Nghiên cứu tác động của quá trình nuôi
tôm đến nhiễm mặn đất huyện Giá Rai -
Bạc Liêu
Quá trình
chuyển đổi đất
trồng lúa sang
nuôi tôm một
cách ồ ạt, không
theo đúng quy
hoạch tại huyên
Giá Rai tỉnh
Bạc Liêu trong
thời gian qua đã
nổi lên các vấn
đề về suy thoái
môi trường đất,
đặc biệt là quá
trình mặn hóa
đất. Điều này đã
và đang ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất tôm nuôi cũng như vấn đề an ninh
lương thực. Diện tích đất m
ặn liên tục tăng trên địa bàn huyện từ năm 2000 đến
2010, đặc biệt trong giai đoạn 2000-2004 diện tích đất mặn đã tăng gần 20 lần.
Bài này đánh giá tác động của quá trình nuôi tôm đến nhiễm mặn đất ở huyện Giá
Rai - Bạc Liêu, kết quả khảo sát cho thấy mức độ nhiễm mặn cao nhất ở mô hình
nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh, thấp nhất ở mô hình canh tác tôm - lúa.
Điều kiện thời tiết, hệ th
ống công trình thuỷ lợi phục vụ nuôi tôm chưa đáp ứng
yêu cầu của vùng nuôi, thiếu chủ động trong việc cấp nước ngọt và kỹ thuật cải tạo
ao không đúng quy cách, chỉ tập trung chủ yếu sử dụng các biện pháp cơ học, chưa
quyết thích hợp nhằm cải tạo đất mặn. Nâng cao nhận thức của người dân về tác
hại của đất bị mặn hóa, ảnh hưởng của đất mặn đến năng suất nuôi tôm và tr
ồng
lúa, áp dụng các biện pháp cải tạo đất mặn để tăng năng suất. Góp phần giảm thiểu
những tác động xấu của việc nuôi tôm đến môi trường đất để nghề nuôi phát triển
theo hướng bền vững. Ngoài ra sẽ làm rõ được quá trình đất bị nhiễm mặn do nuôi
thủy sản, hậu quả của quá trình đó và những giải pháp cơ bản rửa mặn để có thể
s
ản xuất nông nghiệp và thủy sản kết hợp nông nghiệp (mô hình tôm - lúa) trên
vùng đất này có hiệu quả. Bài này bước đầu nghiên cứu tác động ảnh hưởng của
hoạt động nuôi tôm đến quá trình nhiễm mặn đất ở huyện Giá Rai - Bạc Liêu nhằm
thấy được những tác động xấu tới môi trường từ việc nuôi tôm không đúng kỹ
thuật, để từ đó có thể tìm ra các giải pháp cải tạo đất mặ
n nhằm khai thác một cách
hiệu quả nguồn tài nguyên đất vùng ven biển huyện Giá Rai nói riêng và tỉnh Bạc
Liêu nói chung.
II. ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Địa điểm nghiên cứu
N
ghiên cứu này là một phần kết quả của đề tài khoa học cấp Bộ [2],[7], được thực
hiện thí điểm trên các vùng đất nhiễm mặn tại 4 xã Long Điền, Tân Thạnh, Tân
Phong và Phong Thạnh thuộc huyện Giá Rai với các mô hình nuôi trồng thủy sản
(nuôi tôm) quảng canh, bán thâm canh và thâm canh.
2. Phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp thu thập tổng hợp tài liệu
N
hững số liệu và thông tin thứ cấp mang tính tổng quan được thu thập từ báo cáo
hàng năm của các cơ quan ban ngành trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường,
nông nghiệp và thủy sản của tỉnh, chi cục thống kê, phòng nông nghiệp và phá
t
hương pháp phân tích: Tất các các mẫu đất đều được bảo quản phân tích nhằm
xác định nồng độ muối tan của đất thông qua chỉ số độ dẫn điện dịch chiết bộ
t
nhão của đất được bão hòa (Electrical Conductance of the saturation paste extract-
ECe). Cách xác định độ dẫn điện riêng dựa theo TCVN 6650: 2000 và ISO
11265:1994.
