lời mở đầu
Thơng mại quốc tế đã đợc khẳng định cả về mặt lý luận và thực tiễn,
là một trong những yếu tố cơ bản của tăng trởng kinh tế, đóng một vai trò
quan trọng vào sự thành công của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nớc. Đặc biệt là lĩnh vực hoạt động xuất khẩu từ lâu đã chiếm một vị trí
quan trọng hàng đầu trong sự tồn tại và phát triển kinh tế của mọi quốc
gia. Trong xu thế toàn cầu hoá các quan hệ kinh tế, mọi quốc gia muốn
phát triển nhanh và bền vững đều phải tham gia vào quá trình phân công
lao động quốc tế một cách có hiệu quả dựa vào lợi thế so sánh của mỗi nớc.
Trong điều kiện nền kinh tế của nớc ta hiện nay cần khẳng định một
cách nhất quán: Chiến lợc hớng xuất khẩu là định hớng phát triển kinh tế
chủ yếu và đợc coi là quốc sách hàng đầu. Báo cáo chính trị của Ban chấp
hành Trung ơng Đảng tại Đại hội lần thứ VIII nhấn mạnh: "Giữ vững
độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phơng hoá, đa dạng
hoá quan hệ đối ngoại. Dựa vào các nguồn lực trong nớc là chính đi đôi
tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài. Xây dựng một nền kinh tế mở, hội
nhập với khu vực và thế giới, hớng mạnh về xuất khẩu đồng thời thay thế
nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nớc sản xuất có hiệu quả". Sự phát
triển mạnh của xuất khẩu sẽ góp phần giải quyết những nhiệm vụ kinh tế
quan trọng. Trớc hết có thể thấy xuất khẩu sẽ mang lại nguồn thu nhập
ngoại tệ to lớn cho đất nớc, góp phần quan trọng vào việc cải thiện cán cân
ngoại thơng và cán cân thanh toán, tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ
công nghiệp hoá đất nớc. Bên cạnh đó xuất khẩu tạo ra khả năng thay đổi
cơ cấu kinh tế một cách năng động kích thích đổi mới trang thiết bị và công
nghệ sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển; tác động tích cực tới việc giải
quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân và là cơ sở để mở rộng
và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại của nớc ta.
Cùng với sự phát triển của đất nớc, cơ cấu hàng xuất khẩu đã có nhiều
thay đổi, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực đã đợc mở rộng. Thuỷ sản là một
1
trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và chiếm tỷ trọng
1-/ Tính tất yếu khách quan của Thơng mại quốc tế:
Thơng mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nớc thông qua
buôn bán nhằm mục đích kinh tế tối đa. Trao đổi hàng hoá là một hình thức của
các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những ng-
ời sản xuất kinh doanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia. Thơng mại quốc tế
(TMQT) là lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nớc tham gia vào phân
công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nớc.
Ngày nay, khi quá trình phân công lao động quốc tế đang diễn ra hết sức sâu
sắc thì TMQT đã trở thành một quy luật tất yếu khách quan và đợc xem nh là một
điều kiện, tiền đề cho sự phát triển kinh tế của mọi quốc gia. Thực tế cho thấy,
không một quốc gia nào có thể tồn tại chứ cha nói gì đến phát triển nếu tự cô lập
mình không quan hệ kinh tế với thế giới. TMQT đã trở thành vấn đề sống còn vì
nó cho phép thay đổi cơ cấu sản xuất và nâng cao mức tiêu dùng của dân c một
quốc gia. Bí quyết thành công trong chiến lợc phát triển kinh tế của nhiều nớc là
mở rộng thị trờng quốc tế và tăng nhanh xuất khẩu sản phẩm hàng hoá qua chế
biến có hàm lợng kỹ thuật cao.
Theo quy luật lợi thế so sánh, nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với
các quốc gia khác trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm, thì quốc gia đó vẫn có
thể tham gia vào TMQT để tạo ra lợi ích của mình. Những lợi ích mà TMQT đem
lại đã làm cho thơng mại và thị trờng thế giới trở thành nguồn lực của nền kinh tế
quốc dân, là nguồn tiết kiệm nớc ngoài, là nhân tố kích thích sự phát triển của lực
lợng sản xuất, của khoa học công nghệ. TMQT vừa là cầu nối kinh tế của mỗi
quốc gia với các nớc khác trên thế giới, vừa là nguồn hậu cần cho sản xuất và đời
sống của toàn xã hội văn minh hơn, thịnh vợng hơn. Chính vì vậy, nó đợc coi là
"bộ phận của đời sống hàng ngày"
(1)
.
