Nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa tới biến động sử dụng đất thành phố Hải Phòng - Pdf 25

1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA ĐỊA LÝ

VŨ ĐÌNH NHÂN

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH
ĐÔ THỊ HÓA TỚI BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐÁT
THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH
ĐÔ THỊ HÓA TỚI BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐÁT
THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Chuyên ngành: Địa chính
Mã số: 60.44.80
Ngƣời thực hiện: Vũ Đình Nhân
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:PGS.TS. Trần Anh Tuấn

HÀ NỘI - 2012
3

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 9
1. Tính cấp thiết của đề tài 9
2. Mục tiêu nghiên cứu 10
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 10

2.1.6. Đặc điểm tài nguyên đất 38
2.2. Đánh giá đặc điểm quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Thành phố Hải Phòng giai đoạn 1986 - 2012 38
2.2.1. Những thay đổi địa giới hành chính Thành phố Hải Phòng 38
2.2.2. Phân tích đặc điểm quá trình phát triển kinh tế 45
2.2.3. Đánh giá đặc điểm của các yếu tố xã hội trong quá trình phát triển
kinh tế Hải Phòng 51
2.3. Phân tích đặc điểm quá trình đô thị hóa của Thành phố Hải Phòng
giai đoạn 1986 - 2012 55
2.3.1. Tốc độ đô thị hóa của Thành phố Hải Phòng giai đoạn 1986 - 2012 55
2.3.2. Đặc điểm và những tác động chính của quá trình đô thị hóa
trên địa bàn Thành phố Hải Phòng 57
2.3.3. Xu hƣớng của quá trình đô thị hóa Thành phố Hải Phòng
trong giai đoạn tiếp theo 58
CHƢƠNG 3. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
TỚI BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG
GIAI ĐOẠN 2003 - 2010 60
3.1. Phân tích biến động sử dụng đất Thành phố Hải Phòng
giai đoạn 2003 - 2010 60
3.1.1. Xây dựng bản đồ biến động sử dụng đất thành phố Hải Phòng
giai đoạn 2003 - 2010 60
3.1.2. Đánh giá biến động sử dụng đất thành phố Hải Phòng 64
3.1.3. Xác định các khu vực với các mức độ biến động sử dụng đất
khác nhau 66
3.1.4. Phân tích những nguyên nhân gây ra biến động sử dụng đất 66
3.2. Đánh giá tác động của quá trình đô thị hóa tới biến động sử dụng đất
thành phố Hải Phòng 67
3.2.1. Di dân và áp lực dân số tới các khu vực có mức độ biến động
sử dụng đất khác nhau 67
3.2.2. Đánh giá vai trò của quy hoạch và các chính sách phát triển 72

Hình 2.10. Lao động hoạt động và không hoạt động kinh tế
giai đoạn 2000 - 2010 53
Hình 3.1. Quy trình xây dựng bản đồ biến động sử dụng đất thành phố Hải Phòng
giai đoạn 2003 -2010 60
Hình 3.2. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất thành phố Hải Phòng năm 2003 62
Hình 3.3. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất thành phố Hải Phòng năm 2010 63
Hình 3.4. Diện tích đất nông nghiệp Hải Phòng giai đoạn 1995 - 2010 64
Hình 3.5. Bản đồ dân nhập cƣ vào Hải Phòng giai đoạn 2010-2011 71
Hình 3.6. Chỉ số đa dạng trong ngành trồng trọt phân theo
quận, huyện năm 2010 77
Hình 3.7. Tỷ lệ gia súc tăng, giảm phân theo các quận, huyện
giai đoạn 1986-2010 79
Hình 3.8. Sơ đồ phân hóa đa dạng hệ thống nông nghiệp thành phố Hải Phòng
năm 2010 84
Hình 3.9. Bản đồ đa dạng hóa hệ thống cây trồng 85
7

