Bài giảng môn Kiểm toán căn bản - Pdf 12

Bài giảng môn
Kiểm toán căn
bản
Bài giảng môn Kiểm toán căn bản Bộ môn Kiểm toán – Khoa Kế toán
Chương 1
BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA KIỂM TOÁN
 MỤC TIÊU CHƯƠNG :
Sau khi nghiên cứu chương này, người học có thể:
- Làm rõ các khái niệm liên quan đến các từ khóa sau : kiểm tra, kiểm soát,
thanh tra, nổi kiểm, ngoại kiểm, hiệu quả, hiệu năng
- Hiểu được phương pháp và vai trò của kiểm tra kế toán trong xã hội ngày nay.
- Hiểu rõ và nắm bắt được các thông tin, số liệu liên quan đến lịch sử hình thành
và phát triển của kiểm toán trên thế giới và tại Việt Nam.
- Nắm rõ các quan điểm khác nhau về khoa học kiểm toán trong từng thời kỳ
phát triển
- Nắm được bản chất và chức năng của kiểm toán.
- Phân tích và hiểu rõ tầm quan trọng, vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế thị
trường hiện nay.
 THỜI LƯỢNG MÔN HỌC: 8h ( 5LT + 1BT + 2TL)
 NỘI DUNG:
I.LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KIỂM TOÁN
1.Kiểm tra, kiểm soát một chức năng của quản lý
1.1Khái niệm quản lý
1.1.1. Khái niệm quản lý:
Quản lý là một lĩnh vực phổ biến, phong phú và phức tạp. Một nhà quản lý giỏi
phải biết vận dụng một cách tổng hợp các điều kiện xã hội về kinh tế, chính trị, văn hóa
vào trong quản lý.
Quản lý là quá trình định hướng và tổ chức thực hiện các hướng đã định trên cơ
sở các nguồn lực sẵn có nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.
Công tác quản lý bao gồm 3 yếu tố cơ bản sau:
- Chủ thể quản lý: là những chủ thể tiến hành hoạt động quản lý bằng cách đề ra

thời ngăn chặn và sửa chữa các sai sót trong việc ra quyết định.
Nói cách khác, hoạt động kiểm tra, kiểm soát giúp nhà quản lý tiết kiệm chi phí,
sử dụng tối đa mọi nguồn lực trong doanh nghiệp nhằm đảm bảo mang lại hiệu quả cao
nhất trên cơ sở các mục tiêu đề ra.
Như vậy, kiểm tra, kiểm soát được sinh ra nhằm mục đích làm cho hoạt động
quản lý có hiệu quả. Nó hòa vào tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý.
Cụ thể chúng ta sẽ phân tích chức năng của kiểm tra trong từng giai đoạn của quá
trình quản lý :
♣ Giai đoạn định hướng (lập kế hoạch):
Giảng viên : NCS.ThS Phan Thanh Hải
3
Bài giảng môn Kiểm toán căn bản Bộ môn Kiểm toán – Khoa Kế toán
Ở giai đoạn này chức năng kiểm tra hướng vào việc soát xét và dự báo về các
nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, để từ đó xây dựng các kế hoạch phù hợp.
Mục tiêu đặt ra phải phù hợp với tình hình thực tế tại đơn vị và tình hình kinh tế,
xã hội. Để mục tiêu đặt ra được thành công thì mục tiêu đó phải thỏa mãn bốn yếu tổ
cơ bản sau:
- Tính thách thức: yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải đặt ra mục tiêu cao
trong một khoảng thời gian nhất định để từ đó cố gắng thực hiện và đạt được mục tiêu
đề ra. Tuy nhiên, mục tiêu đặt ra phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội tại thời điểm
đặt ra mục tiêu .
- Tính khả thi: mục tiêu đặt ra phải phù hợp với tình hình thực tế tại đơn vị, phù
hợp với nguồn lực hiện có tại đơn vị.
- Tính đánh giá, đo lường và có thể định lượng được: tức mục tiêu đặt ra phải có
thể đo lường, định lượng được bằng các con số cụ thể.
- Thời gian thực hiện: mục tiêu đặt ra phải gắn liền với một khoảng thời gian cụ
thể. Thời gian thực hiện có thể nhỏ hơn 1 năm (mục tiêu ngắn hạn) hoặc lớn hơn 1 năm
(mục tiêu dài hạn). Việc xác định thời gian giúp cho các doanh nghiệp tiết kiệm được
chi phí và nhanh chóng hoàn tất mục tiêu đặt ra.
Sau khi xây dựng và kiểm tra các chương trình, kế hoạch doanh nghiệp có thể đưa

