1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Thị trường hàng điện tử Việt
Nam,thực trạng và giải pháp trong hội
nhập kinh tế quốc tế.”
2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I 7
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG HÀNG ĐIỆN TỬ 7
I. KHÁI QUÁT VỀ HÀNG ĐIỆN TỬ 7
1. Một số khái niệm cơ bản 7
a. Hàng điện tử 7
b. Ngành công nghiệp điện tử 7
KẾT LUẬN 39
4
LỜI MỞ ĐẦU
*Lý do chọn đề tài:
Trong những năm đổi mới,các mặt hàng điên tử dần trở nên phổ biến
trên thị trường Việt Nam,phong phú về chủng loại:chúng ta có thể thấy trên
các dãy phố chuyên kinh doanh ngành hàng này ở Hà Nội như Hai Bà
Trưng,Hàng Bài… bày bán rất nhiều mặt hàng các loại,thiết bị nghe nhìn,giải
trí,phục vụ thông tin liên lạc,phục vụ công việc hay hàng điện tử gia dụng.Sự
đa dạng về hình thức,chất lượng sản phẩm,nguồn gốc xuất sứ,giá cả của các
sản phẩm này đem đến cho người tiêu dùng cơ hội lớn để lựa chọn,thỏa mãn
nhu cầu sử dụng của mình.Trong những năm gần đây,đời sống kinh tế của đại
bộ phận người dân được cải thiện rõ rệt,khiến khả năng tiếp cận với các sản
phẩm công nghệ cao không còn là điều qua xa xỉ,bên cạnh đó thì sự ra đời của
các công nghệ mới khiến đời sống của các sản phẩm càng ngày càng rút
ngắn,giá của các sản phẩm công nghệ cao ngày càng có xu hướng giảm nhanh
nên sức mua của người dân khá cao.Điều này được minh chứng rất rõ rang
bằng tốc độ phát triển khá cao của thị trường hàng điện tử Việt Nam trong
những năm gần đây năm 2007 tăng 29.2% đạt 3.1 tỷ USD.Với dân số trên 84
triệu người,đồng nghĩa với 1 thị trường tiêu thụ rộng lớn có tốc độ tăng
trưởng cao,Việt Nam là một trong những thị trường hàng điện tử hấp dẫn đối
với các nhà sản suất trong và ngoài nước,và cả các nhà phân phối bán lẻ các
sản phẩm này.Vài năm trở lại đây,chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy sự xuất
hiện và tăng nhanh số lượng các trung tâm mua sắm hàng điện máy như
Nguyễn Kim,Carings,Việt Long,Pico Plaza…điều này chứng tỏ rằng,thị
trường hàng điện tử Việt Nam đang là mảnh đất màu mỡ của các nhà sản
xuất,phân phối và nó đã phát triển đến giai đoạn chuyên nghiệp,khi mà các
triển,bên cạnh đó thì trong hội nhập kinh tế quốc tế cũng tiềm ẩn những nguy
cơ,tìm ra cách thức hạn chế rủi ro này để thị trường phát triển bền vững,đúng
hướng.
6
*Nội dung nghiên cứu:
Trình bày,phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về thị trường hàng điện
tử,cơ cấu của thị trường hàng điện tử.Phân tích thục trạng thị trường các mặt
hàng điện tử ở Việt Nam trong những năm gần đây,xu hướng biến động của
thị trường do tác động của các yếu tố như công nghệ,kênh phân phối và sự
chuyển hướng thị hiếu của người tiêu dùng có tác động như thế nào đến thị
trường và các hoạt động nhằm phát triển thị trường các mặt hàng điện tử Việt
Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tê.