DANH MỤC BIỂU BẢNG
Bảng 1.1. Quá trình biến đổi dân số đô thị theo các vùng (1920 - 2000) 20
Bảng 1.2. Quá trình thay đổi dân cƣ đô thị trên thế giới giai đoạn 1800-1960 21
Bảng 1.3. Sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế Việt Nam 24
Bảng 2.1. Những thay đổi địa giới hành chính thành phố Hải Phòng Error!
Bookmark not defined.
Bảng 2.2. Bảng kết quả thống kê các tiêu chí đô thị hóa ở Hải Phòng
giai đoạn 1995-2010 56
Bảng 2.3. Dự báo dân số các vùng tới năm 2034 58
Bảng 2.4. Dự báo dân số thành phố Hải Phòng tới năm 2034 59
Bảng 3.1. Ma trận biến động sử dụng đất giai đoạn 2003-2010 61
Bảng 3.2. Biến động đất chuyên dùng cho nông nghiệp trên địa bàn
thành phố Hải Phòng phân theo đơn vị hành chính 65

Quốc gia có mức thu nhập trung bình trên thế giới. Đô thị hóa - kết quả tất
yếu của quá trình phát triển của đất nƣớc - đã và đang diễn ra mạnh mẽ cả về
số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng của các đô thị. Theo số liệu thống kê của Cục
Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng 2010), hệ thống đô thị quốc gia đang có sự
chuyển biến tích cực về lƣợng và chất. Năm 1990 cả nƣớc có khoảng 500 đô
thị, đến năm 2000 con số này lên tới 649. Hiện nay, toàn quốc có 754 đô thị,
trong đó có 2 đô thị loại đặc biệt (Hà Nội, TP.HCM), 7 đô thị loại I, 14 đô thị
loại II, 45 đô thị loại III, 40 đô thị loại IV và 646 đô thị loại V. Bƣớc đầu đã
hình thành chuỗi đô thị trung tâm quốc gia và trung tâm vùng. Các đô thị
trung tâm quốc gia gồm Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà
Nẵng, Cần Thơ. Các đô thị trung tâm vùng gồm các thành phố nhƣ: Biên Hòa,
Vũng Tàu, Buôn Ma Thuột, Nha Trang, Nam Định, Thái Nguyên, v.v. Các đô
thị trung tâm tỉnh gồm các thành phố, thị xã giữ chức năng trung tâm hành
chính-chính trị, kinh tế, văn hóa, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, và các
đô thị trung tâm huyện; đô thị trung tâm cụm các khu dân cƣ nông thôn, các
đô thị mới. Tỷ lệ dân số đô thị đã tăng từ 23,7% năm 1999 lên 29,6% năm
2009 (tƣơng đƣơng với 25,4 triệu dân đô thị trong tổng số 85,8 triệu dân số
toàn quốc).
Quá trình đô thị hóa đem lại nhiều tác động tích cực, góp phần không
nhỏ vào quá trình phát triển ở cấp quốc gia, cấp vùng và địa phƣơng. Những
lợi ích do quá trình đô thị hóa đem lại nhƣ: 1) tạo động lực (trở thành cực phát
triển) cho các địa phƣơng; 2) góp phần nâng cao chất lƣợng cơ sở hạ tầng; 3)
phát triển các ngành công nghiệp, thƣơng mại và dịch vụ; 4) tạo việc làm cho
cƣ dân địa phƣơng,…Bên cạnh đó, đô thị hóa còn gây ra những tác động tiêu
cực làm ảnh hƣởng không nhỏ tới quá trình phát triển theo mục tiêu phát triển
bền vững của các địa phƣơng nhƣ: 1) làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất gây
ra những tác động tiêu cực; 2) di dân tự do và những ảnh hƣớng tới quá trình
phát triển kinh tế - xã hội; 3) phát triển thiếu đồng bộ cơ sở hạ tầng đặc biệt là
các công trình xử lý chất thải;….
10

động hiện trạng sử dụng đất Thành phố Hải Phòng.
- Đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những tác động tiêu cực của đô thị
hóa tới sử dụng đất trong giai đoạn tiếp theo.
11

4. Quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Quan điểm nghiên cứu
4.1.1. Quan điểm hệ thống
Sử dụng đất đô thị là hệ thống phức tạp, bao gồm các hợp phần cấu tạo
thành, mỗi loại hình sử dụng đất đô thị chịu nhiều tác động của các yếu tố kinh
tế - xã hội trong một chỉnh thể thống nhất. Chính vì vậy, khi có những tác động
vào mọi thành phần hay một bộ phận nào đó thì các thành phần hay bộ phận
khác sẽ bị thay đổi theo phản ứng dây chuyền. Do đó, nghiên cứu tác động của
đô thị hóa tới hiện trạng sử dụng đất đô thị cần nhìn nhận và xem xét trong một
hệ thống hoàn chỉnh. Sự thay đổi của một hợp phần trong hệ thống sẽ kéo theo
sự thay đổi của các hợp phần khác cũng nhƣ toàn bộ hệ thống.
4.1.2. Quan điểm tổng hợp
Biến động hiện trạng sử dụng đất đô thị chịu nhiều tác động của các yếu
tố khác nhau của quá trình đô thị hóa. Khi nghiên cứu tác động của quá trình đô
thị hóa tới sự biến đổi hiện trạng sử dụng đất đô thị, cần đánh giá, phân tích
tổng hợp các nguyên nhân gây ra đô thị hóa cũng nhƣ những tác động của quá
trình này tới sự thay đổi mục đích sử dụng của các loại hình sử dụng đất trong
địa bàn nghiên cứu. Quan điểm nghiên cứu tổng hợp còn thể hiện ở chỗ: đánh
giá những tác động tƣơng hỗ của các yếu tố đô thị hóa tới quá trình phát triển
chung của Thành phố Hải Phòng theo một giai đoạn nhất định.
4.1.3. Quan điểm phát triển bền vững
Ngày nay, thuật ngữ phát triển bền vững đã trở nên khá quen thuộc với
cuộc sống thƣờng ngày, đƣợc sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp quy và
trong các tài liệu nghiên cứu khoa học. Khái niệm này lần đầu tiên đƣợc đƣa
tra năm 1980 trong cuốn sách “Chiến lược bảo tồn thế giới” do Liên minh

Tài nguyên và Môi trƣờng thành phố Hải Phòng, UBND thành phố Hải Phòng
và nhiều cơ quan chuyên ngành khác.
Hệ thống tài liệu thu thập đƣợc bao gồm: tài liệu liên quan đến lịch sử
phát triển của thành phố Hải Phòng, tài liệu về khí hậu, địa chất, địa hình, thuỷ
văn, thuỷ lợi, dân số, lao động, mức sống, tình hình phát triển của các ngành
kinh tế phục vụ trực tiếp cho việc đánh giá đặc điểm của quá trình đô thị hóa
và phân tích những biến đổi của hiện trạng sử dụng đất thành phố Hải Phòng.
4.2.2. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Trong quá trình nghiên cứu phân tích số liệu, cần phải điều tra nhằm bổ
sung chính xác thông tin thực tế. Đề tài đã sử dụng phƣơng pháp điều tra thực
địa nhằm xác định lại các thông tin đã thu thập.
13

Bên cạnh đó, phƣơng pháp điều tra, khảo sát thực địa còn giúp cho việc
kiểm chứng kết quả và những tác động của quá trình đô thị hóa tới hiện trạng
sử dụng đất của Thành phố Hải Phòng tại một thời điểm xác định.
4.2.3. Phương pháp viễn thám và GIS
Đề tài ứng dụng phƣơng pháp viễn thám và GIS để xây dựng, biên tập
bản đồ hiện trạng lớp phủ mặt đất ở các thời điểm khác nhau (2000 và 2010).
Mặt khác, đề tài sử dụng phƣơng pháp này để xây dựng các bản đồ chuyên đề
phục vụ cho quá trình đánh giá tác động của đô thị hóa tới hiện trạng sử dụng
đất ở các thời điểm khác nhau
4.2.4. Phương pháp thống kê
Phƣơng pháp thống kê đƣợc sử dụng trong quá trình nghiên cứu nhằm
xử lý những số liệu thống kê đã thu thập đƣợc để phân tích đặc điểm của quá
trình đô thị hóa khu vực nghiên cứu. Trên cơ sở đó, đƣa ra những tác động
của quá trình đô thị hóa tới sự biến động của hiện trạng sử dụng đất Thành
phố Hải Phòng.
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Thành phố Hải Phòng.

