Danh sách các thành viên nhóm 4
*******
1. Lương Khánh Hoà
2. Vũ Thị Thanh Hoàn
3. Hà Nhật Hồng
4. Nguyễn Nguyên Hồng
5. Trần Ánh Hồng
6. Cảnh Thị Lan Hương
7. Lương Thị Hương
8. Nguyễn Lan Hương (thư ký)
9. Nguyễn Thị Phương Hoa (nhóm trưởng)
1
DÀN Ý
I. Biến đổi ý nghĩa của từ ngữ là gì?
II. Nguyên nhân và cơ sở của sự biến đổi ý nghĩa
của từ.
1.Nguyên nhân
2.Cơ sở
III. Những hiện tượng biến đổi ý nghĩa của từ
1.Giữ tên gọi cũ để chỉ những sự vật hiện tượng
hay khái niệm mới hoặc đã thay đổi
2.Hoán dụ
3.Ẩn dụ
4.Mở rộng nghĩa
5.Thu hẹp nghĩa
IV. Các loại nghĩa trong từ nhiều nghĩa
2
I. Biến đổi ý nghĩa của từ là gì?
Trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ của xã hội, thường xuyên xuất hiện những
nhu cầu về từ và cách diễn đạt để biểu thị những sự vật, hiện tượng hay khái niệm
mới, cũng như để tạo ra những hiệu quả giao tiếp mới. Song, nếu chỉ đáp ứng các
thấy một vật khác, ví dụ như ‘che miệng’, ‘che mắt’; 2) Dùng một vật phủ hoặc bịt
nhằm ngăn cản tác động từ bên ngoài đối với một vật khác, ví dụ như ‘che nắng’,
‘che mưa’. Trong cả hai trường hợp này, thành phần ý nghĩa biểu vật có thể chỉ là
một.
- Nhiều nghĩa do sự biến đổi ý nghĩa ngữ dụng. Đó là khi có sự thay đổi về
sắc thái biểu cảm của từ. Thường thì sự thay đổi này đi theo hai hướng: 1) Bổ sung
sắc thái biểu cảm cho một từ vốn có nghĩa trung hoà về mặt biểu cảm, chẳng hạn
như từ ‘tếch’ của tiếng Việt được bổ sung thêm ý phê phán (ví dụ: “Thế là hắn tếch
thẳng”); 2) Thay đổi giá trị biểu cảm của từ (xấu đi hay tốt lên), ví dụ như từ ‘tệ’
trong tiếng Việt vốn có nghĩa tiêu cực (như trong: ‘đối xứ tệ’), nhưng có thể được
dùng với nghĩa tích cực (ví dụ như trong: “Con bé ấy có duyên tệ”).
- Hiện tượng từ nhiều nghĩa là hiện tượng phổ biến trong tất cả các ngôn
ngữ. Trong tiếng Nga chẳng hạn, từ ‘golova’ có thể dùng để chỉ ‘cái đầu’, ‘đầu óc’
(ví dụ: ‘sv’etnaja golova’ = đầu óc sáng suốt), nhưng cũng có thể dùng để chỉ
4
‘người đứng đầu’ (ví dụ: ‘gorodskoj golova’ = thị trưởng) hoặc “hàng đầu” (ví dụ:
‘idti v golove’ = đi hàng đầu), v.v…, hay trong tiếng Anh: từ ‘hand’ có thể chỉ
‘bàn tay’, ‘phía’ (ví dụ: ‘on all hands’ = từ mọi phía), ‘công nhân’ (ví dụ: ‘hands
wanted’ = tuyển mộ công nhân), kim đồng hồ, v.v…
- Cần phải lưu lý một điều là không nên lẫn lộn ý nghĩa của từ với cách dùng
từ. Cách dùng từ là sự lựa chọn và sử dụng từ theo một nghĩa cụ thể nào đó trong
lời nói. Nó mang tính chất cá nhân và nhất thời. Trong khi đó thì ý nghĩa của từ là
cái nội dung chứa đựng trong từ đã được xã hội chấp nhận và có tính bền vững
tương đối. Chẳng hạn, nghĩa của từ ‘cắn’ trong ‘nước cắn da’ thuộc về cách dùng
từ. Tất nhiên, khi dùng một từ, người ta phải dựa vào ý nghĩa của nó và trên cơ sở
ý nghĩa đó mà phát triển thêm. Có những trường hợp, cách dùng từ được xã hội
chấp nhận và sau một thời gian, nó trở thành ý nghĩa chung của từ. Ví dụ: Từ ‘tồn
tại’ trong tiếng Việt nguyên được dùng để biểu thị khái niệm triết học chỉ ‘giới tự
nhiên vật chất, thế giới bên ngoài có một cách khách quan, không phụ thuộc vào ý
kiến, tư duy, cảm giác của chúng ta’. Nhưng sau đó, trong khẩu ngữ, người ta dùng
riêng mình. Thí dụ, một số quý tộc châu Âu gọi cái dạ giày là bà của mẹ nhân
loại, cái chân là người bạn đau khổ, cái gương là cố vấn của sắc đẹp
6
1.5. Hiện tượng thay đổi môi trường sử dụng của các từ cũng làm cho
nghĩa của chúng thay đổi.