7
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG HÀNG
ĐIỆN TỬ
I. KHÁI QUÁT VỀ HÀNG ĐIỆN TỬ
1. Một số khái niệm cơ bản
a. Hàng điện tử
Hàng điện tử là toàn bộ các mặt hàng máy móc điện tử như: các loại đài, ti
vi, thiết bị âm thanh, máy tính, các linh kiện bán dẫn, mạch tích hợp.
b. Ngành công nghiệp điện tử
Là ngành kinh doanh của chế tạo, thiết kế,sản xuất và bán các thiết bị như:
giới thiệu máy tính cá nhân, và giới thiệu cũng như ứng dụng rộng rãi công
nghệ robot trong các nhà máy sản xuất, sản xuất ra các hệ thongs lưu trữ và
truyền số liệu điện tử, bên cạnh đó nó còn có tác dụng tuyệt vời là mở rộng thị
trường phổ biến âm nhạc và văn hóa. Cuối cùng thì những phát minh này đã
và đang thay đổi cuộc sống của chúng ta: từ bên trong căn nhà đến văn phòng,
nhà máy.
Rất nhiều trong số những phát minh này như bóng bán dẫn ban đầu là sản
phẩm nghiên cứu của quân đội,với mục đích tăng độ tích hợp của các thiết bị
điện tử phục vụ cho những khí tài quân sự công nghệ cao.
9
Một số các nhóm sản phẩm chính như
Các thiết bị rời:
-Thiết bị quang điện:
-Thiết bị analog:
-MOS Logic:
-Thiết bị vi xử lý:
-Thiết bị vi điều khiển:
-DRAM:
-Flash:
II. CƠ CẤU CỦA THỊ TRƯỜNG HÀNG ĐIỆN TỬ
Thị trường hàng điện tử thế giới đang phát triển với nhịp độ nhanh và
thường hay biến động. Mỗi mặt hàng, nhóm hàng cũng như mỗi khu vực thị
trường có những đặc trưng khác biệt, có thể nêu lên một số đặc trưng chủ yếu
của thị trường hàng điện tử thế giới như sau:
1. Cơ cấu về thị trường
Thị trường hàng điện tử thế giới đã có sự phân công sản xuất và phân
chia thị trường ở mức độ rất sâu và rất cao. Với ưu thế về vốn và công nghệ,
các nước công nghiệp phát triển - Mỹ, Nhật Bản - đang chi phối thị trường
hàng điện tử thế giới thông qua việc khống chế sản xuất và xuất khẩu linh
năm 2005,
+tăng 4,9% trong năm 2006, lên 41,4 tỷ USD;
11
+tăng 9,7% trong năm 2007, lên 45,4 tỷ USD
+tăng 12,3% trong năm 2008, lên 51,0 tỷ USD.
-Thị trường Nhật Bản: Doanh thu sản phẩm bán dẫn tại thị trường Nhật Bản
+năm 2005 giảm 2,6%, từ 45,8 tỷ USD năm 2004 xuống còn 44,6 tỷ
USD năm 2005,
+tăng 5,2% trong năm 2006, lên 46,9 tỷ USD;
+tăng 8,3% trong năm 2007, lên 50,8 tỷ USD
+tăng 11,6% trong năm 2008, lên 56,7 tỷ USD.
-Thị trường châu á - Thái Bình Dương: Doanh thu sản phẩm bán dẫn tại thị
trường châu á - Thái Bình Dương
+năm 2005 tăng 38,316,4%, từ 88,8 triệu USD năm 2004 lên 103,3
triệu USD năm 2005.
+tăng 11,4% trong năm 2006, lên 115,1 tỷ USD;
+tăng 12,4% năm 2007, lên 129,4 tỷ USD
+tăng 16,2% trong năm 2008, lên 150,4 tỷ USD.
2. Cơ cấu về mặt hàng
Tiêu thụ thiết bị điện tử chuyên dụng, thiết bị tin học trong cơ cấu tiêu thụ
hàng điện tử có xu hướng tăng trong khi tiêu thụ thiết bị điện tử dân dụng
giảm đi, đặc biệt là ở các nước phát triển. Các nước đang phát triển vẫn có tốc
độ tăng tiêu thụ thiết bị điện tử dân dụng cao, chủ yếu là các sản phẩm thế hệ
thứ hai với giá rẻ.