kiểm tra chưa nhiều và chưa phức tạp, kiểm tra được thực hiện đồng thời với chức
năng quản lý khác trên cùng một bộ máy thống nhất. Trái lại, khi nhu cầu thay đổi tới
mức độ cao kiểm tra cũng cần tách ra một hoạt động độc lập và đuộc thực hiện bằng
một hệ thống chuyên môn độc lập.
Hoạt động kiểm tra phải được tiến hành bởi nhũng chủ thể quản lý có năng lực,
kinh nghiệm và khả năng ngoại giao tốt. Ngoài ra, những chủ thể quản lý này còn phải
có khả năng thẩm định các thông tin trên báo cáo, từ đó xem xét các thông tin này có
đảm bảo tính trung thực, khách quan, có phản ánh đúng tình hình kinh doanh hiện có
tại đơn vị. Kết quả kiểm tra không chỉ phản ánh tính cách, năng lực của nhà quản lý mà
nó còn ảnh hưởng đến uy tín của đơn vị.
1.2 Cách thức thể hiện của kiểm tra, kiểm soát trong hệ thống quản lý:
Kiểm tra, kiểm soát được sinh ra từ nhu cầu quản lý, nhưng do hoạt động quản lý
đa dạng và phong phú nên kiểm tra cũng được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
tùy thuộc vào cơ chế kinh tế và cấp quản lý, vào loại hình hoạt động cụ thể, vào truyền
thống văn hóa và những điều kiện kinh tế xã hội khác của mỗi nơi trong từng thời kỳ
lịch sử. Song trên thưc tế chức năng kiểm tra chủ yếu được phân theo hai lĩnh vực chủ
yếu sau: trong các cấp quản lý và trong các loại hình hoạt động.
1.2.1Trong các cấp quản lý
Trong nền kinh tế có rất nhiều mô hình quản lý khác nhau tùy thuộc vào bộ máy
Nhà nước ở mỗi quốc gia nhưng chung nhất người ta thường phân thành quản lý vĩ mô
và quản lý vi mô.
Giảng viên : NCS.ThS Phan Thanh Hải
5
Bài giảng môn Kiểm toán căn bản Bộ môn Kiểm toán – Khoa Kế toán
+ Cấp quản lý vĩ mô (cấp Nhà nước)
Nói đến tầm vĩ mô là nói đến cơ quan Nhà nước. Nhà nước vừa là chủ sở hữu,
vừa là người điều tiết mọi hoạt động cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trong nền
kinh tế, Nhà nước tham gia vào việc quản lý, phát triển kinh tế, tham gia vào phân phối
lần đầu và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. Nhà nước có
nghĩa vụ kiểm tra, kiểm soát các doanh nghiệp, các đơn vị trong nền kinh tế. Nghĩa vụ

tiêu, các định mức… để từ đó kịp thời đưa ra phương hướng phát triển kinh doanh phù
hợp với tình hình thực tế tại đơn vị cũng như nhu cầu của nền kinh tế.
Công việc kiểm tra được thực hiện bởi những người bên trong doanh nghiệp
nhằm điều chỉnh kịp thời các sai phạm trên cơ sở đảm bảo “hiệu quả hoạt động kinh
doanh và hiệu năng quản lý” gọi là nội kiểm
1.2.2 Trong các loại hình hoạt động
Trong nền kinh tế, cũng có nhiều loại hình hoạt động khác nhau. Song theo mục
tiêu của các hoạt động, người ta thường phân thành hai loại cơ bản sau: hoạt động kinh
doanh và hoạt động sự nghiệp.
+ Hoạt động kinh doanh
Đây là hoạt động mà lợi nhuận được đặt lên hàng đầu, lấy lợi nhuận làm mục tiêu
trong kinh doanh, coi lợi nhuận là thước đo chất lượng hoạt động của doanh nghiệp.
Mục tiêu chủ yếu của hoạt động này đó là làm sao phải tối thiểu hóa chi phí và tối đa
hóa lợi nhuận. Do đó, kiểm tra sẽ hướng vào việc xem xét tính hiệu quả trong việc sử
dụng các nguồn lực để sản xuất kinh doanh như vốn, lao động, tài nguyên…
+ Hoạt động sự nghiệp
Nếu hoạt động kinh doanh lấy lợi nhuận làm mục tiêu hàng đầu trong phương
hướng kinh doanh của mình, thì ngược lại hoạt động sự nghiệp lại lấy lợi ích cộng
đồng, hướng về việc phục vụ xã hội làm mục tiêu hàng đầu. Do vậy, kiểm tra hướng
vào việc xem xét sự hữu hiệu của quản lý hay nói cách khác có thực hiện tốt các nhiệm
vụ xã hội trên cơ sở tiết kiệm chi phí.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm tra, kiểm soát.
Hoạt động kiểm tra, kiểm soát là một chức năng của quản lý, nó được sinh ra từ
nhu cầu quản lý. Nhưng quản lý lại gắn với cơ chế chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…
Chính vì thế, kiểm tra, kiểm soát cũng gắn liền với những tác động của các yếu tố trên.
- Về pháp lý (legal): bất kể quốc gia nào trên thế giới cũng đều đặt ra luật pháp
nhằm kiểm soát nền kinh tế nói chung và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói
riêng. Doanh nghiệp nào tồn tại trong nền kinh tế đều phải hoạt động theo khuôn khổ
pháp luật của quốc gia đó. Chính vì vậy, kiểm tra, kiểm soát cũng phải dựa trên hệ
thống pháp luật. Khi pháp luật thay đổi thì kiểm tra, kiểm soát cũng phải thay đổi theo.