2-/ Xuất khẩu - hớng phát triển chung của kinh tế thế giới và Việt Nam:
(1)
Kinh tế học tập II - Trang 322 - David Begg - NXB KHKT 1992
dụng tốt những lợi thế của đất nớc và thông qua quan hệ trao đổi để bù đắp những
sự thiếu hụt, yếu kém để trở thành nớc công nghiệp hoá, hiện đại hoá hoàn chỉnh.
3-/ Vai trò của xuất khẩu hàng hoá trong nền kinh tế quốc dân:
4
Xuất khẩu (XK) hàng hoá là một hoạt động nằm trong lĩnh vực phân phối và
lu thông hàng hoá của một quá trình tái sản xuất mở rộng nhằm mục đích liên kết
sản xuất với tiêu dùng của nớc này với nớc khác. Hoạt động đó không chỉ diễn ra
giữa các cá thể riêng biệt mà là có sự tham gia của toàn bộ hệ thống kinh tế với sự
điều hành của Nhà nớc.
Nền sản xuất xã hội của một nớc phát triển nh thế nào phụ thuộc rất lớn vào
lĩnh vực kinh doanh này. Chính vì vậy, nó có vai trò to lớn đến sự phát triển kinh
tế xã hội của mỗi quốc gia, thể hiện:
3.1. Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc:
Xuất khẩu sẽ mang lại nguồn thu nhập ngoại tệ to lớn cho đất nớc, góp phần quan
trọng vào việc cải thiện cán cân ngoại thơng và cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại tệ.
Để thực hiện đờng lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, trớc hết chúng ta cần phải
nhập khẩu một số lợng lớn máy móc, trang thiết bị hiện đại từ bên ngoài nhằm trang bị
cho nền sản xuất. Nguồn vốn để nhập khẩu thờng dựa vào các nguồn chủ yếu là vay, viện
trợ, đầu t nớc ngoài và xuất khẩu. Nguồn vốn vay rồi cũng phải trả, còn viện trợ và đầu t n-
ớc ngoài thì có hạn, hơn nữa các nguồn này thờng bị phụ thuộc vào nớc ngoài; vì vậy
nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu chính là xuất khẩu.
3.2. Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
sản xuất phát triển:
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi. Sự
phát triển các ngành công nghiệp XK tác động đến các ngành công nghiệp cung cấp
đầu vào cho các ngành sản xuất, tạo ra "mối liên hệ ngợc" thúc đẩy sự phát triển của
các ngành này. Bên cạnh đó khi tích luỹ của các ngành kinh tế đợc nâng cao thì sản
phẩm thô sẽ tạo ra "mối liên hệ xuôi" là nguồn cung cấp đầu vào cho các ngành công
nghiệp chế biến và mối quan hệ này tiếp tục đợc phát triển. Xuất khẩu tạo ra khả năng
bằng việc mở rộng trao đổi, thúc đẩy việc tận dụng các lợi thế các tiềm năng của
đất nớc và tranh thủ đón bắt thời cơ, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, rút
ngắn sự chênh lệch về trình độ phát triển của Việt Nam so với thế giới.
II-/ Những hình thức và nội dung kinh doanh xuất khẩu chủ yếu:
1-/ Những hình thức kinh doanh xuất khẩu chủ yếu:
Theo thuật ngữ chung, TMQT là quá trình trao đổi mua bán hàng hoá và dịch
vụ vợt ra khỏi biên giới một quốc gia để thiết lập quan hệ với nớc khác. Thuật ngữ
này nhấn mạnh đến tính khác biệt về giới hạn địa lý giữa các quốc gia. Ngày nay,
TMQT đã phát triển ở khắp mọi nơi, mọi lĩnh vực trên thế giới dới các hình thức
rất đa dạng và phong phú. Điều này đã dẫn đến một yêu cầu là phải đa ra đợc một
định nghĩa mới bao hàm đợc toàn bộ nội dung cũng nh hình thức TMQT. Ngời ta
đi đến thống nhất với nhau rằng, TMQT là lĩnh vực trao đổi hàng hoá và dịch vụ
giữa các chủ thể mang quốc tịch khác nhau, không phân biệt thời gian và địa
điểm. Theo t duy mới này, mọi hoạt động chuyển giao quyền sở hữu giữa các chủ
thể ở các quốc gia khác nhau với mục đích sinh lời đều đợc coi là hoạt động
TMQT.
