1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Ứng dụng thực tế của UCP
600 và ISBP 681 trong việc tạo lập và
kiểm tra bộ chứng từ thanh toán theo
phương thức tín dụng chứng từ tại một
số ngân hàng thương mại”
2
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG
CHỨNG TỪ, UCP600 VÀ ISBP681 7
1. Bất cập đến từ phía bộ tập quán: 68
2. Bất cập đến từ phía các doanh nghiệp 70
3. Bất cập đến từ phía ngân hàng: 71
CHƯƠNG III 73
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG BẤT
CẬP VÀ KHÓ KHĂN KHI ÁP DỤNG 73
I. Xu hướng áp dụng UCP600 và ISBP tại các ngân hàng thương mại: 73
1. Tuân theo những quy định của UCP600 và ISBP681 73
2. Một số điều chỉnh: 74
II. Một số giải pháp nhằm khắc phục những bất cập và khó khăn khi áp
dụng: 75
1. Một số giải pháp mang tính chất vĩ mô: 75
1.1. Đối với Uỷ ban ngân hàng thuộc ICC: 75
1.2. Đối với các cơ quan chức năng, ngân hàng nhà nước Việt Nam 76
2.Một số giải pháp mang tính chất vi mô: 77
2.1.Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu:
77
2.2.Đối với các ngân hàng thương mại: 78
2.3. Đối với các cơ sở đào tạo nghiệp vụ ngân hàng nói chung và thanh
toán quốc tế nói riêng 82
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC
4LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra cả về chiều rộng và chiều sâu, và
dụng chứng từ khi áp dụng phiên bản UCP mới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Ứng dụng thực tế của UCP 600 và ISBP 681
trong việc tạo lập và kiểm tra bộ chứng từ thanh toán theo phương thức tín
dụng chứng từ
- Phạm vi nghiên cứu: Tình hình ứng dụng tại một số ngân hàng thương
mại
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu và tổng hợp tài liệu tại bàn
- Phương pháp đối chiếu so sánh
- Phương pháp diễn giải, quy nạp
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
5. Kết cấu của khoá luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham
khảo, khoá luận đựơc chia làm 3 chương:
6
Chương 1: Khái quát chung về phương thức tín dụng chứng từ, UCP600
và ISBP681
Chương 2: Thực tế áp dụng UCP600 và ISBP681 trong việc tạo lập và
kiểm tra bộ chứng từ thanh toán tại một số ngân hàng thương mại
Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm khắc phục những bất
cập và khó khăn khi áp dụng.
Do hạn chế về kiến thức, thời gian thực hiện và kinh nghiệm thực tế,
khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được
sự quan tâm góp ý của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để khoá luận ngày
càng hoàn thiện và có ý nghĩa hơn.
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới cô giáo Th.S Phạm Thanh Hà
đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận cũng như
cung cấp cho em những kiến thức cơ bản cũng như những tài liệu cần thiết
quy định trong hợp đồng, đồng thời cũng phải đảm bảo rằng khi người mua
trả tiền thì chắc chắn người mua sẽ nhận được hàng đúng theo yêu cầu của
hợp đồng mua bán.