Các linh kiện bán dẫn là nền tảng của công nghiệp điện tử có tỉ trọng
ngày càng tăng trong tổng giá trị thiết bị điện tử (khoảng 50% trị giá linh kiện
nói chung). Nhật Bản và Mỹ là những nước đứng đầu về cung cấp các sản
phẩm bán dẫn.
+năm 2007, doanh thu MOS logic tăng 11,5%, lên 69,6 tỷ USD
+tăng 14,5% trong năm 2008, lên 79,7 tỷ USD.
-Thiết bị vi xử lý: Doanh thu thiết bị vi xử lý
+tăng 16,3% trong năm 2005, từ 30,5 tỷ USD năm 2004 lên 35,5 tỷ
USD
+tăng 11,7% trong năm 2006, lên 39,6 tỷ USD.
+tăng 7,6% trong năm 2007, lên 42,6 tỷ USD
+tăng 8,3% trong năm 2008, lên 46,1 tỷ USD.
-Thiết bị vi điều khiển: Doanh thu thiết bị vi điều khiển
+giảm 3,4% trong năm 2005, từ 12,5 tỷ USD năm 2004 xuống còn 12,0
tỷ USD,
+tăng 6,3% trong năm 2006, lên 12,8 tỷ USD.
+năm 2007, doanh thu thiết bị vi điều khiển tăng 9,5%, lên 14,0 tỷ
USD
+tăng 11,6% trong năm 2008, lên 15,6 tỷ USD.
-Thiết bị xử lý tín hiệu số (DSP): Doanh thu DSP
+năm 2005 duy trì ở mức 7,8 tỷ USD, tương đương với năm 2004
+tăng 17,2% trong năm 2006, lên 9,1 tỷ USD.
+tăng 19,3% trong năm 2007, lên 10,9 tỷ USD và
+tăng 20,2% trong năm 2008, lên 13,1 tỷ USD.
-DRAM: Doanh thu DRAM
+năm 2005 giảm 4,8%, từ 26,8 tỷ USD năm 2004 xuống còn 25,6 tỷ
USD
+giảm 10,1% trong năm 2006, xuống còn 23 tỷ USD.
+năm 2007, thị trường DRAM hồi phục lại với tốc độ tăng 13,1%, đạt
26,0 tỷ USD
+tăng 20% trong năm 2008, lên 31,2 tỷ USD.
-Flash: Doanh thu flash memory
14
+tăng 16,1% trong năm 2005, từ 15,6 tỷ USD năm 2004 lên 18,1 tỷ
Ngày nay, khi nghĩ đến Trung Quốc, người ta liên tưởng ngay đến việc gia
công sản xuất vì giá nhân công ở đó rẻ. Nhưng Trung Quốc đang bắt đầu thực
hiện những dịch vụ thiết kế theo dạng “chìa khóa trao tay” thay vì chỉ đơn
thuần gia công sản phẩm.
Trong khi đó, Ấn Độ lại phát triển về gia công phần mềm. Với đội ngũ
nhân viên CNTT có trình độ tiếng Anh cao, cộng thêm sự hỗ trợ mạnh mẽ từ
chính phủ, quốc gia này đã trở thành một môi trường kinh doanh rất thân
thiện cho các đồng nghiệp ở Mỹ.
*Rút ngắn chu kì sống của sản phẩm
Thường thì hiện nay,việc nghiên cứu, phát minh ra các công nghệ mới và
việc ứng dụng đưa các công nghệ mới này vào sản xuất phục vụ nhu cầu thị
trường là khá nhanh và mang tính liên tục,chính vì vậy nó đặt ra nhiều cơ hội
và thách thức đối với các nhà kinh doanh mặt hàng điện tử. Đây chính là
nguyên nhân làm nảy sinh những đặc thù riêng của ngành kinh doanh này,
chu kì sống sản phẩm ngắn, giá có xu hướng giảm, công nghệ đổi mới liên tục
khiến các nhà sản xuất kinh doanh loại mặt hàng này phải điều chỉnh các
chính sách từ chính sách sản phẩm,chính sách thị trường,chính sách giá sao
cho phù hợp với thị trường và thu được lợi ích lớn nhất.