6
Xuất khẩu hàng hoá là một bộ phận rất quan trọng của TMQT. Trong nền
kinh tế thị trờng ngày nay thì lĩnh vực hoạt động này đợc biểu hiện dới nhiều hình
thức rất khác nhau. Theo quy định của Nghị định 33 CP (19/4/1994) lĩnh vực kinh
doanh này bao gồm các hình thức chủ yếu sau:
- Xuất khẩu hàng hoá dới các hình thức trao đổi hàng hoá, hợp tác sản xuất
và gia công quốc tế.
- Xuất khẩu thiết bị toàn bộ, thiết bị lẻ, vật t, phụ tùng cho sản xuất.
- Chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất.
- Làm các dịch vụ nh đại lý, nhận uỷ thác xuất khẩu cho các tổ chức kinh tế
nớc ngoài.
- Hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh tế Việt Nam ở nớc ngoài hợp
tác sản xuất và gia công quốc tế.
2-/ Nội dung của kinh doanh xuất khẩu hàng hoá:
thời cơ, điều kiện và phơng thức kinh doanh, đề ra mục tiêu cụ thể, đề ra biện pháp
và công cụ thực hiện nhằm đạt đợc mục tiêu đề ra, và sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh
tế của việc kinh doanh.
2.3. Tạo nguồn hàng xuất khẩu:
Nguồn hàng xuất khẩu là toàn bộ hàng hoá của một công ty, một địa phơng, một
vùng hoặc toàn bộ đất nớc có khả năng và bảo đảm điều kiện xuất khẩu đợc, nghĩa là
nguồn hàng xuất khẩu phải đảm bảo những yêu cầu về chất lợng quốc tế.
Công tác thu mua tạo nguồn hàng ảnh hởng trực tiếp đến chất lợng của hàng
xuất khẩu và tiến độ giao hàng, đến việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu, uy tín của
doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh. Công tác thu mua tạo nguồn hàng có thể
tiến hành qua các hình thức nh: thu mua tạo nguồn hàng theo hợp đồng, không
theo hợp đồng, thông qua liên doanh, liên kết với các đơn vị sản xuất, qua đại lý,...
Các công việc thực hiện nh: Nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu, tổ chức hệ thống
thu mua, ký kết hợp đồng, xúc tiến, khai thác nguồn hàng, tiếp nhận, bảo quản và
xuất kho giao hàng xuất khẩu.
2.4. Thanh toán trong kinh doanh xuất khẩu hàng hoá:
Thanh toán quốc tế là một khâu rất quan trọng trong kinh doanh xuất khẩu hàng
hoá. Hiệu quả kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh này một phần lớn nhờ vào chất lợng
của việc thanh toán. Trong xuất khẩu hàng hoá, thanh toán phải xem xét đến các vấn
đề sau đây: tỷ giá hối đoái, các điều kiện đảm bảo hối đoái, tiền tệ trong thanh toán
quốc tế, thời hạn trong thanh toán, các phơng thức và hình thức thanh toán quốc tế.
2.5. Giao dịch - đàm phán - ký kết hợp đồng xuất khẩu:
2.5.1. Các hình thức giao dịch:
Trên thị trờng thế giới tồn tại nhiều phơng thức giao dịch, mỗi phơng thức
giao dịch có những đặc điểm riêng với kỹ thuật giao dịch riêng. Căn cứ vào mặt
hàng dự định xuất khẩu, đối tợng, thời gian giao dịch và năng lực của ngời tiến
hành giao dịch, mà doanh nghiệp chọn phơng thức giao dịch phù hợp. Thông th-
ờng có các hình thức giao dịch sau: giao dịch trực tiếp, giao dịch qua th tín, giao
dịch qua điện thoại.
8
uy tín của doanh nghiệp và các mối quan hệ với bạn hàng ở các nớc. Bất kỳ một
sai sót nào xảy ra trong quá trình thực hiện các hợp đồng xuất khẩu đều có thể dẫn
đến những hậu quả đáng tiếc nh làm chậm tiến độ hợp đồng, suy giảm chất lợng
hàng hoá,... dẫn đến những tranh chấp khiếu nại rất khó giải quyết, gây tổn thất về
mặt kinh tế. Vì vậy tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu đòi hỏi phải tiến hành
chu đáo, có bài bản trên cơ sở tiết kiệm tối đa các khâu chi phí, nhằm nâng cao lợi
nhuận từ hoạt động kinh doanh xuất khẩu.
9
Nội dung trình tự thực hiện hợp đồng xuất khẩu nh sau:
1. Kiểm tra L/C.
2. Xin giấy phép xuất khẩu (nếu có).
3. Chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu.
4. Thuê tàu và mua bảo hiểm cho hàng hoá (nếu đợc quyền).
5. Làm thủ tục hải quan.
6. Giao hàng lên tàu.
7. Làm thủ tục thanh toán.
8. Khiếu nại, trọng tài (nếu có).
III-/ Những nhân tố chủ yếu ảnh hởng đến hoạt động xuất khẩu
hàng hoá.