Một phương thức thanh toán hữu hiệu nhất, an toàn nhất cho cả người
mua, người bán đồng thời lại có thể phát huy được thế mạnh của ngân hàng
đã ra đời. Đó chính là phương thức tín dụng chứng từ (documentary credit)
8
Theo điều 2 UCP600 (Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng
từ) “Tín dụng là bất cứ một sự thoả thuận nào, dù cho được mô tả hoặc đặt tên
như thế nào, là không thể huỷ bỏ và theo đó là một sự cam kết chắc chắn của
ngân hàng phát hành để thanh toán khi xuất trình phù hợp”
Định nghĩa trên có thể hiểu một cách đơn giản như sau: về bản chất,
phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó một ngân hàng
(ngân hàng phát hành) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu phát hành
thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng
lợi của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong
phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ
phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng. Để có thể thực hiện việc
thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu bằng phương thức tín dụng chứng từ thì
trước hết người nhập khẩu (người trả tiền) phải làm đơn yêu cầu ngân hàng
phát hành thư tín dụng. Và để ngân hàng phát hành thư tín dụng cho người
hưởng lợi hưởng thì thông thường người yêu cầu phát hành thư tín dụng phải
ký quỹ một số tiền nhất định mở L/C và cũng phải trả một khoản phí nhất
định. Tỷ lệ ký quỹ là bao nhiêu phần trăm trị giá L/C thì tuỳ thuộc vào mối
quan hệ giữa người nhập khẩu và ngân hàng. Mức phí mở L/C thì áp dụng
theo mức phí của từng ngân hàng cụ thể. Như vậy thư tín dụng đã xác lập
phương thức thanh toán theo L/C. Nếu không có phương thức tín dụng thì
phương thức thanh toán này cũng không được áp dụng. Các bên tham gia cơ
bản trong phương thức tín dụng chứng từ gồm có:
nhập khẩu
Người
xuất khẩu
(1)
(3)
(8) (9)
(6)
(7)
(4)
(5)
(6)
(2)
(7)
10
chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép xuất nhập khẩu hàng hoá (nếu là
hàng hoá thuộc đối tượng chịu hạn ngạch xuất nhập khẩu)
Trong thực tế, quy trình phát hành thư tín dụng như sau: 11
SƠ ĐỒ 1: QUY TRÌNH PHÁT HÀNH THƯ TÍN DỤNG
Trách Nhiệm
Tiến Trình Thực Hiện
Y
Y
N 12
Diễn giải thực hiện:
Tiếp nhận yêu cầu: CVKH tiếp nhận yêu cầu của khách hàng và hướng
dẫn khách hàng lập đơn xin yêu cầu phát hành thư tín dụng (theo mẫu sẵn có
của các ngân hàng) và chuẩn bị bộ hồ sơ (các giấy tờ cần thiết theo yêu cầu
của ngân hàng)
Kiểm tra, thẩm định và phê duyệt hồ sơ mở L/C:
CVKH kiểm tra và xác định rõ tính đầy đủ, rõ ràng của yêu cầu phát
hành hoặc điều chỉnh thư tín dụng, so sánh với hợp đồng ngoại thương để kịp
thời lưu ý khách hàng khi có mâu thuẫn.
CVKH chịu trách nhiệm thẩm định khách hàng có đủ điều kiện để phát
hành, điều chỉnh thư tín dụng hay không theo các hướng dẫn hiện hành của
các ngân hàng.
Phê duyệt hồ sơ:
Sau khi CVKH kiểm tra hồ sơ và thẩm định khách hàng, trưởng đơn vị,
chuyên gia phê duyệt tín dụng các cấp có trách nhiệm phê duyệt hồ sơ. Nếu
đồng ý thì phê duyệt chấp nhận và chuyển xuống cho CVKH, ban hỗ trợ kinh
doanh. Nếu không đồng ý thì trả lại cho CVKH để yêu cầu khách hàng sửa
đổi cho phù hợp.
Thông báo, ký kết hợp đồng, mở tài khoản và mua ngoại tệ:
Sau khi thông báo cho khách hàng về việc đơn yêu cầu mở thư tín dụng
được chấp nhận, hợp đồng dịch vụ giữa người yêu cầu mở L/C và ngân hàng
phát hành được ký kết và một tài khoản được mở cho khách hàng. Nếu khách
của L/C.
(3) Căn cứ vào đơn xin mở thư tín dụng, ngân hàng phát hành thư tín
dụng sẽ lập một thư tín dụng và thông qua ngân hàng phục vụ người xuất
khẩu (ngân hàng thông báo) ở nước người xuất khẩu thông báo thư tín dụng
và chuyển thư tín dụng đến người xuất khẩu.
Trên thực tế, quy trình thanh toán thư tín dụng có thể sẽ phải sử dụng
nhiều hơn một ngân hàng thông báo, bởi vì trong trường hợp ngân hàng thông
báo L/C được người yêu cầu đề nghị trong thư tín dụng mà ngân hàng đó lại
không có quan hệ đại lý với ngân hàng phát hành L/C thì ngân hàng phát hành
phải thông qua một ngân hàng đại lý của mình (nhưng có mối quan hệ với
ngân hàng mà người yêu cầu chỉ định làm ngân hàng thông báo) thông báo
thư tín dụng. Như vậy trong quy trình sẽ có 2 ngân hàng thông báo: ngân hàng
thông báo thứ nhất và ngân hàng thông báo thứ 2.