16
Ví dụ,vào những năm cuối thế kỉ 20 thì những thiết bị nghe điện tử cầm tay
vẫn rất hạn chế về tính năng và chủng loại và đặc biệt có giá thành rất
cao,những thiết bị điện tử hỗ trợ cá nhân PDA (personal digital assistant) hay
máy nghe nhạc chỉ có rất ít loại với giá thành lên đến hàng ngàn $/chiếc, thì
hiện nay trên thị trường thế giới có rất nhiều nhà sản xuất cung cấp các sản
phẩm này với giá thành cạnh tranh.
Các chủng loại mặt hàng mới ra đời cũng kéo theo những thay đổi trong
chiến lược bán hàng của các nhà cung ứng. Nhà cung ứng đóng một vai trò
mới trên thị trường đó là làm người hướng dãn tiêu dùng,cách đây 5 năm,khi
sản phẩm Ipod đầu tiên của Apple ra đời,trên thị trường chưa hề có loại sản
phẩm nào tương tự và nhà sản xuất và phân phối vào cuộc,hướng dẫn người
Ngoài ra,trong quá trình nghiên cứu phát minh ra các công nghệ mới và đưa
chúng vào ứng dụng trong sản xuất các sản phẩm thì các nhà nghiên cứu-sản
xuất tiên phong thiết lập nên những chuẩn công nghệ mà những nhà sản xuất
đi sau phải tuân thủ.
2. Tâm lý tiêu dùng,thị hiếu thị trường.
Đây cũng là nhân tố rất quan trọng đến thị trường hàng điện tử vì các công
ty hiện nay khi đưa ra các sản phẩm mới đều nghiên cứu rất kĩ những đặc tính
của người tiêu dung nhằm thỏa mãn cao nhất nhu cầu của họ. Bất kì công ty
nào,dù là sản xuất hay công ty thương mại muốn tiêu thụ được hàng hóa dịch
vụ của mình thì đều phải bám theo thị trường,tức là cung cấp những sản phẩm
dịch vụ đúng nhu cầu của khách hàng.
Trong ngành hàng kinh doanh mặt hàng điện tử, đặc biệt là nhóm mặt hàng
điện tử tiêu dùng thì vấn đề này còn quan trọng gấp bội vì đây là nhóm hàng
mà người tiêu dùng có phản ứng khá nhạy cảm.Hiện nay đối người tiêu dùng
18
các mặt hàng điện tử chia ra làm hai trạng thái tâm lý khá khác biệt,tùy theo
tưng nước,khu vực. Ở những nước phát triển thì nhu cầu của thị trường là khá
cao,các sản phẩm muốn thâm nhập được vào các thị trường này thì ngoài đáp
ứng được các tiêu chuẩn nhà nước còn phải đáp ứng đúng nhu cầu của các
nhóm khách hàng trong nước.Ở các nước đang phát triển thì nhu cầu đơn giản
hơn và các tiêu chuẩn cũng không khắt khe như thị trường các nước phát
triển,điều này tạo điều kiện để các nhà sản xuất nhỏ có cơ hội phát triển thị
trường.
Yếu tố tâm lý tiêu dùng và thị hiếu thị trường cần phải được nghiên cứu kỹ
khi quyết định đưa ra sản phẩm,hay tiến hành các chiến dịch marketing,
không có một chuẩn sản phẩm hay chuẩn marketing nào cho thị trường toàn
cầu vì mỗi thị trường có tập quán tiêu dùng (văn hóa tiêu dùng) khác nhau.