A-/ Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp:
Mỗi một chủ thể hoạt động trong xã hội đều chịu sự chi phối nhất định các môi
trờng bao quanh nó. Đó là tổng hợp các yếu tố có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp qua
lại lẫn nhau. Chính những nhân tố này quy định xu hớng và trạng thái hành động của
chủ thể. Trong kinh doanh TMQT, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất khẩu, các doanh
nghiệp xuất khẩu phải chịu sự chi phối của các nhân tố bên trong lẫn nhân tố bên ngoài
nớc. Các nhân tố này thờng xuyên biến đổi, và vì vậy làm cho hoạt động kinh doanh
xuất khẩu ngày càng phức tạp hơn. Để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh đòi hỏi
các nhà kinh doanh phải nắm bắt và phân tích đợc ảnh hởng của từng nhân tố cá biệt
tới hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ cụ thể.
1-/ Nhân tố kinh tế - xã hội trong nớc:
1.2. Các chính sách và quy định của Nhà nớc:
Thông qua việc đề ra các chính sách và quy định, Nhàn ớc thiết lập môi trờng
pháp lý nhằm điều chỉnh các hoạt động của các doanh nghiệp, nên nó ảnh hởng rất
lớn đến hoạt động xuất khẩu. Chúng ta có thể xem xét tác động của các chính sách
đó dới các khía cạnh sau:
a-/ Tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh tỷ lệ giữa giá trị của hai đồng tiền của hai
nớc với nhau.
Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng thực hiện
chiến lợc hớng ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu. Chế độ tỷ giá "cứng" có thể tác động tích
cực đến tăng trởng xuất khẩu một cách cụ bộ thông qua việc giảm giá đầu vào nhập
khẩu của hàng xuất khẩu, song đây chỉ là tác động cục bộ. Tỷ giá hối đoái tác động
đến giá cả từng mặt hàng xuất khẩu. Nếu tỷ giá hối đoái đợc xác định mang tính cạnh
tranh cao (tỷ giá "mềm") thì các nhà xuất khẩu sẽ có lợi do bán đợc nhiều hàng hơn
ra nớc ngoài. Ngợc lại, nếu đồng Việt Nam bị nâng giá thì hàng xuất khẩu lại trở nên
quá đắt trong khi hàng nhập khẩu lại quá rẻ. Ngời ta đã rút ra một kết luận khá tổng
quát rằng: bất cứ nớc nào muốn thúc đẩy tăng trởng chung bằng động lực xuất khẩu
cũng đều phải thận trọng để tránh có một tỷ giá hối đoái bị nâng cao. Khi xem xét
vấn đề tỷ giá, cần đặc biệt lu tâm đến mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái danh nghĩa và
tỷ giá hối đoái thực tế. Tỷ giá hối đoái thực tế là tỷ giá danh nghĩa đợc điều chỉnh
theo biến động của lạm phát. Tỷ giá hối đoái thực tế có thể chênh lệch khá nhiều so
với tỷ giá hối đoái danh nghĩa. Nếu tỷ giá hối đoái thực tế tăng so với tỷ giá hối đoái
danh nghĩa thì các nhà xuất khẩu các sản phẩm sơ chế, là nời bán theo mức giá cả
11
quốc tế nằm ngoài tầm kiểm soát của họ sẽ bị thiệt. Các nhà xuất khẩu các sản phẩm
chế tạo có thể làm tăng giá cả xuất khẩu của họ để bù đắp lại chi phí nội địa cao hơn,
nhng kết quả khả năng chiếm lĩnh thị trờng sẽ giảm. Họ chỉ có thể giữ nguyên mức
giá tính theo ngoại hối và lợi nhuận thấp. Nếu tình trạng ngợc lại là tỷ giá hối đoái
thực tế giảm so với tỷ giá hối đoái danh nghĩa, khi đó sẽ có lợi cho các nhà xuất khẩu.
b-/ Thuế quan và quota:
nghiệp xuất khẩu ở nớc ta.