Các từ có thể chuyển hóa từ môi trường rộng sang môi trường hẹp, đó là
hiện tượng chuyên môn hóa. Thí dụ : từ operation "hoạt động" trong quân sự có
nghĩa là "cuộc hành quân",trong y tế có nghĩa là " giải phẫu", trong toán học có
nghĩa là "một phép toán". Các từ cũng có thể từ môi trường hẹp sang môi trường
rộng. Chẳng hạn, năm 1880 một địa chủ Ái Nhĩ Lan là Boycott bị những người
láng giềng căm ghét, do đó đã sinh ra từ to boycott "tẩy chay". Các từ vay mượn
nếu chỉ biểu thị những khái niệm chuyên môn thì chúng thường xa lạ với ngôn ngữ
chung. Nhưng các từ vay mượn thực sự xâm nhập vào ngôn ngữ chung khi chúng
đã thay đổi ý nghĩa. Yếu tố tâm lí có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thay đổi môi
trường sử dụng của các từ. Thí dụ: Trong đại chiến thứ nhất, võ khí đập mạnh vào
tâm lí con người khiến người ta gọi đậu là đạn, đàn bà mắn con là súng máy. Ở
Việt Nam, từ dứt điểm vốn là thuật ngữ thể thao, không người lái vốn xuất phát từ
máy bay không người lái trong quân sự, kế hoạch vốn là thuật ngữ kinh tế, được
dùng rộng rãi trong ngôn ngữ toàn dân. Cũng do yếu tố tâm lí, một từ chuyển nghĩa
đã tác động đến hàng loạt từ khác gần nghĩa với nó.
2.Cơ sở của sự biến đổi ý nghĩa của từ.
Bản thân các từ có thể biến đổi ý nghĩa được hay không là do mối quan hệ
giữa âm thanh và ý nghĩa của từ quy định. Nếu như mối quan hệ giữa âm thanh của
từ và ý nghĩa của nó có tính chất hoàn toàn cố định hay thuần túy hay võ đoán thì
đều không thể có hiện tượng chyển nghĩa. Bản thân tính cố định của quan hệ giữa
âm và nghĩa đã nói lên tính chất không thể thay đổi của nó. Còn nếu quan hệ đó là
thuần túy võ đoán thì mặc nhiên nó có thể thay đổi thường xuyên và không ngừng.
Do đó, con người có thể hiểu nhau và ngôn ngữ lập tức mất vai trò là phương tiện
7
giao tiếp. Sự thật, quan hệ giữa âm và nghĩa của từ là có điều kiện chứ không tùy
chính thường được bảo tồn. Thực vậy, trong từ ‘xe’ của tiếng Việt chẳng hạn, ý
nghĩa biểu vật đã thay đổi rất nhiều: nó biểu thị không phải một mà nhiều loại xe
khác nhau. Trong khi đó, nét nghĩa chính trong ý nghĩa biểu niệm của từ này là
‘phương tiện chuyên chở đường bộ, thường có bánh’ vẫn không thay đổi. Do đó,
có thể nói rằng đây là những từ nhiều nghĩa biểu vật.
2. Hoán dụ.
Hoán dụ là phương thức làm biến đổi ý nghĩa của từ bằng cách lấy tên gọi
của sự vật, hiện tượng này để chỉ một sự vật, hiện tượng khác trên cơ sở mối quan
hệ tất yếu giữa các sự vật, hiện tượng ấy.
