Nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa tới
biến động sử dụng đất thành phố Hải Phòng
Vũ Đình Nhân Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn ThS chuyên ngành: Địa chính; Mã số: 6044 80
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Anh Tuấn
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đô thị hóa, những tác động của đô thị hóa tới
các lĩnh vực như kinh tế - xã hội và môi trường, đặc biệt là những tác động của đô thị hóa
tới tài nguyên đất nói chung và hiện trạng sử dụng đất nói riêng. Nghiên cứu, phân tích
quá trình đô thị hóa của Thành phố Hải Phòng giai đoạn 1986 - nay. Đánh giá những tác
động của quá trình đô thị hóa Thành phố Hải Phòng tới các lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Phân tích biến động hiện trạng sử dụng đất Thành phố Hải Phòng giai đoạn 2000-2010.
Đánh giá tác động trực tiếp và gián tiếp của quá trình đô thị hóa tới biến động hiện trạng
sử dụng đất Thành phố Hải Phòng. Đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những tác
động tiêu cực của đô thị hóa tới sử dụng đất trong giai đoạn tiếp theo.
Keywords: Địa chính; Sử dụng đất; Đất đô thị; Hải Phòng Content
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Sau hơn 25 năm thực hiện chính sách “Đổi mới”, Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ
vượt bậc trong phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của người dân, phúc lợi xã hội được cải
thiện rõ rệt, góp phần đưa đất nước trở thành Quốc gia có mức thu nhập trung bình trên thế giới.
Đô thị hóa - kết quả tất yếu của quá trình phát triển của đất nước - đã và đang diễn ra mạnh mẽ
đề tài luận văn cao học được lựa chọn với tiêu đề: “Nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa
tới biến động sử dụng đất thành phố Hải Phòng”.
* Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá, phân tích những tác động (tích cực và tiêu
cực) của quá trình đô thị hóa tới biến động sử dụng đất thành phố Hải Phòng. Trên cơ sở đó, đề
xuất những giải pháp nhằm khắc phục những tác động tiêu cực của đô thị hóa góp phần phát
triển bền vững đô thị.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đô thị hóa, những tác động của đô thị hóa tới các lĩnh vực
như kinh tế - xã hội và môi trường, đặc biệt là những tác động của đô thị hóa tới tài nguyên đất nói
chung và hiện trạng sử dụng đất nói riêng.
- Nghiên cứu, phân tích quá trình đô thị hóa của Thành phố Hải Phòng giai đoạn 1986 -
nay.
- Đánh giá những tác động của quá trình đô thị hóa Thành phố Hải Phòng tới các lĩnh vực
kinh tế - xã hội.
- Phân tích biến động hiện trạng sử dụng đất Thành phố Hải Phòng giai đoạn 2000-2010
- Đánh giá tác động trực tiếp và gián tiếp của quá trình đô thị hóa tới biến động hiện trạng
sử dụng đất Thành phố Hải Phòng.
- Đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những tác động tiêu cực của đô thị hóa tới sử
dụng đất trong giai đoạn tiếp theo.
* Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống
Sử dụng đất đô thị là hệ thống phức tạp, bao gồm các hợp phần cấu tạo thành, mỗi loại hình
sử dụng đất đô thị chịu nhiều tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội trong một chỉnh thể thống
nhất. Chính vì vậy, khi có những tác động vào mọi thành phần hay một bộ phận nào đó thì các
thành phần hay bộ phận khác sẽ bị thay đổi theo phản ứng dây chuyền. Do đó, nghiên cứu tác động
của đô thị hóa tới hiện trạng sử dụng đất đô thị cần nhìn nhận và xem xét trong một hệ thống hoàn
chỉnh. Sự thay đổi của một hợp phần trong hệ thống sẽ kéo theo sự thay đổi của các hợp phần khác
cũng như toàn bộ hệ thống.
phố Hải Phòng, tài liệu về khí hậu, địa chất, địa hình, thuỷ văn, thuỷ lợi, dân số, lao động, mức
sống, tình hình phát triển của các ngành kinh tế phục vụ trực tiếp cho việc đánh giá đặc điểm của
quá trình đô thị hóa và phân tích những biến đổi của hiện trạng sử dụng đất thành phố Hải Phòng.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Trong quá trình nghiên cứu phân tích số liệu, cần phải điều tra nhằm bổ sung chính xác
thông tin thực tế. Đề tài đã sử dụng phương pháp điều tra thực địa nhằm xác định lại các thông
tin đã thu thập.