12
B-/ Nhóm nhân tố thuộc bản thân doanh nghiệp:
1-/ Nhân tố bộ máy quản lý hay tổ chức hành chính:
Là sự tác động trực tiếp của các cấp lãnh đạo xuống cán bộ công nhân viên
nhằm mục đích buộc phải thực hiện một hoạt động. Để quản lý tập trung thống
nhất phải sử dụng phơng pháp hành chính. Việc thiết lập cơ cấu tổ chức của bộ
máy doanh nghiệp cũng nh cách thức điều hành của các cấp lãnh đạo là nhân tố
quyết định tính hiệu quả trong kinh doanh. Nếu một doanh nghiệp có cơ cấu tổ
chức hợp lý, cách điều hành sáng suốt sẽ góp phần thúc đẩy hiệu quả hoạt động
kinh doanh, ngợc lại nếu cơ cấu tổ chức không hợp lý, không thống nhất, cách
điều hành kém sẽ dẫn đến hiệu quả thấp trong hoạt động kinh doanh.
2-/ Nhân tố con ngời:
Con ngời luôn đợc đặt ở vị trí trung tâm của mọi hoạt động. Hoạt động xuất
khẩu hàng hoá đặc biệt phải nhấn mạnh đến yếu tố con ngời bởi vì nó là chủ thể sáng
tạo và trực tiếp điều hành các hoạt động, ảnh hởng của nhân tố này thể hiện qua hai
chỉ tiêu chủ yếu nhất, đó là tinh thần làm việc và năng lực công tác. Tinh thần làm
việc đợc biểu hiện bởi bầu không khí trong doanh nghiệp, tinh thần đoàn kết và ý chí
phấn đấu cho mục tiêu chung. Năng lực của nhân viên lại biểu hiện qua kỹ năng điều
hành, công tác các nghiệp vụ cụ thể và qua kết quả của hoạt động. Để nâng cao vai
trò của con ngời, các doanh nghiệp một mặt phải chú trọng đào tạo cán bộ, công nhân
viên, bồi dỡng và nâng cao nghiệp vụ của họ, mặt khác phải quan tâm thích đáng đến
lợi ích cá nhân, bao gồm cả lợi ích vật chất lẫn tinh thần.
3-/ Mạng lới kinh doanh của doanh nghiệp:
Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp ngoại thơng phụ thuộc rất lớn vào hệ
thống mạng lới kinh doanh của nó. Một mạng lới kinh doanh rộng lớn, với các điểm
kinh doanh đợc bố trí hợp lý là điều kiện để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động
nh tạo nguồn hàng, vận chuyển, làm đại lý xuất khẩu,... một cách thuận tiện hơn và
do đó góp phần nâng cao hơn hiệu quả kinh doanh xuất khẩu. Nếu mạng lới kinh
doanh là quá thiếu hoặc bố trí ở các điểm không hợp lý sẽ gây cản trở cho hoạt động
Trong giai đoạn này, kim ngạch xuất khẩu đã tăng liên tục từ 20-30% một
năm. Năm 1996, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 0,6778 tỷ USD thì đến năm 1998
giá trị xuất khẩu đã đạt trên 9,352 tỷ USD, tăng hơn 13,8 lần. Dự báo kim ngạch
xuất khẩu năm 1999 là 11 tỷ USD tăng 17,5% so với năm 1998 vợt 10,5% kế
hoạch; trong đó: Doanh nghiệp Việt Nam là 8,55 tỷ USD chiếm 77,7%, tăng
15,8%. Doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài là 2,55 tỷ USD, chiếm 22,3%, tăng
23,6%.
Riêng năm 1989 xuất khẩu tăng 82,9% so với năm 1998, là năm có tốc độ
tăng cao nhất, năm 1998 mặc dù không nằm trong trung tâm cơn bão tài chính tiền
tệ khu vực nhng ảnh hởng rất nặng nề đến Việt Nam, đó là kim ngạch ngoại thơng
giảm đột ngột xuống còn 7,5% so với năm 1997. Do trong kim ngạch ngoại thơng
Việt Nam có tới trên 60% là giao dịch với các nớc Châu á và 70% vốn đầu t nớc
14
ngoài trực tiếp (FDI) cũng bắt nguồn từ đấy. Những khó khăn của Nhật Bản, Hàn
Quốc cũng là nguyên nhân chính bên ngoài làm kim ngạch ngoại thơng Việt Nam
giảm đột ngột. Sự phá giá mạnh của đồng tiền trong khu vực tạo nên sức ép cạnh
tranh lớn trong ngoại thơng và trong thu hút vốn đầu t nớc ngoài của Việt Nam.
2-/ Cơ cấu hàng xuất khẩu:
Thời kỳ từ năm 1986 đến 1999, cơ cấu hàng xuất khẩu đã có nhiều thay đổi,
nhiều mặt hàng giá trị đã đợc nâng cao thông qua chế biến, xuất khẩu từ chỗ chỉ
trông vào nguồn nông, lâm, thuỷ sản và tài nguyên thiên nhiên đã chuyển dịch
tăng dần hàng chế biến công nghiệp.