Quan hệ tất yếu là mối quan hệ hiển nhiên, có thể thấy được một cách trực
tiếp và ai cũng thấy như nhau mà không cần phải có những thao tác tìm hiểu đặc
biệt như đối chiếu hay so sánh chẳng hạn.
Thường thì các ngôn ngữ dựa vào một số loại quan hệ tất yếu để tạo ra
hoán dụ. Số lượng những mối quan hệ đó có thể không giống nhau trong các ngôn
ngữ. Tuy nhiên, xét trên góc độ phổ niệm, có thể nêu lên ba loại quan hệ chủ yếu
sau đây:
- Quan hệ bộ phận và toàn thể, nghĩa là lấy tên gọi của bộ phận để chỉ toàn thể
hoặc ngược lại. Tuy nhiên, nói chung, người ta thường lấy tên gọi của bộ phận để
9
chỉ toàn thể mà ít khi lấy toàn thể để chỉ bộ phận. Chẳng hạn, trong tiếng Việt, ‘má
hồng’ thường được dùng để chỉ ‘cô gái’, hay ‘mày râu’ chỉ ‘đàn ông’,…
- Quan hệ giữa nguyên liệu và thành phẩm, nghĩa là lấy tên gọi của nguyên liệu
để chỉ sản phẩm hay thành phẩm làm từ nguyên liệu đó. Ví dụ: ‘glass’ trong tiếng
Anh có thể là “thuỷ tinh” (nguyên liệu), song cũng có thể là “cái cốc”, “cái kính”,
“ống nhòm” (thành phẩm); ‘thau’ trong tiếng Việt vừa là tên gọi nguyên liệu (đồng
thau) vừa là tên gọi của thành phẩm: cái chậu làm bằng đồng thau (ví dụ: ‘thau rửa
mặt’).
- Quan hệ giữa vật chứa và vật được chứa, tức là lấy vật chứa để chỉ vật được
chứa trong đó. Ví dụ: trong câu “Cả nhà đi nghỉ mát.” thì ‘nhà’ có nghĩa là ‘những
người sống trong nhà’ đó.
chỉ dùng để biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt động hay đặc trưng, tính chất
cụ thể để chỉ một khái niệm trừu tượng. Ví dụ: Các từ ‘chín’ trong “chuối chín” và
“nghĩ chín” của tiếng Việt, là những ẩn dụ loại này.
- Quan hệ giữa người và vật: lấy tên gọi của bộ phận cơ thể, hành vi, tính chất
hay đồ dùng của người để biểu thị các bộ phận, tính chất hay hành động của vật. Ví
dụ: ‘mũi’ trong “mũi dao”, “mũi thuyền”; ‘quất’ trong “mưa quất”, của tiếng
Việt.
- Quan hệ giữa vật và người, tức là lấy tên gọi của vật, hoặc bộ phận, hành vi,
tính chất của vật để chỉ người hay bộ phận, hành vi, tính chất của người. Ví dụ:
11
Trong tiếng Việt, ‘cò mồi’ được dùng để chỉ ‘người làm trung gian để kiếm lời’,
‘cò hương’ được dùng để chỉ ‘người cao hay gầy’, hay; trong tiếng Anh, ‘fish’ là
“cá” nhưng cũng có thể là ‘người bị mồi chài’; trong tiếng Nga, ‘mesok’ là “cái
bao tải” nhưng cũng có thể là ‘người vụng về’.
Qua các ví dụ trên, ta có thể thấy rằng trong phép biến đổi ý nghĩa từ bằng ẩn
dụ, ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm của từ đều bị thay đổi, song giữa các ý
nghĩa khác nhau của từ vẫn có một hoặc một vài nét nghĩa chung (ví dụ: hình dáng,
chức năng, cách thức) – đó là nét nghĩa chi phối của từ.
3.Mở rộng ý nghĩa.
Mở rộng ý nghĩa là một quá trình phát triển từ cái riêng đến cái chung được
gọi là nghĩa mở rộng. Bản thân từ bắt đầu biểu thị khái niệm rộng trong khi đó
không thay đổi nghĩa cơ sở của mình. Thí dụ: Từ muối trong tiếng việt là một danh
từ có nghĩa hẹp, chỉ tinh thể chế ra rừ nước biển để ăn. Hiện nay, nó chỉ hợp chất
do sự tác dung của axit lên bazơ mà thành. Hích là một động từ chỉ hành động cụ
thể"dùng khuỷu tay thúc vào người khác", nó đã mở rộng ra để chỉ việc xúi cho 2
người xung đột nhau.