Bên cạnh đó, phương pháp điều tra, khảo sát thực địa còn giúp cho việc kiểm chứng kết
quả và những tác động của quá trình đô thị hóa tới hiện trạng sử dụng đất của Thành phố Hải
Phòng tại một thời điểm xác định.
- Phương pháp viễn thám và GIS
Đề tài ứng dụng phương pháp viễn thám và GIS để xây dựng, biên tập bản đồ hiện trạng
lớp phủ mặt đất ở các thời điểm khác nhau (2000 và 2010). Mặt khác, đề tài sử dụng phương
pháp này để xây dựng các bản đồ chuyên đề phục vụ cho quá trình đánh giá tác động của đô thị
hóa tới hiện trạng sử dụng đất ở các thời điểm khác nhau
- Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê được sử dụng trong quá trình nghiên cứu nhằm xử lý những số
liệu thống kê đã thu thập được để phân tích đặc điểm của quá trình đô thị hóa khu vực nghiên
cứu. Trên cơ sở đó, đưa ra những tác động của quá trình đô thị hóa tới sự biến động của hiện
trạng sử dụng đất Thành phố Hải Phòng.
* Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Thành phố Hải Phòng.
- Phạm vi thời gian:
+ Về nội dung nghiên cứu đặc điểm đô thị hóa Thành phố Hải Phòng: Đề tài dự kiến
nghiên cứu trong giai đoạn 1986 đến nay.
+ Về nội dung tác động của đô thị hóa tới biến đổi hiện trạng sử dụng đất: Trên cơ sở
những tác động của quá trình đô thị hóa đã được phân tích trong giai đoạn từ 1986 đến nay, do
hạn chế về nguồn tư liệu không gian, đề tài dự kiến phân tích những biến động sử dụng đất trong
giai đoạn 2000-2010.
* Cấu trúc của luận văn
Quá trình đô thị hóa (ĐTH) ở các nước đang phát triển: có đặc trưng là ĐTH không đi
đôi với công nghiệp hóa (CNH) (trừ một số nước công nghiệp mới - NIC). Sự bùng nổ dân số đô
thị quá tải không mang tính tự nhiên mà do sức hấp dẫn từ sự cách biệt sâu sắc về chất lượng
cuộc sống giữa đô thị và nông thôn.
1.2.Tác động của quá trình đô thị hóa
Quá trình đô thị hóa tác động phát triển kinh tế - xã hội ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực.
Đô thị hóa tác động tới nhiều vấn đề trong quá trình phát triển đô thị, thể hiện qua những khía
cạnh sau:
- Chuyển dịch cơ cấu ngành
- Chuyển dịch cơ cấu lao động
- Tác động của đô thị hóa đến cơ sở hạ tầng - kỹ thuật
- Tác động tới lối sống, chất lượng cuộc sống của người dân
- Đô thị hóa làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất
Như vậy, một mặt đô thị hóa góp phần thu hút vốn đầu tư phát triển xã hội, nâng cấp cơ
sở hạ tầng, nâng cao trình độ lao động, mở rộng thị trường hàng hóa và dịch vụ, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế mạnh mẽ, tăng thu nhập cho người dân. Mặt khác, quá trình đô thị hóa cũng có
những mặt trái của nó: làm gia tăng khoảng cách giàu – nghèo, vấn đề việc làm trở nên bức thiết,
môi trường sống bị ảnh hưởng, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp dẫn đến nguy cơ về an ninh
lương thực.