Bảng 2: Cơ cấu hàng xuất khẩu giai đoạn (1991 - 1999)
(Đơn vị: %)
Cơ cấu xuất khẩu 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Nông - lâm - thuỷ sản 53 49,5 48,4 48,0 2,9 2,5 36,5 37 37,3
Công nghiệp nhẹ và tiểu
thủ công nghiệp
14 13,4 17,6 23,2 22,5 29,4 36,6 38,7 38,2
Công nghiệp nặng,
giày dép, hạt điều và lạc nhân. Đến cuối năm 1995 nớc ta đã hình thành đợc 10
mặt hàng xuất khẩu chủ lực mà giá trị mỗi mặt hàng hơn 100 triệu USD hàng năm.
Những mặt hàng có tốc độ tăng trởng xuất khẩu nhanh, có sức cạnh tranh và chỗ
đứng nhất định trên thị trờng thế giới.
Bảng 3: Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực (1995-1997)
Năm
Mặt hàng
Đơn vị 1995 1996 1997
Dầu thô triệu tấn 7,6 8,7 9,5
Gạo nghìn tấn 1.998 3.003 3.600
Hàng dệt triệu USD 850 1.150 1.300
Thuỷ sản triệu USD 620,7 650 760
Cao su nghìn tấn 138,1 121,1 190
Lạc nhân nghìn tấn 70 85 84
Cà phê nghìn tấn 210 282,9 404
Than triệu tấn 2,8 3,6 3,5
Chè nghìn tấn 17,5 21,0 31
Cùng với sự phát triển, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực đợc mở rộng, bên
cạnh các mặt hàng xuất khẩu chủ lực đã có, xuất hiện thêm một số mặt hàng mới
nh hàng điện tử, thủ công mỹ nghệ,... Bảng dới đây là số liệu mặt hàng xuất khẩu
chủ lực năm 1998 và 6 tháng đầu năm 1999.
16
Bảng 4: Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực
(năm 1998 và 6 tháng đầu năm 1999)
Năm
Mặt hàng
Đơn vị 1998 1999
Lạc nhân nghìn tấn 87 29,6
Cao su nghìn tấn 185 93
Cà phê nghìn tấn 380 216,5
1- Nguyên nhiên liệu : 18,2% (2 tỷ USD)
2- Khoáng sản : 19% (2,1 tỷ USD)
3- Dệt may và da giày : 28% (3,1 tỷ USD)
4- Điện tử, linh kiện điện tử : 5,3% (580 triệu USD)
5- Thủ công mỹ nghệ : 1,5% (180 triệu USD)
6- Các lĩnh vực khác : 19,4% (2,13 tỷ USD)
Xuất khẩu 9 tháng trong năm 1999 theo thống kê của Bộ Thơng mại, xuất
khẩu đạt khoảng 8,19 tỷ USD tăng so với cùng kỳ năm trớc 17%. Trong các mặt
hàng XK chủ lực thì dầu thô là mặt hàng có kim ngạch XK tăng nhanh bởi tác
động tăng giá của giá dầu thế giới, 9 tháng năm 1999 xuất khẩu đợc 10,89 triệu
tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,31 tỷ USD, dự kiến toàn bộ năm nay dầu tho XK
có thể đạt 2 tỷ USD. Tiếp theo là gạo, mặc dù gạo Việt Nam đã có tính cạnh tranh
cao nhng do giá gạo thế giới hạ nên kim ngạch XK gạo chỉ đạt 882 triệu USD, t-
ơng ứng là 3,82 triệu tấn gạo. Kim ngạch XK gạo năm 1999 bằng 3,9 triệu tấn nh-
ng có khả năng XK đợc 4,2-4,5 triệu tấn, kim ngạch XK 1 tỷ. Mặt hàng thuỷ sản
vẫn giữ đợc tốc độ tăng 9% so với cùng kỳ năm 1998, đạt 687 triệu USD nhng đã
có dấu hiệu tăng chậm dần, có khó khăn về nguyên liệu. Dệt may đạt kim ngạch
XK: 1,2 tỷ USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm 1998. Giày dép đạt 1 tỷ USD, tăng
34% so với cùng kỳ năm 1998. Hàng điện tử và linh kiện máy tính tăng 21,5% đạt
420 triệu USD. Hạt tiêu tăng 16,9% đạt 126 triệu USD. Rau quả tăng 30% đạt 56
triệu USD. Hàng thủ công mỹ nghệ tăng 47% đạt 119 triệu USD. Cà phê: 250.000
tấn, lạc nhân 80.000 tấn, chè 21.500 tấn, than 2,1 triệu tấn.