(4) Khi nhận được thư tín dụng, ngân hàng thông báo báo cho người xuất
khẩu về thư tín dụng và khi nhận được bản gốc của thư tín dụng thì chuyển
ngay cho người xuất khẩu.
Thực tế có trường hợp thư tín dụng sẽ được thông báo sơ bộ, các chi tiết
đầy đủ gửi sau. Trong trường hợp ấy, ngân hàng thông báo khi nhận được
thông báo sơ bộ thư tín dụng từ ngân hàng phát hành sẽ thông báo sơ bộ cho
người xuất khẩu. Trong thông báo sơ bộ ghi rõ: “các chi tiết đầy đủ gửi sau”.
Khi nhận được bản gốc từ phía ngân hàng phát hành thì chuyển ngay cho
người xuất khẩu.
(5) Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng,
nếu không chấp nhận thì đề nghị ngân hàng phát hành L/C sửa đổi, bổ sung
cho phù hợp với hợp đồng.
15
(6) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ phù hợp theo
yêu cầu của thư tín dụng xuất trình đến ngân hàng phát hành xin thanh toán
thông qua ngân hàng phục vụ mình (có thể là ngân hàng thông báo hoặc ngân
mua bán đều không được coi là một phần cấu thành của tín dụng thư và không
được ngân hàng xem xét đến.
♣ Hợp đồng dịch vụ giữa người yêu cầu phát hành thư tín dụng
(người nhập khẩu) và ngân hàng phát hành:
Muốn thanh toán bằng phương thức tín dụng thư thì trước hết thư tín
dụng phải được mở. Để thư tín dụng được mở thì người nhập khẩu hàng hoá
(người trả tiền) phải làm đơn (Đơn yêu cầu phát hành thư tín dụng) gửi đến
ngân hàng phát hành xin mở L/C. Căn cứ vào đó, ngân hàng phát hành sẽ phát
hành một thư tín dụng cho ngưòi hưởng lợi hưởng, và người nhập khẩu sẽ
phải chịu một khoản lệ phí để mở L/C.
Thực chất, đây chính là một hợp đồng dịch vụ giữa ngân hàng và người
xin phát hành L/C. Theo đó, ngân hàng dùng uy tín và khả năng tài chính của
mình để đảm bảo thanh toán cho người xuất khẩu khi họ xuất trình phù hợp
và thu phí từ người nhập khẩu. Và khi đó, ngân hàng sẽ chịu trách nhiệm
kiểm tra bộ chứng từ do người xuất khẩu xuất trình trước khi quyết định thanh
toán hay từ chối thanh toán.
♣ Thư tín dụng:
Thư tín dụng được ra đời trên cơ sở hợp đồng dịch vụ được ký kết giữa
ngân hàng phát hành và người nhập khẩu. Thư tín dụng hình thành trên cơ sở
hợp đồng mua bán, nhưng sau khi ra đời lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng
17
mua bán. Thậm chí trong trường hợp thư tín dụng có dẫn chiếu đến hợp đồng
mua bán thì các ngân hàng cũng không coi hợp đồng mua bán như là một bộ
phận cấu thành nên thư tín dụng. Do vậy, các ngân hàng thường khuyên
khách hàng của mình không nên dẫn chiếu hợp đồng mua bán vào thư tín
dụng. Người nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng để làm đơn yêu cầu phát hành
thư tín dụng. Người xuất khẩu căn cứ vào các điều kiện của thư tín dụng tiến
hành giao hàng và lập chứng từ trên cơ sở yêu cầu của thư tín dụng. Do đó
người xuất khẩu khi nhận được thư tín dụng phải kiểm tra kỹ các điều khoản
hiện trên bề mặt của chúng là phù hợp với các quy định của thư tín dụng thì sẽ
được ngân hàng trả tiền.