ngành khoa học cũng nhƣ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Chính vì vậy,
dƣới mỗi một quan điểm tiếp cận, đô thị hóa lại đƣợc hiểu theo những nội
dung khác nhau.
- Trên thế giới
+ Theo Pivôvarov - Viện Địa lý thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô thì:
Đô thị hóa là một quá trình kinh tế xã hội toàn thế giới và những kết
quả của nó. Biểu hiện ở sự mở rộng lãnh thổ thành phố, sự tập trung dân cƣ,
sự thay đổi các quan hệ xã hội.
Đô thị hóa là quá trình tập trung đẩy mạnh và đa dạng hóa những chức
năng phi nông nghiệp, sự mở rộng lối sống thành thị, các hình thức cƣ trú tiến
bộ, sự phát triển giao dịch, nền văn hóa thành thị
15

Đô thị hóa đi đôi với việc tăng dân số đô thị, tăng cƣờng mức độ tập
trung dân cƣ vào các thành phố lớn, sự mở rộng không ngừng của lãnh thổ
thành phố.
Đô thị hóa là đối tƣợng nghiên cứu khoa học dƣới nhiều khía cạnh khác
nhau trên nhiều lĩnh vực. Nhƣng biểu hiện đặc biệt mạnh mẽ trên khía cạnh
địa lý thông qua các yếu tố nhƣ là: Thay đổi điều kiện sống của nhân dân
trong phát triển cấu trúc ngành và cấu trúc lãnh thổ của nền kinh tế và tổ chức
lãnh thổ xã hội. Sự quan tâm của địa lý tới quá trình đô thị hóa có nguồn gốc
sâu xa vì đặc trƣng cho quá trình này là sự biểu hiện địa lý và cơ sở địa lý rất
rõ rệt. Việc giải thích khía cạnh khoa học cơ cấu và những đặc điểm của quá
trình đô thị hóa đòi hỏi phải là khía cạnh địa lý, vì nó là một dạng không gian
quan trọng nhất của sự tiến hóa kinh tế - xã hội và quan hệ hết sức chặt chẽ
với sự phân bố địa lý lao động [14].
+ Nhƣ vậy có thể nói, “Đô thị hóa thực chất là quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và cơ cấu xã hội với các đặc trƣng nhƣ sau:
Một là: Hình thành và mở rộng quy mô đô thị với cơ sở hạ tầng kỹ
thuật hiện đại, dẫn đến chuyển dịch cơ cấu từ nông nghiệp là chủ yếu sang sản

nhập cƣ làm cho dân cƣ đô thị tăng nhanh về số lƣợng, dẫn đến sự mở rộng
không gian đô thị: “Đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư vào các đô thị và
sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư cho đô thị do yêu cầu của công
nghiệp hóa” [8].
Dân số đô thị tăng lên nhanh chóng đã ảnh hƣởng không nhỏ tới nhiều
hoạt động kinh tế và văn hóa truyền thống nhƣng quan trọng hơn cả là ảnh
hƣởng mạnh mẽ tới môi trƣờng sống của ngƣời dân: “Đô thị hóa là quá trình
biến đổi liên tục của đời sống vật chất và đời sống tinh thần theo hướng tăng
cường tiêu thụ các giá trị vật chất và giá trị tinh thần do chính người lao
động làm ra với tư cách là một cá thể và bằng sức lao động của mình” [8].
+ Theo quan điểm của các nhà kinh tế: “Đô thị hóa là một quá trình phân bố
các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư những vùng
không phải đô thị thành đô thị, đồng thời phát triển các đô thị hiện có theo
chiều sâu. Quá trình đô thị hóa được biểu hiện cụ thể trên các phương diện
như tăng quy mô và mật độ dân cư, phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, nâng cao
trình độ cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tăng vai trò thúc đẩy kinh tế - xã hội trong
khu vực” [2].
+ Trên cơ sở phân công lao động xã hội, thì “Đô thị hóa là sự gắn bó chặt chẽ
và tương tác của hai quá trình có liên quan với phân công lao động xã hội
(theo ngành và theo lãnh thổ). Một trong hai quá trình này là sự hình thành
17

