luận văn: LỊCH SỬ BAN TUYÊN GIÁO HUYỆN ỦY SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG (1946 – 2006) pot - Pdf 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

ĐỖ ĐỨC VỴ
LỊCH SỬ BAN TUYÊN GIÁO
HUYỆN ỦY SƠN DƢƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG (1946 – 2006) LUẬN VĂN THẠC SĨ SỬ HỌC LUẬN VĂN THẠC SĨ SỬ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Minh Thái Nguyên – Năm 2007 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3

MỤC LỤC
Trang

MỞ ĐẦU 1
Lý do chọn đề tài
5


CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỔ ĐỘNG GÓP PHẦN GÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN
PHONG TRÀO CÁCH MẠNG VÀ KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1941 - 1945)

17
1.2
TỔ TUYÊN TRUYỀN VẬN ĐỘNG HUYỆN UỶ SƠN DƢƠNG RA ĐỜI
PHỤC VỤ CÔNG CUỘC KHÁNG CHIẾN, KIẾN QUỐC (1945 - 1954)

22

Chƣơng 2: BAN TUYÊN GIÁO HUYỆN UỶ SƠN DƢƠNG TRONG
THỜI KÌ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ CỨU NƢỚC (1954 - 1975)

33
2.1
BAN TUYÊN HUẤN PHỤC VỤ CÔNG CUỘC KHÔI PHỤC KINH TẾ, CẢI
TẠO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (1954-1965)

33
2.2
BAN TUYÊN GIÁO TRONG THỜI KÌ VỪA SẢN XUẤT VỪA CHIẾN
ĐẤU, XÂY DỰNG HẬU PHƢƠNG, CHI VIỆN TIỀN TUYẾN (1966-1975)

42

Chƣơng 3: BAN TUYÊN GIÁO HUYỆN UỶ SƠN DƢƠNG TRONG THỜI
KÌ CÙNG CẢ NƢỚC THỰC HIỆN 2 NHIỆM VỤ CHIẾN LƢỢC XÂY
DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (1975- 1986)

KẾT LUẬN

101

TÀI LIỆU THAM KHẢO
107

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công tác Tuyên giáo là một bộ phận cấu thành của công tác xây dựng
Đảng, chiếm vị trí quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng Cộng sản
Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Nếu cán bộ đảng viên tư
tưởng không nhất trí thì khác nào "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược". Như vậy
thì không thể làm được cách mạng" [41, tr.288].
Trong tiến trình phát triển của lịch sử cách mạng dân tộc, Sơn Dƣơng là
nơi có vị trí chiến lƣợc quan trọng, là vùng đất hội tụ các điều kiện “thiên
thời, địa lợi và nhân hoà”. Đặc biệt, trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân
tộc và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lƣợc những năm giữa thế kỉ
XX, Sơn Dƣơng đã trở thành một trong những trung tâm căn cứ địa cách
mạng, nơi sống và làm việc nhiều năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các
cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nƣớc, Quân đội, Mặt trận…
Thành tựu to lớn mà nhân dân các dân tộc Sơn Dƣơng đã giành đƣợc 60
năm qua (1946 - 2006) trƣớc hết là có đƣờng lối đúng đắn, sự lãnh đạo tài

ấn hành trong thời gian từ năm 1946 đến năm 2006 đã đề cập tới sự phát triển
của công tác Tuyên giáo trên địa bàn Sơn Dƣơng. Trong đó, đáng chú ý là các
công trình: "Lịch sử Đảng bộ huyện Sơn Dương 1941 – 2000”, Huyện uỷ Sơn
Dƣơng xuất bản năm 2005; tập ca khúc “Về với Sơn Dương” do Huyện uỷ
Sơn Dƣơng phối hợp với Hội Nhạc sĩ Việt Nam phát hành năm 2005; cuốn
“Truyền thống ngành Văn hóa - Thông tin – Thể thao huyện Sơn Dương 1945
– 2005” do Trung tâm Văn hóa - Thông tin - Thể thao huyện Sơn Dƣơng xuất
bản 2007; cuốn “Bác Hồ với Sơn Dương - Sơn Dương với Bác Hồ” do Ban
Chấp hành Đảng bộ huyện Sơn Dƣơng xuất bản 2007.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7