1.3. Tác động của đô thị hóa tới biến động sử dụng đất:
“Đô thị hóa là một quá trình tất yếu, không thể không xẩy ra, dù muốn hay không muốn
tương lai của thế giới vẫn nằm ở các thành phố”. Đó là kết luận của hội nghị thượng đỉnh thế giới
về đô thị do Liên Hợp Quốc tổ chức tại Ixtambul (Thổ Nhĩ Kỳ).
Tác động của quá trình đô thị hóa tới biến động sử dụng đất:
Thứ nhất: quá trình đô thị hóa dẫn đến thay đổi về cơ cấu sử dụng đất theo hướng giảm
mạnh về diện tích đất nông nghiệp, đất chưa sử dụng và đồng thời tăng nhanh về diện tích đất
chuyên dùng, đất đô thị.
Thứ hai: Quá trình đô thị hóa là nguyên nhân chính dẫn tới việc hình thành và thay đổi
đất đô thị. Đất đô thị nước ta năm 2000 có 990.276 ha, năm 2005 tăng lên 1.153.548 ha, đến năm
2010 đã tăng lên 1.629.000 ha. Đất đai đô thị còn tiếp tục gia tăng trong quá trình đô thị hóa theo
44’15’’ kinh độ Đông. Dân số trên toàn thành phố khoảng 2 triệu người
năm 2012.
Về địa giới hành chính:
Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh
Phía Tây giáp tỉnh Hải Dương
Phía Nam giáp tỉnh Thái Bình
Phía Đông giáp biển Đông.
2.1.2. Đặc điểm địa chất - địa hình
Hải Phòng là một thành phố ven biển được hình thành từ đồng bằng sông Thái Bình, do cấu tạo
địa hình khá đa dạng và phong phú, chủ yếu là đồng bằng có xen đồi núi thấp, núi đá vôi và các bãi
ngập triều. Ðộ cao trung bình từ cốt +5m đến + 7m. Ðặc biệt các đảo lớn với tổng diện tích 327 km
2
và
có 2 huyện Cát Hải và huyện đảo Bạch Long Vỹ (cách đất liền khoảng 130 km) có địa hình hầu hết là
núi đá vôi hiểm trở xen lẫn các vùng nhỏ, nên bề mặt địa hình bị phân cách.
2.2. Phân tích đặc điểm quá trình đô thị hóa của Thành phố Hải Phòng giai đoạn 1986 -
2012
2.2.1. Tốc độ đô thị hóa của Thành phố Hải Phòng giai đoạn 1986 - 2012
Tốc độ đô thị hóa của thành phố Hải Phòng trong giai đoạn này được thể hiện thông qua
các đặc điểm như sau:
Dân số đô thị ở Hải Phòng trong những năm gần đây tăng lên đáng kể từ 369,1 nghìn
người năm 1985 nay tăng lên 858 nghìn người năm 2010. Bên cạnh đó tổng sản phẩm GDP trên
địa bàn toàn thành phố trong giai đoạn này cũng có sự chuyển dịch theo chiều hướng tăng giá từ
1.099,9 tỷ đồng năm 1990 lên 10.487,1 năm 2000 đến nay GDP trên địa bàn toàn thành phố đạt
57.228,6 tỷ đồng năm 2010.
Trong đó, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng từ 910,8 tỷ đồng năm 1985 lên 2310,4 tỷ
đồng năm 2000 và nay đạt 9031,1 tỷ đồng năm 2010. Giá trị sản xuất công nghiệp cũng có chiều
hướng tăng mạnh ví như năm 1985 giá trị sản xuất công nghiệp mới chỉ đạt 1.145,4 tỷ đồng tăng
lên 8.709,2 tỷ đồng năm 2000 nay tăng lên 43.289,2 (GCĐ/1994) tỷ đồng năm 2010. Ngành dịch
vụ tăng mạnh trong giai đoạn này đặc biệt là tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu
giảm mạnh trong giai đoạn 2000 - 2010 (từ 62.127 ha năm 2000 xuống còn 53.862 ha năm
2010).