môi trường đô thị hóa cao độ có cơ sở là quá trình “phân hóa” hoạt động
của con người đang diễn ra trong vùng hẹp, cụ thể như quá trình chuyên môn
hóa ngày càng sâu sắc của sản xuất, tiếp theo là tổng hợp các dạng khác
nhau của chuyên môn hóa. Quá trình thứ hai là sự hình thành khung kinh tế
lãnh thổ, khung này là toàn bộ các điểm mấu chốt của không gian kinh tế - xã
hội” [14].
+ Theo Nguyễn Ngọc Tuấn: “Đô thị hóa là quá trình mở rộng mạng lưới các

đô thị hóa đó là mức độ đô thi hóa Mức độ đô thị hóa = Dân số đô thị/Tổng
dân số (%), và tốc độ đô thị hóa.Tốc độ đô thị hóa = (Dân số đô thị cuối kỳ -
Dân số đô thị đầu kỳ)/(N x Dân số đô thị đầu kỳ)(%/năm). Trong đó N là số
năm giữa 2 thời kỳ.
1.1.2.Phân loại và các đặc trƣng của quá trình đô thị hóa
Quá trình đô thị hóa trên thế giới có thể phân chia làm 2 loại bao gồm:
Quá trình đô thị hóa ở các nước phát triển: đặc trƣng cho sự phát
triển này là nhân tố chiều sâu và sự tận dụng tối đa những lợi ích, hạn chế
những ảnh hƣởng xấu của quá trình đô thị hóa. Đô thị hóa diễn ra do nhu cầu
công nghiệp phát triển mang tính tự nhiên
Quá trình đô thị hóa (ĐTH) ở các nước đang phát triển: có đặc trƣng
là ĐTH không đi đôi với công nghiệp hóa (CNH) (trừ một số nƣớc công
nghiệp mới - NIC). Sự bùng nổ dân số đô thị quá tải không mang tính tự
nhiên mà do sức hấp dẫn từ sự cách biệt sâu sắc về chất lƣợng cuộc sống giữa
đô thị và nông thôn.
Các đặc trưng của quá trình đô thị hóa:
Một là: Số lƣợng các thành phố kể cả các thành phố lớn tăng nhanh,
đặc biệt là thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Hai là: Quy mô dân số tập trung ở các thành phố ngày càng lớn, số
lƣợng thành phố có trên một triệu dân ngày càng nhiều.
Ba là: Hình thành và phát triển nhiều thành phố gần nhau về mặt địa lý,
liên quan chặt chẽ với nhau do phân công lao động đã tạo nên các vùng đô thị.
Thông thƣờng vùng đô thị bao gồm một vài thành phố lớn và xung quanh
chúng là các thành phố nhỏ vệ tinh.
Bốn là: Dân số thành thị có xu hƣớng tăng nhanh do quá trình di dân
nông thôn - thành thị, đang làm thay đổi tƣơng quan dân số nông thôn và
thành thị, nâng cao tỷ trọng dân thành thị trong tổng số dân.
Năm là: Mức độ đô thị hóa biểu thị trình độ phát triển xã hội nối
chung, song có một đặc thù riêng của mỗi nƣớc. Đối với các nƣớc phát triển,
19

