trong khi TTBTM
lại tăng từ 18,59% (quý I) lên 27,85% (quýIII) kéo theo công tác TTKDTM giảm từ 81,5%
xuống còn 72,15%.
Nguyên nhân chủ yếu là do Ngân hàng phải chi trả tiết kiệm đến hạn, các khoản tiền
lương và các khoản phải chi khác sau năm quyết toán. Bên cạnh đó có những khách hàng
chưa hiểu rõ những ưu điểm của TTKDTM nên vẫn có tâm lý thích sử dụng tiền mặt.Đó
cũng là do Chi nhánh chưa quan tâm nhiều đến công tác tuyên truyền, quảng cáo rộng rãi
về Ngân hàng mình, đặc biệt là công tác TTKDTM Nhận thức được thực trạng và những

nhánh ngày càng được nâng cao.
II.2. Phân tích tình hình vận dụng các hình thức thanh toán tại Chi nhánh Ngân
hàng Công Thương Khu vực II Hai Bà Trưng.
Hiện nay Chi nhánh đã áp dụng chủ yếu 3 hình thức TTKDTM là:
+ Thanh toán bằng séc.
+ Thanh toán bằng UNT.
+ Thanh toán bằng UNC.
Thực tế tình hình thanh toán của Chi nhánh được thể hiện qua bảng như sau:

Bảng 2:
Tình hình thực hiện công tác ttkdtm tại nhct hbt
trong năm 2000 và quý i năm 2002
Th
ời
gian
Séc

U
ỷ nhiệm thu

U
ỷ nhiệm chi

T
ổng

S

I/2002
1.490 174.147 6,1 1.146 6.837 0,2 9.781 2.681.908 93,7 12.417 2.862.892 100

Theo thống kê, về số lần giao dịch,từ quý I/2001 đến quý IV/2001 tổng số
món tăng từ 11.923 món đến 15.523 món, đồng thời doanh số cũng tăng từ
2.294.588 triệu đồng đến 2.671.618 triệu đồng. Sang đến quý I/2002, mặc dù
tổng số món giao dịch có giảm xuống: cụ thể là giảm 3.106 món nhưng doanh số
thanh toán lại tăng lên 191.274 triệu đồng so với quý IV/2001.
Qua bảng 2 ta có thể thấy hình thức UNC được khách hàng ưa dùng hơn
cả.Do vậy, doanh số thanh toán bằng UNC luôn chiếm phần lớn trong công tác
TTKDTM vì khách hàng cho rằng hình thức thanh toán này thuận tiện và mang
lại lợi ích kinh tế lớn hơn cho mình. Từ quý IV/2001 đến quý I/2002 chỉ trong
một thời gian ngắn mà doanh số thanh toán bằng UNC đã tăng từ 2.681.908 triệu
đồng đến 2.862.892 triệu đồng.
Trong năm 2001, số món giao dịch và doanh số thanh toán bằng séc tuy
không chiếm nhiều trong tổng TTKDTM nhưng qua từng quý đã có sự tăng lên
rõ rệt, cụ thể là số món giao dịch không ngừng tăng từ 1.684 món ở quý 1/2001
tới 2.566 món vào quý IV/2001 làm cho doanh số tăng thêm 122.092 triệu đồng.
Điều này chứng tỏ khách hàngđã sử dụng hình thức thanh toán này nhiều hơn.
Vào đầu năm 2002 các doanh nghiệp chưa có nhiều hoạt động kinh doanh nên số
lần giao dịch bằng TTKDTM cũng có phần giảm xuống, trong đó thanh toán
bằng séc giảm 1.076 món so với cuối năm 2001.
Riêng đối với UNT luôn chiếm phần khá nhỏ trong tổng doanh số
TTKDTM vì khách hàng thường dùng hình thức thanh toán này để chi trả những
khoản tiền nhỏ, và có chiều hướng giảm. Trong quý I/2001 doanh số thanh toán
bằng UNT là 10.436 triệu đồng đến quý IV giảm xuống chỉ còn 8.255 triệu đồng
và sang đến quý I/2002 lại tiếp tục giảm xuống còn 6.837 triệu đồng.