kiểm tra, kiểm soát về kế toán ngày càng được quan tâm với mức độ cao hơn. Nói cách
khác, kiểm tra kế toán đã không còn thuần túy như trước, lúc này kế toán phải tiến
hành tổ chức hệ thống thông tin, đo lường, xử lý và truyền đạt những thông tin có ích
cho việc ra quyết định kinh tế.
Để thực hiện hai chức năng cơ bản của mình: thông tin và kiểm tra, kế toán cần có
một hệ thống phương pháp kế toán riêng biệt. Với một hệ thống kế toán riêng, kế toán
có thể đem lại những thông tin trung thực từ đó đảm bảo quyền lợi cho những đối
tượng cần quan tâm. Mặt khác, nó còn giúp cho quản trị đưa ra các quyết định đúng
Giảng viên : NCS.ThS Phan Thanh Hải
8
Bài giảng môn Kiểm toán căn bản Bộ môn Kiểm toán – Khoa Kế toán
đắn trong việc lựa chọn các phương hướng kinh doanh cho doanh nghiệp. Chính vì lý
do đó mà công tác kiểm tra kế toán ngày càng được chú trọng ở mọi khâu, mọi phần
hành, mọi lĩnh vực.
Kiểm tra kế toán là một hệ thống công việc được tiến hành dựa trên các phương
pháp và kỹ thuật riêng biệt nhằm đảm bảo tính trung thực, hợp lý của các thông tin tài
chính đồng thời ngăn và chấn chỉnh các sai lầm. Thông qua việc kiểm tra, một mặt Nhà
nước có thể đưa ra phương hướng phát triển nền kinh tế trên tầm vĩ mô, một mặt doanh
nghiệp có thể đưa ra được phương án kinh doanh đạt hiệu quả trong từng thời kỳ nhất
định.
2.2 Vai trò của kiểm tra kế toán
Ngày nay kiểm tra kế toán thường hướng tới các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Kiểm tra việc phản ánh, ghi chép của kế toán chính xác, kịp thời đầy đủ, đúng sự
thật, rõ ràng, đúng chế độ, chứng từ, sổ sách phản ánh đúng nghiệp vụ kinh tế phát
sinh.
- Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá
trình kinh doanh.
- Kiểm tra việc quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, phát hiện ngăn chặn các vi phạm
tài chính
Nhìn chung, kiểm tra kế toán có những vai trò cơ bản sau:

về sự biểu hiện và tổng hợp số tiền hoặc chi phí dựa theo những nguyên lý kế toán về
tất cả tài sản cũng như nguồn hình thành tài sản đó.
- Chức năng kiểm tra: đối chiếu giữa số liệu tổng hợp và các thành phần chi tiết
cấu tạo nên con số tổng hợp đó. Kiểm tra chi phí, tài sản và nguồn hình thành nên tài
sản.
+ Phương pháp tổng hợp- cân đối
- Chức năng thông tin: cung cấp các thông tin tổng hợp về thình hình tài chính,
kết quả kinh doanh, dòng tiền của đơn vị, có ý nghĩa thiết thực đối với người sủ dụng
thông tin.
- Chức năng kiểm tra: kiểm tra kết quả cân đối trong các thông tin kinh tế như:
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí.
Như vậy, kiểm tra là thuộc tính cố hữu của kế toán. Thông qua đó các kiểm toán
viên có thể kiểm tra chéo, đối chiếu số liệu giữa các phần hành.
Nhưng đến những năm 30 của thế kỷ 20, đứng trước sự sụp đổ hàng loạt của các
công ty tài chính, các công ty bất động sản ở Bắc Mỹ, kiểm tra kế toán đã bộc lộ
những nhược điểm nhất định của mình và không đáp ứng được nhu cầu mới của nhà
quản lý.
Giảng viên : NCS.ThS Phan Thanh Hải
10
Bài giảng môn Kiểm toán căn bản Bộ môn Kiểm toán – Khoa Kế toán
Xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi có một hoạt động đảm bảo cung cấp thông tin đầy
đủ, chính xác, trung thực và có khả năng kiểm tra được các hoạt động tài chính, do đó
hoạt động kiểm toán đã ra đời nhằm đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu của xã hội.
3. Lịch sử hình thành và phát triển của kiểm toán
3.1 Lịch sử ra đời và phát triển của kiểm toán trên thế giới
Trong tất cả hoạt động sản xuất kinh doanh của con người luôn luôn tồn tại hoạt
động tài chính. Đây được xem là hoạt động đòi hỏi sự kiểm tra ở mức độ cao nhất,
thường xuyên cao nhất. Nó gắn liền với mọi lĩnh vực (sản xuất hay dịch vụ), với mọi
mục tiêu (kinh doanh hay sự nghiệp công cộng), và không phân biệt sở hữu (công cộng

phát triển, con người sống hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên thông qua săn bắt và
hái lượm, người sở hữu tài sản, người quản lý tài sản là một. Chính vì vậy, có thể nói
trong thời kỳ này nhu cầu kiểm tra còn ít và ở mức độ tương đối đơn giản.
Nhưng đến cuối thời kỳ cổ đại, khi xã hội phát triển, của cải dư thừa nhiều, khi
con người tìm được nguồn thức ăn mới thông qua trồng trọt và chăn nuôi, khi họ không
còn hoàn toàn lệ thuộc vào thiên nhiên như trước thì họ trở nên khôn ngoan hơn. Lúc
này, người sở hữu tài sản và người quản lý tài sản tách rời nhau. Người sở hữu tài sản
bắt đầu muốn tìm một bên độc lập thứ ba để kiểm tra các số liệu mà người quản lý tài
sản cung cấp, xem xét sự trung thực và chính xác của các số liệu đó. Hình thức kế toán
giản đơn đã bắt đầu bộc lộ những hạn chế và không còn phù hợp với nhu cầu của quản
lý. Và đó cũng là lý do một hình thức mới ra đời- hình thức kiểm tra độc lập mà khởi
nguồn là ở La Mã, Anh và Pháp.
+ Ở La Mã:
Vào thế kỷ thứ III trước Công nguyên, các nhà cầm quyền đã tuyển dụng những
quan chức có chuyên môn chuyên trình bày lại kết quả kiểm tra trước một buổi họp
công khai. Nhiệm vụ của những quan chức này là kiểm tra sự chính xác, trung thực các
số liệu do người quản lý tài sản cung cấp, từ đó đưa ra ý kiến chấp nhận hay sửa đổi bổ
sung. Vì vậy, từ “Audit” trong tiếng Anh có gốc từ Latinh “Audire” có nghĩa là nghe
có nguồn gốc lịch sử từ đây.
+ Ở Anh:
Vua Eduoard Đệ nhất cho các nam tước quyền tuyển dụng các kiểm tra viên
(Auditors), theo văn kiện của Nghị viện. Ngoài ra, bản thân nhà vua cũng cho đối chiếu
lại tài khoản thuộc di chúc của cố hoàng hậu Eleonor của Ngài.
+ Ở Pháp:
Học hỏi tiền lệ của La Mã cổ đại, vua Charlemange (768-814) đã tuyển dụng các
quan chức cao cấp phụ trách giám sát công việc quản lý, đặc biệt là việc giám sát các
nghiệp vụ tài chính của các quan chức địa phương. Sau đó, các quan chức này có
nhiệm vụ trình bày kết quả giám sát được trước Hoàng đế và các vị quan cận thần. Đến
Giảng viên : NCS.ThS Phan Thanh Hải
12