Các công trình nêu trên tập trung làm rõ sự phát triển của công tác Tuyên
giáo trong huyện Sơn Dƣơng. Đặc biệt cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Sơn
Dương 1941 – 2000” và các báo cáo tổng kết hằng năm của Đảng bộ, của các
ban xây dựng Đảng, của Uỷ ban nhân dân huyện đã phác hoạ rõ nét về quá
trình phát triển của công tác Tuyên giáo trong 60 năm qua.
Các công trình nêu trên là những nguồn tƣ liệu quý giá giúp chúng tôi
thực hiện thành công đề tài Luận văn này.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu về quá trình ra đời và trƣởng thành của Ban Tuyên
giáo Huyện uỷ Sơn Dƣơng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: huyện Sơn Dƣơng (tỉnh Tuyên Quang), gồm 32 xã và 1 thị trấn.
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu từ năm 1946 đến 2006.
Tuy nhiên, để làm rõ quá trình ra đời và phát triển Ban Tuyên giáo
Huyện uỷ Sơn Dƣơng, Luận văn cũng đề cập đến công tác Tuyên giáo của cả
nƣớc nói chung, tỉnh Tuyên Quang nói riêng và mở rộng thời gian trƣớc khi
Ban Tuyên giáo đƣợc thành lập.

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phƣơng pháp lịch sử kết hợp
với phƣơng pháp lôgíc là chủ yếu. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các
phƣơng pháp thống kê, so sánh, phƣơng pháp định lƣợng toán học, phƣơng
pháp điều tra, điền dã.
5. Đóng góp của Luận văn
- Đây là công trình đầu tiên trình bày có hệ thống, chân thực quá trình ra đời và
phát triển của Ban Tuyên giáo Huyện uỷ Sơn Dƣơng trong 60 năm (1946-2006).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9

- Trên cơ sở đó, Luận văn đánh giá những thành tích của Ban Tuyên giáo
Huyện uỷ Sơn Dƣơng, đồng thời cũng mạnh dạn chỉ ra những hạn chế và một
số kiến nghị giải pháp cần khắc phục.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho Đảng bộ huyện Sơn
Dƣơng trong việc xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên giáo tại địa phƣơng,
là tƣ liệu giảng dạy lịch sử địa phƣơng cho các trƣờng phổ thông ở huyện Sơn
Dƣơng, tỉnh Tuyên Quang; đồng thời góp phần giáo dục truyền thống, nâng
cao lòng tự hào cho các thế hệ cán bộ làm công tác Tuyên giáo của Huyện uỷ
Sơn Dƣơng.
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn đƣợc xây
dựng thành 5 chƣơng:
Chƣơng mở đầu: SƠN DƢƠNG - MẢNH ĐẤT VÀ CON NGƢỜI
Chƣơng 1: TỔ TUYÊN TRUYỀN VÀ CỔ ĐỘNG HUYỆN UỶ SƠN
DƢƠNG TRONG THỜI KÌ ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN VÀ KHÁNG
CHIẾN, KIẾN QUỐC ( 1941 - 1954 )
Chƣơng 2: BAN TUYÊN GIÁO HUYỆN UỶ SƠN DƢƠNG TRONG THỜI
KÌ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ CỨU NƢỚC (1954 - 1975 )
Chƣơng 3: BAN TUYÊN GIÁO HUYỆN UỶ SƠN DƢƠNG TRONG THỜI
KÌ CÙNG CẢ NƢỚC THỰC HIỆN HAI NHIỆM VỤ CHIẾN LƢỢC XÂY DỰNG