II/2001 1.498 62.871 30 499 147.729 70 1.997 210.600 100
III/2001 1.373 61.123 35 561 116.039 65 1.934 177.162 100
IV/2001 1.796 89.262 39 770 137.554 61 2.566 266.816 100
I/2002 1.204 62.492 36 286 111.655 63 1.490 174.147 100 Với số liệu ở bảng 3, ta thấy doanh số thanh toán bằng séc qua từng quý
tăng giảm không đều và sự chênh lệch về việc sử dụng séc là tương đối lớn.
Tổng doanh số thanh toán bằng séc có chiều hướng tăng mạnh từ quý
I/2001 đến quý II/2001 là 69.876 triệu đồng và từ quý III đến quý IV/2001 tăng
là 49.654 triệu đồng. Nếu so sánh giữa 2 quý I/2001 và quý IV/2001 sẽ thấy
doanh số tăng rất mạnh từ 140.724 triệu đồng ở quý I/2001 đến 226.816 triệu
đồng ở quý IV/2001.
Tuy nhiên, doanh số này lại giảm khá nhanh trong khoảng thời gian từ quý
II/2001 đến quý III/2001 là 33.438 triệu đồng và từ quý IV/2002 đến quý I/2002
là 52.669 triệu đồng. Cụ thể từng loại séc như sau:
II.2.1.1. Séc bảo chi.
Hình thức thanh toán bằng SBC là hình thức thanh toán chủ yếu trong
thanh toán séc tại Ngân hàng Công Thương - Hai Bà Trưng hiện nay. Donh số
thanh toán cũng như tỷ trọng thanh toán của nó luôn chiếm phần lớn nhất so với
các loại séc khác, khoảng 60-70% trong tổng doanh số thanh toán bằng séc.
SBC có ưu thế hơn so với séc chuyển khoản(SCK) bởi nó có phạm vi
thanh toán rộng có thể cùng Ngân hàng, khác ngân hàng, khác địa bàn hay khác
hệ thống và độ an toàn cao nên đã tạo được thuận lợi trong qua trình thanh toán
của khách hàng. Khi có nhu cầu phát hành SBC, người mua phải ký quỹ đảm bảo
khả năng thanh toán tại Ngân hàng nên số hàng cung ứng của người mua sẽ được
đảm bảo bởi số tiền ký quỹ đó. Tuy nhiên số vốn của người mua sẽ bị đọng trong

Vì bên mua sau khi nhận được hàng từ bên bán sẽ giao séc cho người bán và bên
bán sẽ nhận được tiền hàng sau khi nộp séc vào Ngân hàng phục vụ mình.
Tuy vậy SCK vẫn còn tồn tịa một số những nhược điểm làm cho số món
cũng như doanh số thanh toán thấp hơn so với hình thức thanh toán khác. Hơn
nữa, thông thường người mua thích sử dụng hình thức thanh toán này hơn vì nó
thuận tiện cho họ hơn, còn người bán có thể gặp một số khó khăn trong việc nhận
tiền hàng của mình. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do khi thanh toán
bằng SCK phải tuân thủ nguyên tắc ghi Nợ trước, ghi Có sau nên người thụ
hưởng sau khi nộp séc vào Ngân hàngphục vụ mình chưa được thanh toán ngay
mà còn phải đợi Ngân hàng bên mua kiểm tra và làm thủ tục ghi Nợ trên séc.
Trong trường hợp bên mua và bên bán ở 2 ngân hàng khác nhau trên cùng địa
bàn phải thực hiện qua phương thức bù trừ thì quá trình luân chuyển chứng từ sẽ
kéo dài trong 2 hoặc 3 ngày. Nếu tài khoản của người muakhông đủ tiền thì
người bán sẽ phải đợi lâu hơn trong khi họ lại không muốn vốn của mình bị
chiếm dụng. Bên cạnh đó thời hạn của SCK chỉ có 15 ngày nên người bán mặc
dù muốn thanh toán ngay nhưng vì nhiều lý do có thể để séc bị qúa hạn và khó
nhận được tiền hàng của mình.
Tóm lại, qua việc tìm hiểu các hình thức thanh toán bằng séc tại chi nhánh
NHCT-HBT ta có thể thấy được những ưu điểm cũng như các khuyết diểm của
mỗi loại séc. Đối với 2 khách có quan hệ tín nhiệm lẫn nhau thì séc là hình thức
thanh toán rất phù hợp bởi nó hạn chế được phần nào rủi ro và sự chiếm dụng
vốn. Còn đối với 2 khách hàng chưa có tín nhiệm lẫn nhau hoặc mới giao dịch
với nhau thì sẽ không hoàn toàn yên tâm khi chọn hình thức thanh toán này vì nó
chỉ kà “bản cam kết hứa trả”. Tuy nhiên séc vẫn là hình thức thanh toán chủ yếu
không thể thiếu trong công tác TTKDTM của Ngân hàng.
II.2.2. Hình thức thanh toán bằng UNC- chuyển tiền.
II.2.2.1. Uỷ nhiệm chi.