Ngân hàng không có lý do gì để từ chối thanh toán tiền hàng khi người
xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ hợp lệ. Bởi vì như đã nói ở trên, phương
thức tín dụng chứng từ là cam kết trả tiền của ngân hàng phát hành thư tín
dụng đối với người xuất khẩu khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với quy
định trong thư tín dụng. Ngân hàng không chịu trách nhiệm về tên hàng, số
lượng, trọng lượng, chất lượng, trạng thái, bao bì, việc giao hàng, giá trị hay
sự hiện hữu của hàng hoá mà bất cứ chứng từ nào đại diện. Cũng tương tự
như vậy, nếu bộ chứng từ ngân hàng xuất trình để đòi tiền người nhập khẩu
hợp lệ thì ngưòi nhập khẩu sẽ trả tiền cho ngân hàng, còn nếu không thì người
nhập khẩu có quyền từ chối thanh toán. Trong trường hợp đó, rủi ro sẽ hoàn
toàn thuộc về ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng cần phải kiểm tra kỹ bộ chứng từ
xuất trình trước khi chấp nhận thanh toán cho nhà xuất khẩu.
19
Như vậy, trong phương thức tín dụng chứng từ, các chứng từ có một tầm
quan trọng to lớn, nó tượng trưng cho giá trị hàng hoá mà người xuất khẩu đã
giao và là căn cứ cho người xuất khẩu đòi ngân hàng thanh toán tiền hàng,
đồng thời nó cũng là căn cứ duy nhất để nhà nhập khẩu dựa vào đó quyết định
thanh toán hay từ chối thanh toán đối với ngân hàng phát hành.
3. Các loại thư tín dụng chủ yếu:
Phương thức tín dụng chứng từ có ưu việt hơn hẳn những phương thức
thanh toán quốc tế khác. Tuy vậy, hiệu quả của phương thức này sẽ được thể
hiện đầy đủ hơn khi ta biết lựa chọn loại thư tín dụng phù hợp với yêu cầu của
từng tình huống cụ thể trong mối quan hệ thương mại quốc tế nảy sinh giữa
các bên.
Theo quy ước quốc tế, thư tín dụng bao gồm nhiều loại. Có thể phân biệt
chúng dưới các góc độ khác nhau dưới đây.
a. Căn cứ vào tính chất:
ngân hàng chỉ định chuyển nhượng toàn bộ hay một phần quyền thực hiện
L/C cho một hay nhiều người khác.
- L/C tuần hoàn (revolving L/C): là L/C không thể huỷ ngang mà sau
khi thực hiện hết giá trị hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì L/C lại tự động có
giá trị như cũ và tiếp tục được sử dụng một cách tuần hoàn trong một thời hạn
nhất định cho đến khi tổng giá trị hợp đồng được thực hiện.
- L/C giáp lưng (back to back L/C): là loại L/C mà sau khi người xuất
khẩu nhận được L/C người nhập khẩu mở cho mình hưởng lại dùng chính L/C
21
đó thế chấp để mở một L/C khác cho người khác hưởng. L/C đem đi thế chấp
là L/C gốc, L/C sau gọi là L/C giáp lưng.
- L/C đối ứng (reciprocal L/C): là loại L/C chỉ bắt đầu có hiêụ lực khi
một L/C đối ứng với nó đã được mở.
- L/C điều khoản đỏ (red clause L/C): là L/C có điều khoản (trước đây
thường in bằng mực đỏ) cho phép ngân hàng chỉ định ứng trước một phần tiền
cho người thụ hưởng để mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và giao hàng
theo L/C đã mở.
- L/C dự phòng (stand by L/C): là loại L/C do ngân hàng của người xuất
khẩu phát hành, cam kết hoàn trả tiền đặt cọc, ứng trước và chi phí mở L/C
cho người nhập khẩu nếu người xuất khẩu không thực hiện nghĩa vụ của
mình.
4. Vai trò của phương thức tín dụng chứng từ trong thương mại quốc tế.
a. Phương thức tín dụng chứng từ đảm bảo quyền lợi cho cả nhà
nhập khẩu và nhà xuất khẩu.
Ta có thể thấy rằng, một trong những nhược điểm của các phương thức
thanh toán: nhờ thu, chuyển tiền, ghi sổ đó là chưa giải quyết được mâu thuẫn
về lợi ích giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu. Người nhập khẩu không
bao giờ muốn trả tiền trước vì lo ngại trường hợp người xuất khẩu nhận tiền
rồi song từ chối giao hàng. Ngược lại, người xuất khẩu không bao giờ muốn
được tiền rồi nhưng lại không giao hàng. Một phương thức có thể đảm bảo
quyền lợi cho cả hai bên mua và bán, bảo đảm rằng nhà nhập khẩu sẽ chắc
chắn sẽ nhận được hàng khi trả tiền lại vừa có thể đảm bảo rằng nguồn vốn
23
của nhà nhập khẩu sẽ không bị nhà xuất khẩu chiếm dụng đó chính là phương
thức tín dụng chứng từ.