Lấy ví dụ như Nokia,một hãng sản xuất điện thoại di động nổi tiếng,chiếm
gần 40% lượng máy bán ra trên toàn thế giới nhưng tại thị trường Bắc Mỹ thì
họ chỉ chiếm phần nhỏ do không đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường này.
thường được chú trọng đầu tư với đội ngũ nhân viên bán hàng chuyên
nghiệp,đặc biệt am hiểu về loại hàng hóa của mình bán ra,điều này sẽ dễ dàng
chiếm được long tin của khách hàng,thúc đẩy quá trình quyết định mua hàng
của khách hàng diễn ra nhanh hơn. Đối với từng loại sản phẩm thì nhà sản
xuất và nhà phân phối thực hiên các chiến lược marketing khác nhau,với các
sản phẩm điện tử tiêu dùng,thì áp dụng các hình thức quảng cáo qua các
phương tiện thông tin đại chúng: truyền hình,báo chí,quảng cáo ngoài trời…
Đối với những loại hàng hóa cao cấp,đặc chủng như: các thiết bị sản xuất, hệ
thống thông tin liên lạc,các loại máy chủ… thì hình thức bán hàng cá nhân sẽ
được áp dung.
20
Ngoài ra,việc hình thành các hệ thống bán hàng,với các chuỗi cửa hàng điện
tử chuyên dụng tiện lợi bán nhiều loại mặt hàng với nhiều dải chọn lựa cũng
là biểu hiện của sự chuyên nghiệp dần của quá trình phân phối.
Một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định mua hàng
của khách hàng chính là chính sách bảo hành của nhà sản xuất,loại hình hàng
điện tử là loại sản phẩm cao cấp có nhiều tính năng khá phức tạp,khách hàng
thường lo sợ có sự cố,trục trặn xảy ra và luôn quan tâm đến chế độ hậu
mãi,bảo hành của doanh nghiệp. Có thể nói,một laoij sản phẩm điện tử không
thể tiêu thụ được nếu như không có chính sách bảo hành hợp lý. Hiện tại trên
thị trường hàng điện tử thế giới có 2 phương thức bảo hành chính là:
+ Phương thức thứ nhất: nhà sản xuất tự duy trì hệ thống bảo hành tại các thị
trường,như vậy khách hàng sẽ yên tâm khi mua hàng vì hàng hóa của mình sẽ
được bảo hành bởi chính nhà sản xuất,tạo dựng thương hiệu nhưng điểm bất
lợi là nhà sản xuất không tập trung nguồn lực vào sản xuất,và tại mỗi thị
trường phải có chi nhánh chuyên bảo hành,việc quản lý sẽ thêm khó khăn,chỉ
những tập đoàn cực lớn mới có thể thực hiện được. Hiện tại thì HP là tập đoàn
đang thực hiện chế độ bảo hành này với chế độ bảo hành toàn cầu,đây chính
là một công cụ cạnh tranh rất mạnh của HP mà không phải nhà sản xuất nào
cũng có thể dễ dang có được
chính sách khác như chính sách chung về thương mại,chính sách đầu tư…
22
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HÀNG ĐIỆN TỬ VIỆT NAM TRONG HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
I. ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG HÀNG ĐIỆN TỬ VIỆT NAM
1. Đặc điểm của thị trường
Do đang ở giai đoạn phát triển ban đầu nên thị trường hàng điện tử Việt
Nam mang đầy đủ những đặc điểm thụ động của một nền sản xuất nhận
chuyển giao công nghệ. Hiện tại các nhà sản xuất nội địa chưa thể sáng tạo
phát minh công nghệ mà mới chỉ gia công các sản phẩm mà thôi,các nhà máy
sản xuất các thiết bị,linh kiên điện tử hiện đại vơi công nghệ hàng đầu đã có
mặt tại Việt Nam tuy nhiên đều là các nhà sản xuất nước ngoài.