d. Phương pháp thống kê, so sánh và đánh giá
Từ các số liệu thu được tiến hành thống kê những vùng nhiễm mặn, mức độ mặn,
so sánh tốc độ gia tăng diện tích mặn qua từng năm, mức độ tác động ảnh hưởng
của các mô hình nuôi đến môi trường đất.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Thực tr
ạng cơ cấu sử dụng đất huyện Giá Rai giai đoạn 2000- 2010
Hình 3.1: Diện tích trồng lúa và nuôi tôm qua các năm
N
hận thức được lợi nhuận từ quá trình nuôi trồng thuỷ sản mang lại, giai đoạn 200
0
- 2010 đã chứng kiến sự chuyển dịch mạnh mẽ từ diện tích đất trồng lúa sang nuô
i
thuỷ sản trên địa bàn huyện Giá Rai - Bạc Liêu. Từ biểu đồ hình 3-1 cho thấy diệ
n
tích trồng lúa từ năm 2000 đến nay liên tục giảm từ hơn 26 nghìn ha xuống cò
n
khoảng 7 nghìn ha, giảm 3,7 lần, diện tích giảm mạnh nhất diễn ra vào giai đoạ
n
2000 – 2004 khi các hộ dân ồ ạt chuyển sang nuôi tôm,[4]. Diện tích đất nuôi tô
m
liên tục tăng trong giai đoạn này có xu hướng tiếp tục tăng nhẹ trong những năm k
ế
tăng mạnh nhất trong giai đoạn 2000 – 2004 và vẫn có xu hướng tăng nhẹ trong
thời gian tới.
Hình 3.2: Đất bị
nứt nẻ và đọng váng
muối ở xã Long Điền
Hình 3.3: Đất bị mặn do mô hình QC ở
xã Long Điền Tây
Hình 3.4: Đất bị mặn do mô hình TC ở
xã Long Điền
Hình 3.5: Đất bị mặn do mô hình BTC ở
xã Long Điền
Hình 3.6: Diện tích đất mặn giai đoạn
2000 – 2008 trên địa bàn huyện Giá Rai
Hình 3.7 : Kết quả phân tích mẫu đất
ngày 25/3/2009
3. Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động nuôi tôm tới độ mặn của đất
Độ mặn của đất do ảnh hưởng của hoạt động nuôi tôm xác định bởi nồng độ muối
tan của đất được thể hiện bằng độ dẫn điện c
ủa dịch chiết bột nhão của đất được
bão hòa (Electrical Conductance of the saturation paste extract- ECe),[3]. Cách xác
định độ dẫn điện riêng dựa theo TCVN 6650: 2000 và ISO 11265:1994. Kết quả
khảo sát diễn biến hàm lượng ECe trong dung dịch đất bão hoà của vùng nghiên
cứu đối với các mô hình nuôi trồng thủy sản khác nhau được trình bày trong biểu
đồ từ Hình 3-7 đến 3-10.
Hình 3.8: Kết quả phân tích mẫu đất ngày 25/4/2009
Qua số liệu cho thấy độ mặn của đất ở lần 2 gi
ảm do tác động của thời tiết. Vì
trong thời gian này đã xuất hiện những cơn mưa. Chính nguồn nước ngọt từ nước
Hệ thống thủy lợi ở Giá Rai được xây dựng chủ
yếu phục vụ trồng lúa nên khi
chuyển đổi cơ cấu sản xuất sang nuôi tôm thì nhiều nơi bộc lộ hạn chế. Với việc sử
dụng luôn hệ thống kênh cấp thoát nước chung khi trồng lúa trong hoạt động nuôi
tôm đã làm cho tình hình nhiễm mặn khó kiểm soát, dịch bệnh có khả năng lây lan,
vì vậy năng suất tôm nuôi qua từng năm có xu hướng giảm. Trong vùng chưa có
công trình điều tiết nước vào mùa khô, trong khi đ
ó nhu cầu sử dụng nước cho việc
nuôi tôm ngày càng tăng nhanh, đồng thời khả năng dự trữ nguồn nước về mùa
mưa rất khó. Do vậy dẫn đến tình trạng thiếu nước ngọt để rửa mặn cho đất, đất đai
ngày càng bị mặn hóa. Hệ thống kênh mương không hợp lý nên nhiều ao nuôi bị
bỏ trống khi vào vụ vì không dẫn nước được vào ruộng. Khí hậu nắng nóng và gió
mạ
nh trong mùa khô làm tăng cường độ bốc hơi nên tích tụ lớp muối trên bề mặt
từ đó gây mặn cho đất.