hội của các nƣớc này, kể cả sự hình thành các vùng kinh tế, sự phát triển của
các quá trình dân tộc sự suy giảm của tính tích cực tôn giáo,
Sự tăng dân số thành thị. Trong thế giới ngày nay sự tăng dân số thành
thị trội hơn rõ rệt so với sự tăng dân số nông thôn, dù cho dân nông thôn vẫn
20

tiếp tục tăng lên, thực ra về căn bản nhờ vào các nƣớc đang phát triển. Ở đa số
các nƣớc phát triển trên thế giới dân số nông nghiệp giảm đi do sự di cƣ của
một số đông dân cƣ nông thôn đến thành phố.
Sự di cƣ của dân cƣ nông thôn đến thành phố vào giữa thế kỷ của
chúng ta đã lên tới quy mô khiến cho nó đôi khi đƣợc gọi là “Cuộc di cƣ vĩ
đại của thế kỷ XX”. Sự tăng lên mạnh mẽ của quá trình di cƣ đến thành phố
trùng với cái đƣợc gọi là “Sự bùng nổ nhân khẩu” đã làm cho nhịp độ tăng
dân số chƣa từng có ở các thành phố. Theo những cuộc thống kê của Ban dân
cƣ thuộc Hội đồng kinh tế và xã hội của Liên hợp quốc, dân số thành thị trên
thế giới trong các năm 1960-2000 sẽ tăng lên gấp quá 3 lần và vƣợt quá 3 tỷ
ngƣời.
Những số liệu ở bảng 1.1. cho ta một khái niệm nhất định về nhịp độ
thần tốc của quá trình đô thị hoá và những xu thế của nó. Những số liệu ấy
làm sáng tỏ tới mức đáng kể dân số và tỷ lệ dân cƣ thành thị toàn thế giới và
các vùng (nƣớc) chủ yếu so với các khu dân cƣ có 20 nghìn dân và nhiều hơn
nữa mới đƣợc qui ƣớc gọi là các thành phố theo các tài liệu xuất bản của Liên
hợp quốc. Điều kiện đó cho phép tránh đƣa vào tổng số một phần dân cƣ nông
thôn, vì nhƣ thế sẽ dẫn đấn sự thiếu hụt một số đông dân cƣ thành thị, đặc biệt
là ở các nƣớc phát triển và các nƣớc có trình độ đô thị hoá cao.
Bảng 1.1. Quá trình biến đổi dân số đô thị theo các vùng (1920 - 2000)

Thực tế
Trong tƣơng lai
Năm 1920

Liên Xô
25
15
60
32
105
49
190
68
300
85
Các nƣớc châu Âu khác
150
46
200
53
245
58
310
65
375
71
Bắc Mỹ (Mỹ và Canađa)
60
52
85
59
140
70
215

180
23
325
31
520
40
Nam Á
40
9
75
12
155
18
350
25
750
35
Châu Phi
10
7
20
11
50
18
125
28
300
39
Nguồn: Những vấn đề quy hoạch đô thị và dân cư
Ngoài ra, là những số liệu vừa nêu ra của Ban dân cƣ thuộc Liên hợp quốc

3,0
1,7
1850
1171
74,9
27,5
6,0
2,3
1900
1608
218,7
88,6
13,6
5,5
1950
2400
716,7
313,7
29,8
13,1
1960
2995
984,4
602,0
31,6
20,1
Nguồn: Những vấn đề quy hoạch đô thị và dân cư, 1984.
Quá trình đô thị hóa là một quá trình mang tính lịch sử. Số lƣợng đô thị
tăng lên vừa là chỉ tiêu chứng tỏ trình độ đô thị hóa. Đặc trƣng của đô thị hóa
thể hiện thông qua các vấn đề: 1) dân số nông nghiệp của xã hội chuyển hóa