3.1.3. Phân tích những nguyên nhân gây ra biến động sử dụng đất
- Phát triển các khu công nghiệp: Số lượng các khu công nghiệp của Hải Phòng gia tăng trong
giai đoạn vừa qua. Việc phát triển các khu công nghiệp cũng là một trong những tác nhân chính
gây ra sự biến động sử dụng đất khu vực nghiên cứu
- Phát triển các khu đô thị mới: nhu cầu đất ở, đặc biệt là đất ở đô thị do tác động của đô thị hóa
cũng gây ra biến động sử dụng đất. Một số khu đô thị mới xuất hiện ở các quận Hải An, Dương
Kinh (khu vực ven đô) ngày càng nhiều.
- Diện tích đất nuôi trồng thủy sản cũng có xu hướng gia tăng đặc biệt là khu vực ven biển cũng
góp phần làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất.
3.2. Đánh giá tác động của quá trình đô thị hóa tới biến động sử dụng đất thành phố Hải
Phòng
3.2.1. Di dân và áp lực dân số tới các khu vực có mức độ biến động sử dụng đất khác nhau
Di cư thực chất là sự thay đổi nơi cư trú, từ một đơn vị lãnh thổ này tới một đơn vị lãnh
thổ khác trong một khoang thời gian nhất định (hay nói cách khác là sự thay đổi nơi cư trú trong
một khoảng thời gian nào đó. Di cư ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, do
đó được quan tâm không những các nhà quản lý, các nhà xác lập chính sách, các nhà xây dựng
chương trình phát triển và của toàn xã hội.
3.2.2. Đánh giá vai trò của quy hoạch và các chính sách phát triển
Chính sách phát triển đô thị bao gồm: Tăng đều chất và lượng, đổi mới quá trình kiểm
soát
Tăng đều chất và lượng: Trước hết đầu tư xây dựng công trình đô thị như: hệ thống giao
thông, hệ thống cấp thoát nước tạo bộ khung cơ bản để các đô thị phát triển. Kiến trúc cảnh quan
đô thị được chính quyền quan tâm đầu tư phát triển với sự xuất hiện ngày càng nhiều quần thể
kiến trúc, mảnh đô thị hiện đại, ứng dụng công nghệ thiết kế xây dựng tiên tiến của thế giới, coi
trọng các và bảo tồn các di sản kiến trúc đô thị. Chất lượng cuộc sống của người dân đô thị ngày
càng được cải thiện. Mô hình đầu tư phát triển các khu đô thị đồng bộ được nhân rộng tại nhiều
địa phương, sử dụng hiệu quả quỹ đất dành cho phát triển đô thị, giải quyết nhu cầu về nhà ở đô
thị. Trong đó tập trung mạnh về cơ chế chính sách đầu tư nhà ở xã hội đặc biệt cho các nhóm
Nông nghiệp
783.2
2,563
Lúa gạo
374
672
Cao su
53
170
Hạt điều
22
129
Lạc
42
42
Tiêu
9
143
Cà phê
73
474
Trà
- Nhà nước Việt Nam khẳng định rõ quan điểm và quyết tâm phát triển nông thôn: Đại hội X
khẳng định: "Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nôngnghiệp, nông dân và nông thôn có
tầm chiến lược đặc biệt quan trọng. Phải luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Xây dựng các làng,
xã, ấp, bản có cuộc sống no đủ, văn minh, môi trường lành mạnh. Hình thành các khu dân cư đô
thị hoá với kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ như: thuỷ lợi, giao thông, điện, nước sạch,
cụm công nghiệp, trường học, trạm y tế, bưu điện, chợ "
- Đã có một số mô hình nông thôn mới trong quá trình triển khai thực hiện CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn có thể tổng kết và nhân rộng những mô hình này.