kiểm toán viên bên ngoài. Đồng thời việc sử dụng các kiểm toán viên bên ngoài còn
tạo niềm tin cho các chủ nhà băng trong việc thẩm định các báo cáo tài chính. Vì vậy,
để đáp ứng những nhu cầu đó, kiểm toán kế toán đã ra đời (kiểm toán độc lập), mầm
Giảng viên : NCS.ThS Phan Thanh Hải
13
Bài giảng môn Kiểm toán căn bản Bộ môn Kiểm toán – Khoa Kế toán
mống của kiểm toán bắt đầu xuất hiện. Nhiệm vụ của kiểm toán độc lập lúc này là phải
cung cấp những thông tin trung thực, hợp lý cho các đối tượng quan tâm.
- Từ những năm 30 của thế kỷ XX:
Đứng trước sự phá sản hàng loạt của các tổ chức tài chính, tình trạng khủng
hoảng kinh tế và suy thoái về tài chính ngày càng lan rộng là dấu hiệu chứng minh cho
sự yếu kém của kế toán và kiểm tra so với nhu cầu quản lý mới. Chức năng tự kiểm tra
đã không còn phù hợp với xu thế của thời đại, đặc biệt đối với các tổ chức tài chính,
doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và xí nghiệp công cộng. Lúc
này, một yêu cầu cấp thiết được đặt ra là phải có sự kiểm tra ngoài kế toán. Sự trung
thực của báo cáo tài chính đã trở thành vấn đề được đặt lên hàng đầu trong việc lựa
chọn các quyết định đầu tư tài chính và cũng chính kế từ đây, kiểm toán bắt đầu thời kỳ
thịnh vượng của mình.
+ Ở Mỹ:
Kiểm toán phát triển thành môn khoa học độc lập sau cuộc đại khủng hoảng tài
chính năm 1929-1934. Năm 1934, Ủy ban bảo vệ và trao đổi tiền tệ (SEC: Securities
and Exchange Commission) đã được thành lập và ban hành quy chế kiểm toán viên bên
ngoài. Đồng thời, trường đào tạo kế toán viên công chứng của Hoa Kỳ (AICPA:
American Institute of Centifield Public Accountants) đã in ra mẫu chuẩn đầu tiên về
báo cáo kiểm toán tài khoản của các công ty.
Cũng trong giai đoạn này, ở các tổ chức kinh doanh, các doanh nghiệp đã bắt đầu
xuất hiện và phát triển chức năng kiểm tra một cách độc lập trong nội bộ với tên gọi là
kiểm toán nội bộ. Năm 1941, trường đào tạo kiểm toán viên nội bộ Hoa Kỳ được thành
lập (IIA: Institute of Internal Auditors) và công bố việc xác định chính thức về chức
năng của kiểm toán viên nội bộ.

- Những năm đầu thế kỷ XXI
Thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của khoa học
kiểm toán xuất phát từ nhu cầu kỳ vọng về sự lành mạnh hóa nền tài chính của mỗi
quốc gia và sự hội nhập chung vào nền kinh tế toàn cầu của tất cả các nền kinh tế các
nước trên thế giới.
Các hiệp hội nghề nghiệp về kế toán, kiểm toán của các quốc gia xuất hiện và
phát triển vượt bậc cả về chất lượng lẫn quy mô mà tiêu biểu trong số đó phải kể đến
Hiệp hội kế toán công chứng Anh (ACCA), Viện kế toán công chứng Mỹ (ACPA), viện
kế toán Australia (CPAA)
Những năm đầu của thế kỷ 21 đánh dấu sự thăng hoa và phát triển của nhiều tập
đoàn kiểm toán trên khắp thế giới trong đó phải kể đến Big Four (Trước năm 2002 là
Big Five khi chưa xảy ra sự kiện tập đoàn kiểm toán Arthur Andersen bị quốc hội Mỹ
tước bỏ giấy phép hành nghề bởi sự cố Enron)
Các tập đoàn này thay nhau thống trị thị phần kiểm toán toàn cầu tận dụng vào
các phương thức hiện diện thương mại theo tiêu chuẩn của tổ chức Thương mại thế
Giảng viên : NCS.ThS Phan Thanh Hải
15
Bài giảng môn Kiểm toán căn bản Bộ môn Kiểm toán – Khoa Kế toán
giới về dịch vụ (GATS). Cho đến thời điểm hiện tại số liệu về sự phát triển của một số
các tập đoàn kiểm toán này được thu thập như sau :
Firm Revenues Employees Fiscal Year
PricewaterhouseCoopers [1 $26.2bn 163,000 2009
Deloitte Touche Tohmatsu [2] $26.1bn 169,000 2009
Ernst & Young [3] $21.4bn 144,441 2009
KPMG [4] $20.11bn 135,000 2009
(Nguồn : />***
Từ lịch sử phát triển của kiểm toán, chúng ta càng không thể phủ nhận sự cần
thiết của kiểm toán trong xã hội ngày nay. Hoạt động kiểm toán cung cấp cho các
doanh nghiệp những thông tin trung thực, hợp lý giúp cho nhà quản trị đưa ra các quyết
định kinh doanh kịp thời. Hoạt động kiểm toán có thể tồn tại ngay bên trong doanh