Sơn Dƣơng có nhiều sông, suối, ngòi. Lớn nhất là sông Lô chảy qua địa
phận huyện, phân cách với các huyện bạn. Sông Phó Đáy, cùng hàng chục suối
ngòi khác, nhƣ: Suối Lê, Ngòi Thia, Ngòi Khổng, Ngòi Xoan, Ngòi Lẹm tạo
thành một mạng lƣới dày đặc. Hệ thống sông ngòi của Sơn Dƣơng có giá trị
lớn về cung cấp nƣớc, thuỷ sản phục vụ đời sống, sản xuất và thuỷ điện.
Nhiệt độ trung bình hằng năm là 23
0
C, lƣợng mƣa khoảng trên 1.600 mm.
Mùa mƣa, từ tháng 6 đến tháng 10, thƣờng hay bị ảnh lớn của gió bão, lũ quét.
Do diện tích tự nhiên chủ yếu là đồi núi, nên Sơn Dƣơng có hệ động,
thực vật tƣơng đối phong phú, đa dạng. Trƣớc đây, rừng Sơn Dƣơng có nhiều
loại gỗ tốt nhƣ đinh, lim, sến, táu, nghiến, lát các loại tre, nứa, song, mây,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11

cùng các loài dƣợc liệu nhƣ sa nhân, ba kích, thục, sâm và nhiều loại muông
thú: hổ, báo, trăn, lợn rừng Lòng đất Sơn Dƣơng chứa nhiều khoáng sản:
thiếc, đồng, chì, vônphram
Là vùng đất lâu đời thuộc lãnh thổ Việt Nam, từ xa xƣa Sơn Dƣơng đã là
nơi cƣ trú của các bộ lạc ngƣời cổ đại. Nhờ những thành tựu mới của ngành
Khảo cổ học, hiện nay trên vùng đất Sơn Dƣơng đã phát hiện nhiều di vật của cƣ
dân từ thời đồ đá, đồ đồng, đồ sắt minh chứng cho dòng chảy liên tục của lịch sử
trên mảnh đất Sơn Dƣơng. Năm 2003, tại thôn Văn Sòng xã Thiện Kế, nhân dân
đã đào đƣợc chiếc trống đồng Đông Sơn, có niên đại cách đây khoảng 4.000
năm [19, tr.45]. Cũng thời gian đó, nhân dân thôn Bắc Hoàng, thị trấn Sơn
Dƣơng đào đƣợc chiếc trống đồng có niên đại cách ngày nay khoảng 2.000
năm
1
[24, tr.33].
Địa danh và địa giới của vùng đất này trải qua các thời kì đã có nhiều lần

cảm, sự sáng tạo của nhân dân Sơn Dƣơng đã đƣợc hun đúc. Bằng sức lực, trí
tuệ của mình, đồng bào các dân tộc đã biến núi rừng hoang vu thành những đồng
ruộng bậc thang tƣơi tốt, biến đầm lầy gò bãi thành những tràn ruộng, ao hồ để
phát triển trồng trọt và chăn nuôi. Ngoài ra, những nghề thủ công cũng đƣợc phát
triển nhƣ: khai thác chế biến nông lâm sản và dƣợc liệu, dệt vải, thổ cẩm từ sợi
lanh, sợi bông, thêu, nhuộm, chế tạo công cụ lao động, vũ khí, đồ dùng sinh
hoạt từ đồng, sắt, song mây, tre, nứa, đồ trang sức bằng vàng, bạc, đá quý.
Từ tiến trình dựng nƣớc và giữ nƣớc, từ lao động và chiến đấu, với tình
yêu quê hƣơng đất nƣớc, đôi bàn tay cần cù, khéo léo và tâm hồn trong sáng,
nhạy cảm, nhân dân các dân tộc Sơn Dƣơng đã sáng tạo, gìn giữ và làm giàu
lên kho tàng văn hóa của mình. Đó là những làn điệu: sli, lƣợn, páo dung,
sình ca, lễ cấp sắc; hoặc những đƣờng nét hoa văn duyên dáng, tinh xảo trên
những tấm thổ cẩm, trên trang phục, hàng mây tre đan và đồ trang sức. Mặt
khác, sự giao lƣu văn hoá với các miền đã tạo thành đời sống văn hoá tinh
thần hết sức phong phú, đa dạng của nhân dân các dân tộc Sơn Dƣơng.
Do nằm ở vị trí chiến lƣợc quan trọng, từ xa xƣa nhân dân Sơn Dƣơng đã
luôn sát cánh cùng nhân dân cả nƣớc đứng lên chiến đấu chống kẻ thù xâm
lƣợc phƣơng Bắc, bảo vệ chủ quyền độc lập dân tộc. Đồng thời, nhân dân các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13