3-/ Thị trờng hàng xuất khẩu của Việt Nam:
Thị trờng xuất khẩu đợc mở rộng nhanh theo hớng đa dạng hoá, đa phơng
hoá. Nếu năm 1991, thị trờng Châu á chiếm tới 80% tổng kim ngạch xuất khẩu
của Việt Nam thì năm 1994 giảm xuống còn 75,8% và năm 1997 chỉ còn chiếm
67,7%. Riêng thị trờng Đông Bắc á, năm 1995 chiếm tới 50% tổng kim ngạch
xuất khẩu của Việt Nam nhng đến năm 1997 chỉ còn chiếm 44,0%. Thị trờng xuất
khẩu của Việt Nam phát triển theo hớng mở rộng sang Châu Âu, đặc biệt Tây Bắc
Âu, thị trờng liên bang Nga và các nớc Đông Âu có dấu hiệu phục hồi. Nếu năm
0,96 1,07 1,04 0,82 2,78
- Châu Phi 0,68 0,56 0,70 0,70 0,80
- Châu Mỹ 0,16 2,76 4,33 4,22 4,48
+ Bắc Mỹ 0,16 2,59 3,40 3,70 3,80
+ Mỹ La Tinh - 0,17 0,93 0,52 0,68
+ Hoa Kỳ - - 3,10 3,43 3,21
Tổng cộng: 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
Khu vực thị trờng trọng điểm xuất khẩu của Việt Nam trong 2 năm 1998,
1999 chủ yếu vẫn tập trung vào 4 khu vực chính và có sự chuyển dịch từ Đông
sang Tây:
19
Châu á : 63-54% (trong đó: Đông Bắc á: 40-30%, Đông Nam 23-24%)
Tây - Bắc Âu : 20-22%
Bắc Mỹ : 7-12%
SNG và Đông Âu cũ : 3-5%
Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu và cơ cấu khu vực thị trờng
xuất khẩu của Việt Nam 1998, 1999
(Đơn vị tính: triệu USD, tỷ trọng: % trong tổng số)
Năm
Khu vực
1998 1999
Kim ngạch Tỷ trọng % Kim ngạch Tỷ trọng %
Tổng số: 11.500 100 14.950 100
1. Đông Bắc Âu 4.600 40 4.485 36
2. Đông Nam á
2.645 23 3.438 23
3. Tây Bắc Âu 2.300 20 3.139 21
4. Bắc Mỹ 805 7 1.345 9
5. SNG và Đông Âu cũ 345 3 598 4
6. Châu Đại Dơng 345 3 448 3
Quốc
Đài
Loan
Hồng
Kông
CHLB
Đức
Pháp
Thái
Lan
Liên
bang
Nga
Hàn
Quốc
% kim
ngạch XK
28,5 14,6 7,4 5,4 4,9 4,6 3,2 2,9 2,2 2,2
Sự biến đổi cơ cấu nớc bạn hàng xuất khẩu của Việt Nam mấy năm qua là
minh chứng về sự chi phối của quy luật lợi thế so sánh trong buốn bán quốc tế, nó
phá vỡ mọi sự ngăn cách về trình độ phát triển và không gian địa lý. Vai trò của
các thị trờng xa, đặc biệt là các nớc phát triển Tây Âu, Bắc Mỹ đã tăng lên, mở ra
cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới, đồng thời tạo tiền đề
để Việt Nam nhập khẩu máy móc thiết bị hiện đại từ các khu vực có nền "công
nghệ nguồn".