phí hoạt động cho cấp dưới.
- Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh:
Việc tiến hành kiểm tra báo cáo tài chính được thực hiện bởi hội đồng quyết toán.
Thành phần của hội đồng này bao gồm cơ quan thuế, cơ quan chủ quản và quản lý vốn.
Do hội đồng bao gồm nhiều thành phần khác nhau nên việc đưa ra ý kiến thường
không đồng nhất và quyết định cuối cùng chỉ mang tính hình thức, còn kết quả thực sự
thì chưa được quan tâm đúng mức. Báo cáo tài chính quý này thì quý sau mới được xét
duyệt, công tác kiểm tra thì hoàn toàn dựa trên giấy tờ. Như vậy, thời kỳ này công tác
kiểm tra đi sau một bước so với thực trạng tài chính của đơn vị.
Từ những năm 90, sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ thì nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung đã không còn phù hợp nữa. Hòa nhập với xu hướng của thời
đại, Việt Nam cũng bắt đầu chuyển đổi cơ chế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
sang nền kinh tế thị trường, kéo theo sự chuyển mình trong công tác kiểm tra. Lúc này,
công tác kiểm tra đòi hỏi phải có một tổ chức độc lập đứng ra kiểm tra các thông tin tài
chính nhằm đảm bảo quyền lợi cho các đối tượng quan tâm. Do đó, kiểm toán độc lập
được hình thành, kiểm toán Nhà nước cũng được thành lập.
Năm 1989, trước những nhu cầu có tính chất cách mạng trong cơ chế quản lý, cơ
chế kinh tế, nền kinh tế sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, Chính phủ đã ra quyết
định ban hành chế độ kế toán cho các doanh nghiệp Nhà nước. Tuy nhiên, bản thân chế
độ này vẫn còn tồn tại một số nhược điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và làm
cho nó chưa bắt kịp với tốc độ phát triển kinh tế thị trường tại Việt Nam.
Đứng trước tình hình đó, Thủ tướng Chính phủ đã trực tiếp chỉ thị và chỉ đạo công
tác cải tổ chế độ kế toán năm 1994. Tháng 12 năm 1995, hệ thống kế toán tài chính
doanh nghiệp được ban hành. Có thể nói, hệ thống kế toán mới này đã đáp ứng được
nhu cầu của nền kinh tế thị trường và thông lệ kế toán quốc tế. “Nó” đảm bảo cho Nhà
nước trong việc quản lý vĩ mô nền kinh tế trong điều kiện cụ thể của nước ta.
Giảng viên : NCS.ThS Phan Thanh Hải
17
Bài giảng môn Kiểm toán căn bản Bộ môn Kiểm toán – Khoa Kế toán
Đứng trước bối cảnh hội nhập, việc đảm bảo thông tin tài chính trung thực, hợp lý

Giảng viên : NCS.ThS Phan Thanh Hải
18
Bài giảng môn Kiểm toán căn bản Bộ môn Kiểm toán – Khoa Kế toán
Sau khi có Luật Doanh nghiệp năm 1999, số lượng các doanh nghiệp kiểm toán
thành lập mới tăng nhanh (cuối năm 1999 thành lập 2 công ty; năm 2000: 7 công ty;
năm 2001: 20 công ty; năm 2002: 10 công ty; năm 2003: 14 công ty; năm 2004: 10
công ty) nhưng sau khi có Nghị định số 105 năm 2004, chỉ cho phép thành lập mới
doanh nghiệp kiểm toán là công ty hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân nên số lượng
các doanh nghiệp kiểm toán thành lập mới tăng chậm so với trước. Từ tháng 4/2003
đến 10/2005 (18 tháng) chỉ có 8 công ty được thành lập. Có 3 công ty ngừng hoạt động
hoặc thôi cung cấp dịch vụ kiểm toán, 1 công ty có vốn đầu tư nước ngoài chấm dứt
giấy phép đầu tư. Tuy nhiên, từ khi có Nghị định số 133 năm 2005 cho phép tiếp tục
thành lập công ty TNHH thì số lượng các doanh nghiệp kiểm toán lại tăng rất nhanh:
Năm 2005 tăng 14 công ty, năm 2006 tăng 40 công ty, năm 2007 tăng 16 công ty, năm
2008 tăng 15 công ty, năm 2009 tăng 16 công ty. Trong các năm qua, đặc biệt là trong
năm 2009 có một số các công ty nhỏ đã sáp nhập nên đến 6/2010 cả nước đã có 162
doanh nghiệp kiểm toán với trên 6.700 người làm việc.
Về chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp kiểm toán: Theo Nghị định số
105 và Nghị định số 133 thì các doanh nghiệp kiểm toán chỉ được hoạt động dưới 3
hình thức là công ty TNHH, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Đến cuối năm
2007 đã có 15 công ty Cổ phần và 5 DNNN đã hoàn thành việc chuyển đổi thành công
ty TNHH có từ 2 thành viên trở lên.
Theo chiến lược phát triển ngành kiểm toán, năm 2001 dự kiến đến năm 2010
có 100 công ty nhưng đến tháng 06/2010 đã có 162 công ty (vượt trên 60%) gồm 151
công ty TNHH, 5 công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài, 2 công ty có vốn đầu tư nước
ngoài, 4 công ty hợp danh.
Năm 2001 chỉ có 3/34 công ty được công nhận là thành viên của hãng kiểm toán
quốc tế thì đến tháng 06/2006 có 11/105 công ty và đến tháng 06/2010 có thêm 15
công ty tổng cộng đến nay có 26 công ty là thành viên Hãng kiểm toán quốc tế.
Các công ty chủ yếu được thành lập trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến

Sau này, Chính phủ ra Nghị định số 93/2003/NĐ-CP thay thế cho NĐ 70/CP. Hiện
nay, văn bản pháp quy cao nhất và quan trọng nhất của kiểm toán Nhà nước là Luật số
37/2005/QH11 ban hành ngày 24/06/2005. Tính đến thời điểm hiện nay, cơ cấu của
Bộ máy Kiểm toán Nhà nước được chia nhỏ thành 7 đơn vị kiểm toán chuyên ngành
(Kiểm toán ngân sách Nhà nước, Kiểm toán doanh nghiệp Nhà nước, Kiểm toán các
Giảng viên : NCS.ThS Phan Thanh Hải
20
Bài giảng môn Kiểm toán căn bản Bộ môn Kiểm toán – Khoa Kế toán
chương trình đặc biệt ) ; 9 đơn vị kiểm toán khu vực: Khu vực I (Hà Nội), khu vực II
(Vinh), khu vực III (Đà Nẵng) và khu vực IV (TP.HCM), khu vực V (Cần Thơ), khu
vực VI (Quảng Ninh), khu vực VII (Yên Bái), khu vực VIII (Nha Trang) và khu vực
IX (Mỹ Tho); 3 đơn vị hành chính sự nghiệp (Trung tâm tin học, Trung tâm khoa học
và bồi dưỡng cán bộ, Tạp chí kiểm toán); 6 đơn vị tham mưu ( Văn phòng kiểm toán
Nhà nước, Vụ tổng hợp, Vụ pháp chế, Vụ tổ chức cán bộ, Vụ chế độ và kiểm soát chất
lượng kiểm toán ) ( Nguồn: website kiemtoannn.gov.vn ).
- Năm 1996, KTNN Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức Quốc tế các Cơ
quan Kiểm toán tối cao – INTOSAI :International Organization of Supreme Audit
Institutions - 178 thành viên)
- Năm 1997, KTNN Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức các Cơ quan Kiểm
toán tối cao châu á (Asian Organization of Supreme Audit Institutions - ASOSAI).
- Các nhiệm vụ quan trọng của KTNN là :
 KTNN phải báo cáo và tư vấn cho Quốc hội về những vấn đề
có liên quan trong quá trình ra các quyết định của Quốc hội, không những ở chừng
mực Quốc hội là cơ quan giám sát cơ quan hành pháp, mà cả trong việc thực hiện
nhiệm vụ của mình với tư cách là cơ quan ban hành Luật NSNN và các đạo luật
chuyên môn có hiệu lực tài chính.
 KTNN phải báo cáo, tư vấn và giải toả trách nhiệm cho Chính
phủ, cụ thể là cho các cấp quản lý hành chính Nhà nước, các Bộ, ban, ngành trong việc
thực hiện nhiệm vụ của mình, cũng như về tác động tài chính của những biện pháp đề
ra.