c) Do hệ canh tác và kỹ thuật nuôi trồng
Trước năm 2000 đây là vùng trồng lúa, sau đó người dân dần chuyển sang nuôi
tôm. Khi mới bắt đầu, do đất chưa bị nhiễm mặn nên con tôm sú cho hiệu quả cao
giúp làm giàu nhanh chóng. Từ đó bà con ồ ạt phá bỏ các ruộng lúa, dẫn nước mặn
vào nuôi tôm. Với việ
c chuyển đổi ồ ạt cơ cấu canh tác này đã làm cho bức tranh
xâm nhập mặn vùng nghiên cứu càng thêm phức tạp hơn, trong quá trình chuyển
đổi do phần lớn những khu vực được thực hiện một cách tự phát, thiếu quy hoạch,
thiếu biện pháp bảo vệ, phòng ngừa và các biện pháp kỹ thuật cần thiết khác không
chỉ gây nên suy thoái môi trường ngay tại khu vực chuyển đổi mà còn làm gia tăng
mức độ lan truyền mặn vào sâu trong nội đồng. Nhiều khu vực sự lan truyền mặn
diễn ra không kiểm soát được. Mô hình nuôi QC và QCCT nhiễm mặn thấp do hầu
hết các h
ộ chỉ tiến hành nuôi 1 vụ/năm vào mùa nước mặn. Đến mùa mưa, lợi dụng
nguồn nước ngọt từ nước mưa để ngâm ao giúp rửa mặn cho đất, các ao nuôi theo
c
các mô hình còn lại khi tiến hành cải tạo ao, nhiều hộ nuôi chỉ cho cày ải đất hoặ
c
bón vôi mà không thực hiện việc rửa mặn bằng nguồn nước ngọt. Với cách là
m
đơn giản này, đất không được rửa mặn một cách triệt để do đó tổng lượng muố
i
hoà tan trong đất ngày càng cao.
IV. KẾT LUẬN
Kết quả phân tích các số liệu thu được từ lấy mẫu thực địa và khảo sát hiện trường
trong thời gian nghiên cứu cho thấy diện tích đất chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi
tôm ngày càng tăng, trong khi đó trình độ kỹ thuật nuôi của các hộ dân còn thấp.
Khoảng 10% diện tích ao nuôi bị bỏ trống sau vài vụ nuôi do đất bị nhiễm mặn.
Các hộ nuôi theo mô hình QC và QCCT hầu hết chỉ nuôi 1 vụ vào mùa khô còn
mùa mưa để trống ao. Các hộ nuôi theo mô hình TC và BTC thì nuôi 2 vụ/năm v
à
nuôi liên tục từ năm này sang năm khác. Các nguyên nhân gây mặn đất được xác
định là do hệ thống công trình thủy lợi phục vụ nuôi tôm chưa đáp ứng đủ yêu cầ
u
vùng nuôi, hệ thống cấp thoát nước chưa hợp lý và còn chằng chịt, chưa có hệ
thống cấp thoát nước riêng biệt, còn thiếu chủ động trong việc cung cấp nước ngọt.
Kỹ thuật cải tạo ao nuôi chưa đúng quy cách, chủ yếu sử dụng biện pháp cơ học,
chưa biết tận dụng nguồn nước mưa để rửa mặn. Thời gian nuôi liên tục nên các ao
nuôi không được nghỉ
ngơi.
Ao/vuông nuôi tôm bị mặn cần được rửa nhiều lần, mỗi lần khoản
g
2.000m