giai đoạn 2011 - 2020 thừa nhận rằng, đô thị hóa là điều cần thiết để thúc đẩy
thực hiện các mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nƣớc.
Tƣơng tự, Trung Quốc cũng đã thay đổi định hƣớng của chính sách đô
thị, từ chỗ tập trung phát triển các đô thị nhỏ sang phát triển các đô thị và
thành phố lớn nhƣng vẫn khuyến khích sự phát triển cân bằng để các chính
sách đô thị của quốc gia không gây bất lợi cho các đô thị lớn; Tuy nhiên,
chính phủ Trung Quốc luôn đánh giá cao sự đóng góp to lớn của các đô thị
lớn đối với sự phát triển kinh tế của đất nƣớc. Kế hoạch 5 năm lần thứ 11 cho
giai đoạn 2006 - 2010 nhấn mạnh nhiều hơn đến mục tiêu phát triển các vùng
đô thị trong cả nƣớc, và thúc đẩy quá trình đô thị hóa thông qua “phát triển
cân bằng” các thành phố và thị trấn. Sự thay đổi này phần nào phản ánh mong
muốn cân bằng tăng trƣởng của chính phủ Trung Quốc, hƣớng tới tiêu dùng
trong nƣớc hơn là xuất khẩu và các đô thị lớn có thể góp phần to lớn vào sự
phát triển kinh tế của đất nƣớc.
Đô thị hóa ở Việt Nam nhìn chung tƣơng tự nhƣ Trung Quốc, Ấn Độ
và In-đô-nê-xia cho đến cuối những năm 1970, sau đó chậm lại. Trong khi
Trung Quốc và In-đô-nê-xia tiếp tục thúc đẩy đô thị hóa và tăng trƣởng kinh
tế. Gần đây, do các cải cách Đổi Mới và các chính sách công nghiệp hóa theo
định hƣớng xuất khẩu, đô thị hóa ở Việt Nam bắt đầu tăng tốc. Việt Nam
23

cũng đạt tốc độ tăng trƣởng kinh tế cao, tính theo GDP trên đầu ngƣời. Quá
trình này trùng khớp với sự chuyển đổi cơ cấu nhanh chóng từ nền kinh tế dựa
vào nông nghiệp sang một nền kinh tế chú trọng hơn đến công nghiệp và hoạt
động theo định hƣớng xuất khẩu. Tất cả những điều này cho thấy, đô thị hóa,
một chỉ số phản ánh sự chuyển đổi kinh tế, có liên quan đến tăng trƣởng kinh
tế ở Việt Nam, cũng nhƣ bất kỳ nơi nào khác trên thế giới. Hình 1.1. Đô thị hóa và tăng trƣởng kinh tế ở Việt Nam

-18,7
Công nghiệp
26,2
26,1
36,7
43,2
16,9
(riêng ngành sản xuất chế tạo)
15,9
13,9
18,6
25,2
9,3
Dịch vụ
37,0
40,3
38,7
38,3
1,3
Tổng cộng
100,0
100,0
100,0
100,0
0,0
Nguồn: Các chỉ số Phát triển Thế giới, Ngân hàng Thế giới
 Đô thị hóa tại Việt Nam bao gồm 5 yếu tố chuyển đổi
Đô thị hóa bao gồm những chuyển đổi về chức năng và không gian cần
thiết để tăng trƣởng và phát triển dài hạn. Tốc độ và hình thức đô thị hóa luôn
có sự liên hệ mật thiết với tính lƣu động của các thị trƣờng sản xuất và mức

nhƣ thế nào (và ngƣợc lại). Sự chuyển đổi “dân số” đề cập đến những thay đổi
kinh tế xã hội do những biến đổi về kinh tế và tổ chức không gian gây ra (và
ngƣợc lại) trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam. Sự chuyển đổi “phúc lợi” –
có tƣơng quan mật thiết đến những thay đổi về kinh tế, không gian, hành
chính và dân số - đề cập đến tiến trình đô thị hóa ở Việt Nam có cải thiện điều

Trích đoạn Cơ sở khoa học của việc hoạch định các chính sách Giải quyết đúng đắn, hài hóa mối quan hệ giữa lợi ích của nhân dân Các giải pháp cụ thể
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status