Về tốc độ phát triển của thị trường,trong những năm gần đây,Việt Nam đã
tham gia hội nhập kinh tế quốc tế mà đỉnh cao là gia nhập tổ chức thương mại
thế giới-WTO,giao lưu buôn bán hàng hóa với các nước trên thế giới tăng
mạnh,mặt hàng điện tử không phải là ngoại lệ,vì vậy người dân có cơ hội tiếp
xúc,tiêu dùng các mặt hàng này ngày càng nhiều. Với việc hàng điện tử ngày
càng giảm giá ,mức giá hàng nhập khẩu trong nước không cao hơn nhiều so
với hàng nước ngoài do có sự cạnh tranh và đời sống nhân dân tăng cao đã
khiến sức tiêu thụ tăng mạnh. Tổng giá trị thị trường bán lẻ hàng điện tử-
CNTT năm 2007 ước tính đạt 3,1 tỷ đô-la Mỹ, tăng 29,2% so với cùng kỳ
năm ngoái và cao hơn mức dự đoán của GfK là 3 tỷ đô-la. Đặc biệt, nếu tính
đến cả yếu tố giảm giá của sản phẩm thì thị trường tăng trưởng còn nhanh
hơn. Điều này diễn ra là nhờ giá nhiều nhóm hàng này trong những năm qua
đã liên tục giảm, mở rộng cơ hội tiêu dùng đồng thời thúc đẩy thị trường phát
giảm đến 70%. Một chiếc ti-vi LCD tháng 6-2006 khoảng 1.980 đô-la thì đến
tháng 6-2007 chỉ còn 1.148 đô-la, tương tự như vậy, ti-vi plasma giảm từ
2.116 đô-la còn 1.470 đô-la.
Trong vài năm tới, những mặt hàng tiêu dùng cơ bản vẫn là dòng sản phẩm
chủ đạo trên thị trường, nhưng những dòng sản phẩm cấp cao hơn như LCD,
máy tính xách tay, điện thoại đa phương tiện sẽ đạt mức tăng trưởng cao. GfK
cũng dự báo giá các mặt hàng sẽ tiếp tục giảm do công nghệ thay đổi, kênh
phân phối phát triển và mức độ cạnh tranh ngày càng cao.
Kênh phân phối sẽ phát triển nhanh hơn
Những yếu tố cơ bản kích thích thị trường tăng trưởng nhanh hơn là thị
trường Việt Nam đang thay đổi và thị hiếu tiêu dùng cũng thay đổi. Dân
chúng ngày càng có sự lựa chọn đa dạng, có nhiều kinh nghiệm về sản phẩm,
sự hiểu biết về các tiện nghi tiêu dùng và thu nhập ngày càng gia tăng.
Các chuyên gia GfK cũng dự báo thị trường vẫn còn nhiều cơ hội cho tất cả
các nhà cung cấp, nhưng cũng có hàng loạt thách thức trong hoạt động bán lẻ
và cạnh tranh. Trước hết, các chỉ số nghiên cứu của GfK cho thấy khoảng
cách tiêu dùng giữa nông thôn và thành thị khá lớn sẽ là yếu tố tác động lớn
đến chính sách bán hàng của các doanh nghiệp, khoảng cách này càng lớn thì
thách thức càng cao : Làm sao để kênh bán lẻ phủ rộng trong khi vẫn bảo đảm
được lợi nhuận, giữ tốc độ tăng trưởng tỷ lệ thuận với giá trị tăng trưởng.
Lee Risk, chuyên gia của GfK Asia, nhận định sự chuyển dịch tiêu dùng đang
diễn ra khá mạnh mẽ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và Việt Nam
không nằm ngoài xu hướng đó. Trong tương lai, hiệu quả kinh doanh và mức
lợi nhuận phụ thuộc không chỉ vào doanh số của phần cứng mà còn từ các
tính năng và dịch vụ đi kèm. Vì thế, thách thức cho thị trường công nghệ Việt
Nam là phát triển cân bằng giữa phần cứng và phần mềm – dịch vụ. Các
25
chuyên gia cũng khuyến khích các doanh nghiệp bán lẻ ứng dụng công nghệ
để quản lý hệ thống của mình có hiệu quả hơn