* Thách thức
- Chất lượng nguồn nhân lực thấp đang là khó khăn lớn nhất, là rào cản cho việc ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới văn minh - hiện đại
- bền vững.
- Năng lực quản lý xã hội của bộ máy (nhất là ở cấp cơ sở) chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển
của thực tiễn
- Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn (hạ tầng xã hội và hạ tầng phục vụ sản xuất) đòi hỏi vốn đầu
tư lớn, trong điều kiện ngân sách nhà nước eo hẹp, huy động nội lực hạn chế cũng là thách thức
lớn đối với việc phát triển kinh tế và thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.
- Môi trường nông thôn đang bị xuống cấp nhanh chóng, nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai
thác cạn kiệt ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ của người dân và sản xuất nông nghiệp.
- Ruộng đất manh mún, công nghệ sản xuất lạc hậu, lao động thủ công đang là trở lực lớn cho
sản xuất nông nghiệp hàng hoá nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản. Sẽ là thách thức cho
mục tiêu giải quyết lao động, việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
b) Mục tiêu và phương châm phát triển
* Mục tiêu tổng quát
Xây dựng nông thôn mới và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân: sản xuất
phát triển, đời sống ấm no, làng xã văn minh, diện mạo sạch đẹp, môi trường đảm bảo, quản lý
dân chủ, bản sắc văn hoá được phát huy, hình thành các khu dân cư đô thị hoá với kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội đồng bộ (đó vừa là khái niệm, vừa là mục tiêu của xây dựng nông thôn mới
và nâng cao vị thế của nông dân ở Việt Nam).
(5) Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, hương ước, thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, giữ gìn phát
huy bản sắc văn hoá các làng quê.
(6) Tập trung giải quyết ngay các vấn đề bức xúc của nông dân
(7) Xây dựng và ban hành các chính sách hỗ trợ phát triển nông thôn để tạo việc làm, tăng thu
nhập, cải thiện đời sống và tạo nội lực cho họ xây dựng nông thôn mới.
(8) Tăng đầu tư từ ngân sách Chính phủ cho nông nghiệp, nông thôn và các dịch vụ công như y
tế, giáo dục, văn hóa, bảo hiểm… đủ tiềm lực tạo bước nhảy vọt để phát triển nông thôn bền
vững.
(9) Kiện toàn, nâng cao năng lực của hệ thống hành chính của chính quyền địa phương tạo điều
kiện để các tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội của chính người nông dân phát huy hiệu quả hoạt
động đáp ứng nguyện vọng và bảo vệ lợi ích cho họ.
3.3.2. Đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất vừa căn cứ vào từng đối tượng cụ thể
vừa bám sát cơ cấu kinh tế của địa phương
Vấn đề bức xúc và cấp thiết nhất hiện nay là việc làm cho người lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp. Để giải quyết việc làm thì điều quan trọng nhất là đào tạo để chuyển đổi nghề cho
nông dân. Tuy nhiên, việc làm này không hề đơn giản. Đối tượng thiếu việc làm thường ở hai
lứa tuổi. Thanh niên (dưới 35 tuổi) và trung niên trở lên (35 tuổi trở lên). Nhưng đối tượng chính
lại là lứa tuổi trung niên và là phụ nữ, bởi vì thanh niên thường năng động, dễ nắm bắt cái mới
và xu hướng chính những năm gần đây của thanh niên nông thôn là đi ra thành thị, xuất khẩu lao
động, hoặc tới các khu công nghiệp, khu chế xuất kiếm việc làm. Lao động phụ nữ ở nông thôn,
từ 35 tuổi trở lên thường là người chịu trách nhiệm chính trong gia đình. Đặc điểm lứa tuổi này
không dễ dàng để học một nghề mới, với yêu cầu tương đối cao về trí tuệ và sự năng động để
có thể vào làm việc ở các khu công nghiệp hiện nay. Do vậy, giải pháp khả thi nhất là chính
quyền địa phương kết hợp với các nhà đầu tư, sắp xếp bố trí cho họ những công việc thuộc loại
hình dịch vụ giản đơn. Mặt khác, phải tuyên truyền để người dân có cách nhìn nhận mới về việc
làm, xoá bỏ tư duy theo kiểu ở nông thôn thì làm ruộng mới là có việc làm.