4.Thu hẹp ý nghĩa
Thu hẹp ý nghĩa là quá trình ngược lại. Phạm vi ý nghĩa của các từ phát
triển từ cái chung đến cái riêng, từ cái trừu tượng đến cái cụ thể. Thí dụ:Từ nước,từ
chỗ chỉ chất lỏng nói chung, rồi chất lỏng có thể uống được và cuối cùng là hợp
đã bổ sung thêm cho nó nhiều nghĩa phụ, chẳng hạn: ‘nhanh nhẹn’, ‘dễ dàng’, ‘nhẹ
dạ’, ‘hời hợt’, v.v…
- Tuy nhiên, việc xác định nghĩa chính và nghĩa mở rộng của từ nhiều khi gặp
nhiều khó khăn, vì rằng trong nhiều trường hợp, ranh giới giữa chúng không thật rõ
rệt. Sau một thời gian sử dụng, nghĩa mở rộng có thể dần dần trở thành một nghĩa
chính khác của từ. Chẳng hạn, những ý nghĩa “trông đẹp ra”, “bán chạy”, “hút” của
từ ‘ăn’ (ví dụ: ‘ăn ảnh’, ‘ăn khách’, ‘ăn thuốc’) là những nghĩa mở rộng được hình
thành trên cơ sở của nghĩa chính là “nhai và nuốt thức ăn”, nhưng hiện nay các
nghĩa đó đã trở thành những nghĩa chính khác của từ ‘ăn’. Nói chung, ta có thể căn
cứ vào mức độ phụ thuộc vào ngữ cảnh để phân biệt hai loại nghĩa trên của từ:
thường thì nghĩa chính là nghĩa mà người sử dụng ngôn ngữ có thể nói ra ngay mà
không cần phải có ngữ cảnh, còn nghĩa mở rộng là những nghĩa cần phải có ngữ
cảnh mới có thể xác định được. Thực vậy, khi nghe thấy từ ‘đứng’ chẳng hạn,
người Việt trước tiên liên tưởng đến cái nghĩa chính của nó là “trạng thái cố định
tương đối (không di chuyển), lưng giữ thẳng, chân duỗi, bàn chân giẫm đất” mà
không cần một ngữ cảnh nào cả. Còn nghĩa ”được xếp hạng” của nó thì cần phải có
ngữ cảnh đi kèm mới có thể nhận thấy được (ví dụ như trong: “đứng nhất lớp”).
Như vậy, mức độ phụ thuộc vào ngữ cảnh của ý nghĩa từ ở đây cần được hiểu là
khả năng nhận biết một ý nghĩa của từ khi từ bị tách ra khỏi ngữ cảnh, chứ không
nên hiểu là sự phụ thuộc của nghĩa từ vào ngữ cảnh nói chung, bởi vì như trên đã
nói, đối với một từ nhiều nghĩa thì việc xác định một nghĩa cụ thể của nó luôn luôn
phụ thuộc vào ngữ cảnh.
- Ngoài việc phân biệt hai loại nghĩa như trên, người ta còn có thể phân biệt
nghĩa đen và nghĩa bóng của từ. Song thực ra, đây chỉ là cách gọi khác của nghĩa
cơ bản và nghĩa mở rộng, chỉ có điều khái niệm nghĩa bóng theo cách hiểu thông
thường có nội hàm hẹp hơn nghĩa mở rộng, và do đó, người ta thường nói tới nghĩa
14
bóng trong những trường hợp nghĩa mở rộng gợi ra sự liên tưởng nước đôi hay
hiệu quả văn học. Đó là những trường hợp sử dụng từ mang tính cá nhân nhiều
hơn.
BIÊN BẢN HỌP NHÓM
Thời gian: 14h00 ngày 10/11/2011
Địa điểm: thư viện trường ĐH Thương Mại
Thành phần tham gia: các thành viên nhóm 4 (9/9)
Nội dung họp nhóm:
Thảo luận về các tài liệu tìm được
Thống nhất dàn ý chung.
Hoàn thành đề tài.
Hà Nội, ngày 05 tháng 11 năm 2011
Thư ký
Nguyễn Lan Hương
17
18