Khi làm đơn yêu cầu mở L/C, người nhập khẩu có thể xin tư vấn từ ngân
hàng phát hành để xây dựng một tín dụng chặt chẽ, có lợi nhất cho mình. Nhà
nhập khẩu có thể kiểm soát được hàng hoá thông qua việc quy định ngưòi
xuất khẩu sẽ phải xuất trình những giấy chứng nhận xuất xứ, giấy kiểm định
chất lượng do cơ quan nào ban hành. Khi nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng
từ đến đòi tiền, nếu thấy phù hợp thì mới trả tiền, không thì hoàn toàn có thể
từ chối.
Bằng việc sử dụng ngân hàng đứng ra thanh toán, phương thức tín dụng
chứng từ đảm bảo rằng người bán sẽ thu được tiền, còn người mua sẽ nhận
được hàng đúng theo quy định trong thư tín dụng. Cái lợi ở đây đối với người
nhập khẩu không chỉ là chứng từ phù hợp thì mới trả tiền mà còn ở chỗ khi
làm đơn yêu cầu mở L/C họ có thể nhận được phần tín dụng mà ngân hàng
dành cho họ thông qua việc ngân hàng cho phép ký quỹ số tiền nhỏ hơn trị giá
L/C. Do đó họ có thể sử dụng nguồn vốn thêm một thời gian nữa, đáp ứng
nhu cầu kinh doanh của mình.
Theo bà Lê Thị Phương Lan, trưởng phòng thanh toán quốc tế
NHNo&PTNT chi nhánh Hà Nội: “Sử dụng UCP 600 các doanh nghiệp có
nhiều cái lợi. Đối với các nhà nhập khẩu thì có thể đảm bảo thứ nhất về vốn,
sử dụng tài trợ thương mại. Thứ hai là đảm bảo về mặt chứng từ, có nghĩa là
chứng từ phát hành từ bên thứ 3 hoặc về các hãngt vận tải, bảo hiểm, công ty
kiểm định chất lượng thứ ba. Đương nhiên về sử dụng L/C thông qua UCP thì
nó cũng có thể hạn chế được những tranh chấp có thể xảy ra giữa người mua
và người bán. Tương tự với hàng xuất khẩu cũng vậy. Nhà xuất khẩu đảm bảo
quy định của L/C đều phải tuân thủ UCP qua đó tạo được sự chặt chẽ, nhất
quán trong thương mại quốc tế.
Nếu lựa chọn sử dụng đúng, L/C có thể đem lại nhiều lợi ích đặc biệt là
sự an toàn cần thiết cho cả 2 bên- đảm bảo là người xuất khẩu phải thực hiện
hợp đồng nghiêm túc và người nhập khẩu sẽ phải thanh toán tiền. Tuy nhiên,
để có được lợi ích này, cả hai bên nhất định phải thực hiện theo những quy tắc
và các quy định.
Các lợi ích đối với người xuất khẩu:
Ngân hàng sẽ thực hiện việc thanh toán theo đúng quy định, bất kể người
mua có muốn trả tiền hay không.
Người mua không được từ chối thanh toán vì bất cứ lý do gì.
Chậm trễ trong việc chuyển chứng từ được hạn chế tối đa.
Khi chứng từ được chuyển đến NHPH, việc thanh toán được tiến hành
ngay vào một ngày xác định (nếu là L/C trả chậm).
Khách hàng có thể đề nghị chiết khấu L/C để có tiền chuẩn bị cho việc
thực hiện hợp đồng.
Các lợi ích đối với người nhập khẩu:
Chỉ khi hàng hoá thực sự được giao thì người nhập khẩu mới phải trả
tiền
Người nhập khẩu có thể yên tâm là người xuất khẩu sẽ phải làm tất cả
những gì quy định trong L/C để đảm bảo rằng người xuất khẩu sẽ được thanh
toán tiền (nếu không người xuất khẩu sẽ mất tiền)”