3.3.3. Quy hoạch và bảo vệ quỹ đất nông nghiệp
Đối với Hải Phòng, quy hoạch tổng thể về phát triển nông nghiệp, khu công nghiệp, khu
du lịch hiện nay là tương đối hợp lý, phù hợp với đặc điểm tự nhiên, địa hình ở đây. Quy hoạch
đó vừa khai thác được thế mạnh vừa khắc phục được hạn chế của Tỉnh. Đất trồng lúa ở Hải
Đô thị hóa là một quá trình mang tính khách quan và có liên hệ mật thiết với trình độ phát
triển tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, một khu vực. Trong bối cảnh chung của quá
trình đô thị hóa của thành phố Hải Phòng có một số đặc điểm như sau:
- Với tốc độ phát triển của thành phố là khá cao so với mặt bằng phát triển của nhiều đô thị khác
trong cả nước, Hải Phòng được người Pháp chú trọng quy hoạch và đầu tư từ những năm đầu thế
kỷ XX và trong suốt giai đoạn chiến tranh, Hải Phòng vừa là đầu tầu phát triển của miền Bắc
XHCN. Giai đoạn 1986 - 2012, đô thị hóa của Hải Phòng phát triển cả về chiều sâu (phát triển về
chất) và cả về chiều rộng (nhiều khu đô thị mới, khu công nghiệp mới được xây dựng với tốc độ
nhanh).
- Tác động của đô thị hóa tới sử dụng đất thành phố Hải Phòng thể hiện ở các điểm như sau: 1)
Diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm mạnh phục vụ cho việc mở rộng thành phố, phát
triển các khu công nghiệp, các khu đô thị mới cũng như sự mở rộng của đất thổ cư nông thôn; 2)
Diện tích đất nuôi trồng thủy sản có xu hướng mở rộng do nhu cầu phát triển loại hình kinh tế
này. 3) Áp lực của đô thị hóa tới biến động sử dụng đất thể hiện trên các khía cạnh: di cư và áp
lực của dân số tới các loại hình sử dụng đất, thay đổi hệ thống nông nghiệp.
Xu hướng đô thị hóa của thành phố Hải Phòng trong giai đoạn tiếp theo là vẫn giữ tốc độ
tăng trưởng ở mức cao so với toàn quốc và khu vực. Đô thị hóa tập trung phát triển cả về chiều
sâu (phát triển chất lượng đô thị) và cả chiều rộng (mở rộng không gian đô thị).
Các giải pháp nhằm khắc phục tác động tiêu cực của đô thị hóa tới sử dụng đất bao gồm
nhóm giải pháp chung mang tính định hướng và các giải pháp cụ thể như: 1) kiểm soát quá trình
di cư; 2) Cân đối trong quá trình phát triển các ngành kinh tế; 3) Kiểm soát sự phát triển các khu
công nghiệp trên địa bàn thành phố; 4)Kiểm soát sự phát triển các khu đô thị mới.
References
1. Nguyễn Thế Bá (1982), Quy hoạch xây dựng đô thị, NXB Xây dựng Hà Nội.
2. Nguyễn Đình Cự (1997), Giáo trình Dân số và Phát triển, Nhà xuất bản Nông nghiệp.
3. Phạm Hùng Cường (2001), Chuyển đổi cấu trúc làng xã ven đô thị lớn đồng bằng sông
Hồng thành đơn vị ở trong quá trình đô thị hóa, LA.TSKT, Hà Nội.
4. Nguyễn Hữu Đoàn (2009), Vận dụng phương pháp đa tiêu chí đánh giá mức độ đô thị hóa
nhằm góp phần xây dựng các quan điểm phát triển đô thị ở Việt Nam đến năm 2020, lấy