Tuy nhiên trên thức tế có nhiều khách hàng vẫn chưa quen sử dụng hình
thức này, một phần do họ chưa hiểu rõ về lợi ích khi tham gia thanh toán bằng
hình thức UNC, mặt khác là do UNC vẫn còn tồn tại một số nhược điểm như:
-Người mua phải trích tài khoản của mình trước khi nhận được hàng, do
vậy họ không nắm được tình trạng thực sự của hàng hoá có đúng yêu cầu của
mình không và nếu người bán không chuyển giao hàng thì người mua sẽ gặp rủi
ro mất vốn. Điều này đòi hỏi giữa người mua và người bán phải có sự tín nhiệm
rất cao.
-Đối với bên bán, khi đã chuẩn bị giao hàng đủ tiêu chuẩn cho bên mua
nhưng lúc đó tài khoản của bên mua không đủ để thanh toán thì người bán sẽ
phải mất phí bảo quản, lưu trữ và việc thanh toán sẽ bị chậm laị gây thiệt hại, hư
hỏng đến hàng hoá.
Trong thời gian tới, để tăng doanh số TTKDTM nói chung và doanh số
thanh toán UNC hơn nữa, về phía Ngân hàng cần phải có những biện pháp hợp lý
nhằm phát huy hết ưu diểm đồng thời hạn chế những nhược diểm, tồn tại của
hình thức thanh toánbằng UNC.
II.2.2.2.Séc chuyển tiền.
Đây là loại séc ít được áp dụng nhất tại Chi nhánh, tỷ trọng của nó chỉ
chiếm dưới 1% trong tổng doanh số thanh toán. Nguyên nhân của tình trạng này
là do phạm vi thanh toán của nó quá hẹp, nó chi được dùng để chuyển tiền giữa 2
chi nhánh cùng hệ thống, đồng thời thủ tục thực hiện thanh toán của séc chuyển
tiền cũng không đơn giản. Khi có nhu cầu chuyển tiền bằng SCT, khách hàng
phải nộp vào NHCT 2 liên UNC hoặc 2 liên giấy nộp tiền, giấy nộp ngân phiếu
thanh toán, nội dung ghi rõ họ tên, số chứng minh thư, ngày tháng năm cấp của
người cầm SCT và nội dung chi trả của sécđể xin phát hành. Vì vậy chỉ có người
có tên trên séc mới được nhận tiền từ Ngân hàng gây nên sự bất tiện khi sử dụng
loại séc này.


riêng. Trong năm qua, Ngân hàng đã thực hiện được 6.028 món thanh toán bằng
SCK đạt doanh số thanh toán là 268.358 triệu đồng, 2.039 món thanh toán bằng
SBC đạt doanh số thanh toán là 522.944 triệu đồng, 3 món thanh toán bằng SCT
đạt 55 triệu đồng. Thanh toán bằng UNT có 4.794 món đạt doanh số là 35.811
triệu đồng, đặc biệt là 38.975 món thanh toán bằng UNC đạt doanh số lớn là
8.135.698 triệu đồng với tổng TTKDTM là 18.551.545 triệu đồng, chiếm 76,2%
tổng doanh số thanh toán chung của Ngân hàng. Đây là một kết qủa thật đáng kể
mà không phải Ngân hàng nào trên cùng địa bàn cũng có thể đạt được.
Mặc dù điều kiện kinh tế của đất nước còn gặp nhiều khó khăn và sự nỗ
lực của Ngân hàng là có hạn song NHCT-HBT đã từng bước khắc phụ những
khó khăn đó và đưa ra nhiều các biện pháp để cải thiện các hình thức hoạt động
của mình. Nhờ vậy mà uy tín của Ngân hàng ngày càng được nâng cao.
Trong thời gian gần đây, NHCT-HBT đã kết hợp giữa công nghệ hiện đại
và ứng dụng tin học vào công tác kế toán thống kê nên đã xử lý các nghiệp vụ
phát sinh kịp thời và nhanh chóng hơn. Việc thanh toán liên hàng đã được thực
hiện qua thanh toán điện tử đảm bảo đọ an toàn và chính xác cao cho các khách
hàng, đem lại nhiều hiệu quả rõ rệt.
Với các thành quả mà NHCT-HBT đạt được trong năm qua không thể
không kể đến sự đóng góp đáng kể của các CBCNV trong Ngân hàng, đặc biệt là
các cán bộ kế toán. Họ không chỉ thành thạo về mặt nghiệp vụ chuyên môn mà
còn thể hiện thái độ phục vụ nhiệt tình, chu đáo tạo cho khách hàng đến giao dịch
với Ngân hàng có cảm giác tin tưởng và thoải mái, do đó số lượng khách hàng
đến với Ngân hàng ngày một nhiều hơn.
Bên cạnh đó, Ngân hàng còn áp dụng hình thức quảng cáo trên truyền
hình và trên một số tờ báo để giới thiệu các nghiệp vụ và các dịch vụ mà Ngân
hàng cung cấp những thông tin cần thiết cho các cá nhân và các đơn vị kinh tế,
giúp họ hiểu hơn về các hoạt động của Ngân hàng. Trong năm 2001 Ngân hàng
đã thực hiện mở rộng các dịch vụ thanh toán trong nước cũng như thanh toán
quốc tế nhằm thu hút đông đảo khách hàng đến giao dịch qua Ngân hàng và sẽ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status