chính.
Theo quan điểm này, kiểm toán phát sinh trong nền kinh tế thị trường. Trong cơ
chế thị trường, bảng khai tài chính là các bảng kê khai thông tin có tính pháp lý và sử
dụng thước đo giá trị, trong đó bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất là báo cáo tài
chính. Chính vì vậy, đối tượng của kiểm toán là bảng khai tài chính, trong đó đối tượng
trực tiếp và thường xuyên của kiểm toán là báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính được
xem là tài liệu quan trọng nhất đối với người sử dụng bên ngoài. Do vậy, họ cần một tổ
chức độc lập tiến hành kiểm tra các thông tin trên bảng khai tài chính nhằm đảm bảo
tính trung thực và hợp lý.
Kiểm toán được định nghĩa tại các nước như sau:
+ Tại Anh, trong lời mở đầu “Giải thích các chuẩn mực kiểm toán” nêu:
“Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và sự bày tỏ ý kiến về những bảng khai tài
chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những
công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan”.
Giảng viên : NCS.ThS Phan Thanh Hải
22
Bài giảng môn Kiểm toán căn bản Bộ môn Kiểm toán – Khoa Kế toán
+ Tại Hoa Kỳ:
“Kiểm toán là một quá trình mà qua đó một người độc lập có nghĩa vụ tập hợp và
đánh giá rõ ràng về thông tin có thể lượng hóa có liên quan đến một thực thể kinh tế
riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa các thông tin có
thể lượng hóa với những tiêu chuẩn đã được thiết lập”.
+ Tại Cộng hòa Pháp, trong giáo dục và đào tạo kiểm toán định nghĩa như sau:
“Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ chức
do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là kiểm toán viên tiến hành để khẳng định
rằng những tài khoản đó phản ánh đúng tình hình tài chính thực tế không che dấu sự
gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định”.
Nhìn chung, các định nghĩa trên có khác nhau về mặt từ ngữ diễn đạt nhưng về
cơ bản đều bao hàm 5 yếu tố sau:
1 ) Chức năng kiểm toán: xác minh và bày tỏ ý kiến (hay nghiên cứu và kiểm tra).

một xu hướng tất yếu của thời đại.
Ngày nay, kiểm toán không chỉ dừng lại ở kiểm toán tài chính, “nó” đã lấn sang
các lĩnh vực khác tạo nên sự đa dạng, phong phú trong lĩnh vực kiểm toán như hiệu quả
của hoạt động kinh tế, hiệu năng của quản lý xã hội, hiệu lực của hệ thống pháp lý
trong từng loại hoạt động. Về cơ bản, tuy phạm vi của kiểm toán rộng nhưng thường
bao gồm các lĩnh vực chủ yếu sau:
+ Lĩnh vực về kiểm toán thông tin (Information Audit):
Hướng vào việc đánh giá tính trung thực và hợp pháp của các tài liệu làm cơ sở
pháp lý để giải quyết các mối quan hệ kinh tế và tạo niềm tin cho những người quan
tâm đến tài liệu kế toán. Trong kế toán có hai loại thông tin: thông tin tài chính và
thông tin phi tài chính. Vì vậy, kiểm toán thông tin cũng có hai mảng là kiểm toán
thông tin tài chính và kiểm toán thông tin phi tài chính.
1) Thông tin tài chính: phản ánh các hoạt động tài chính dưới hình thái bằng tiền
do hoạt động tài chính cung cấp.
2) Thông tin phi tài chính: sử dụng thước đo hiện vật thay thế cho thước đo tiền
tệ. Thước đo hiện vật có thể là sản phẩm, kg, tấn, tạ… để kiểm tra về chất lượng sản
phẩm, về nhân viên trong công ty, hay về công nghệ… nhằm đảm bảo tính trung thực
và tính pháp lý của thông tin.
Thực trạng hoạt động tại doanh nghiệp phụ thuộc vào hai yếu tố:
- Một là, chất lượng thông tin.
Nếu thông tin đầu vào tốt thì đầu ra tốt. Điều này có nghĩa là nếu doanh nghiệp
làm ăn có lãi, tiết kiệm chi phí thì doanh nghiệp có một tình hình tài chính tốt đẹp.
- Hai là, hệ thống bên trong xử lý thông tin.
Điều này có nghĩa là doanh nghiệp làm ăn thua lỗ nhưng lại muốn tạo tình hình
tài chính tốt đẹp bằng cách ghi tăng doanh thu hoặc giảm chi phí. Và ngược lại, doanh
nghiệp làm ăn có lãi nhưng laị muốn trốn thuế nên tăng chi phí, giảm doanh thu.
Giảng viên : NCS.ThS Phan Thanh Hải
24
Bài giảng môn Kiểm toán căn bản Bộ môn Kiểm toán – Khoa Kế toán
+ Lĩnh vực về kiểm toán quy tắc

viên sử dụng phương pháp kiểm toán chứng từ đối với những thực trạng đã được phản
Giảng viên : NCS.ThS Phan Thanh Hải
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status