Dới đây là bảng tổng kết kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đầu năm 1999 giữa
Việt Nam với các nớc:
21
Bảng 8: Kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đầu năm 1999
giữa việt nam với các nớc
Mỹ 469 222
Braxin 14 4
Bồ Đào Nha 4 3
Brunây 0 0,3
Thuỵ Điển 58 28
Bêlarutxia 0 0
Phần Lan 20 10
Thổ Nhĩ Kỳ 9 0
Ai Len 0 0
Hunggari 0 0
22
Bên cạnh đó hoạt động xuất khẩu qua các cửa khẩu cũng rất sôi động. Chẳng
hạn nh hoạt động xuất khẩu qua các cửa khẩu trên bộ ở phía Bắc: biên giới đất liền
(trên bộ) Việt Nam - Trung Quốc dài trên 1.400 km, kéo dài từ phía tây tỉnh
Quảng Ninh đến phía tây tỉnh Lai Châu, tiếp giáp giữa 6 tỉnh của Việt Nam
(Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lao Cai, Lai Châu) với khu tự trị
Quảng Tây và tỉnh Vân Nam - Trung Quốc. Theo số liệu thống kê thì kim ngạch
xuất khẩu qua cửa khẩu của Việt Nam với các nớc thể hiện ở bảng sau:
Bảng 9: Kim ngạch xuất khẩu qua các cửa khẩu biên giới
Đơn vị: triệu USD
Đơn vị Chính ngạch Tiểu ngạch Tổng số Tỷ lệ % so với toàn tuyến
1. Quảng Ninh 240,54 41,21 281,75 32,58%
2. Lạng Sơn 453,93 72,67 526,60 60,91%
3. Cao Bằng 1,98 11,81 13,79 1,59%
4. Hà Giang 2,24 4,30 6,54 0,76%
5. Lao Cai 32,38 2,90 35,28 4,08%
6. Lai Châu 0,23 0,49 0,72 0,08%
Tổng cộng 731,30 133,38 864,68 100,00%
Qua bảng trên ta thấy kim ngạch xuất khẩu qua các cửa khẩu biên giới tại
Lạng Sơn đạt cao nhất là 526,6 triệu USD chiếm 60,91% toàn tuyến, tiếp đó là
Những mặt hàng tinh chế xuất khẩu, có kim ngạch lớn hãy còn ít, nhng chủ yếu là
gia công cho nớc ngoài, ngoại tệ thực thu chỉ vào khoảng 20% kim ngạch xuất
khẩu, nên khả năng tích luỹ không nhiều. Bên cạnh đó các nớc phát triển chỉ mong
muốn nhập hàng thô và sơ chế của Việt Nam để chế biến lại, XK sang nớc thứ 3,
vừa giải quyết công ăn việc làm cho mình, vừa thu lợi nhuận cao, nên họ tìm mọi
cách để khai thác triệt để tài nguyên thiên nhiên của nớc khác. Do XK dới dạng
thô và sơ chế vừa tốn nguyên liệu, năng suất thấp, giá thành cao, chất lợng sản
phẩm thấp, dẫn đến sự cạnh tranh không bình đẳng giữa nớc giàu và nớc nghèo.
(2) Vấn đề tổ chức xâm nhập và phát triển thị trờng trong XK hàng hoá còn
nhiều hạn chế và mất cân đối. Xu hớng chính của Việt Nam là đa dạng hoá, đa ph-
ơng hoá kinh tế đối ngoại. Thế nhng cho đến nay hoạt động xuất khẩu của Việt
Nam chủ yếu mới diễn ra ở khu vực Châu á (chiếm 80%) còn ở các châu lục khác
thì đang chiếm tỷ trọng nhỏ. Đặc biệt, xuất khẩu Việt Nam còn cha vơn tới các thị
trờng Châu Phi mênh mông và đầy tiềm năng. Vấn đề này liên quan khả năng mở
rộng quan hệ ngoại giao của các nhà kinh doanh Việt Nam trong việc tìm kiếm
bạn hàng và thị trờng.
Mặt khác, hàng hoá xuất khẩu Việt Nam cha có thị trờng ổn định, vững chắc,
quan hệ lâu dài và gắn bó, chúng ta cha hình thành hệ thống sách lợc thị trờng và
thơng nhân. Giải quyết vấn đề này đòi hỏi một sự nỗ lực rất lớn từ phía Nhà nớc và
các nhà kinh doanh. Điều quan trọng trong việc tổ chức xâm nhập và phát triển thị
trờng là phải tạo mối quan hệ kinh tế lâu dài, thực hiện nghiêm chỉnh các hợp đồng
nâng cao chất lợng sản phẩm, bình đẳng và cùng có lợi.
24
(3) Tổ chức và cơ chế quản lý hoạt động XK cần đợc tiếp tục hoàn thiện, đặc
biệt là đối với các đầu mối xuất khẩu các mặt hàng chủ lực. Hiện nay, cơ chế
chính sách xuất nhập khẩu cha phát huy hết hiệu lực, tình trạng buôn lậu khá phổ
biến làm ảnh hởng nghiêm trọng đến tình hình sản xuất và lu thông hàng hoá
trong nớc. Trong hoạt động xuất khẩu vẫn cha giải quyết thoả đáng mối quan hệ
giữa các mặt hàng chủ lực với các nhóm hàng hoá khác, quá chú trọng và u tiên
một số mặt hàng mà không biết tận dụng và bỏ qua nhiều loại hàng hoá khác rất