dân tộc trong huyện cũng luôn thể hiện rõ tinh thần đấu tranh, chống chế độ
phong kiến phản động, hà khắc, bảo thủ lạc hậu, giành lại tự do cho mình.
Trong thế kỉ XI, nhân dân trong huyện đã cùng đội quân của Lý Thƣờng
Kiệt tập kích vào đất Tống, phá vỡ bƣớc đầu kế hoạch xâm lƣợc của quân
giặc, đẩy kẻ thù vào thế bị động và tạo ra nhiều điều kiện có lợi để đánh bại
kẻ thù khi chúng kéo quân sang xâm lƣợc nƣớc ta. Thời nhà Trần, trong cuộc
kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai, nhân dân Sơn Dƣơng đã
cùng đội quân của Chiêu Văn vƣơng Trần Nhật Duật chiến đấu anh dũng, lập
nhiều chiến công vang dội có ý nghĩa chiến lƣợc, góp phần đánh đuổi 50 vạn

hình thức, đã liên tiếp nổi dậy chống các hành động lấn chiếm ruộng đất và
chế độ bóc lột dã man của thực dân Pháp và tay sai.
Nhìn chung, các cuộc đấu tranh nổ ra lẻ tẻ, manh động và bị thất bại.
Song, nó đã thể hiện truyền thống yêu nƣớc, chí khí quật cƣờng của nhân dân
các dân tộc Sơn Dƣơng trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Đồng thời, các
cuộc đấu tranh giai đoạn này cũng báo hiệu một phong trào cách mạng to lớn
sẽ nổ ra khi có đƣờng lối lãnh đạo đúng đắn.
Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Từ đây, một phong trào
cách mạng phát triển mạnh mẽ trong cả nƣớc.
Sẵn có tinh thần yêu nƣớc, yêu quê hƣơng làng bản từ ngàn xƣa để lại,
nhân dân các dân tộc huyện Sơn Dƣơng một lòng một dạ đi theo Đảng, quyết
tâm đánh đuổi quân xâm lƣợc, giành lại độc lập, tự do.
Cũng nhƣ cả nƣớc, thực dân Pháp áp đặt ách thống trị vô cùng tàn bạo
tại Sơn Dƣơng. Chúng thiết lập hệ thống đồn bốt dày đặc nhằm đàn áp phong
trào nổi dậy của quần chúng, bảo vệ các cơ quan thống trị. Chính sách cai trị
hà khắc, khai thác bóc lột dã man của đế quốc, phong kiến làm cho đời sống
nhân dân ngày càng cơ cực. Nhân dân ta phải gánh chịu một chế độ tô, thuế
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15

hết sức dã man, với nhiều loại khác nhau: thuế thân, thuế điền, thuế thổ trạch,
tô liên đới
1

Đời sống vô cùng khổ cực là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những cuộc
đấu tranh của nhân dân Sơn Dƣơng liên tiếp nổ ra. Đặc biệt là cuộc đấu tranh
chống thu thuế, chống thu tô liên đới của hàng trăm nông dân Khe Thuyền,
Văn Phú ngày 7-11-1936, do thầy giáo Nhạ
2
và Lý Tàng chỉ huy giành đƣợc


nói chuyện, đọc sách báo cách mạng, học thuộc lòng trƣớc rồi truyền khẩu trong
một vài ngƣời, đến tuyên truyền theo từng nhóm, tổ
Các tờ báo của Đảng đƣợc chuyển từ miền xuôi lên đã góp phần tuyên truyền, giác
ngộ cách mạng cho nhân dân. Nhờ có sự lƣu hành sách báo của Đảng và sự vận động
tích cực, khéo léo của cán bộ cách mạng, nhân dân bƣớc đầu đƣợc giác ngộ về quyền lợi
giai cấp, quyền lợi dân tộc, thấy rõ tội ác của kẻ thù, nỗi nhục của ngƣời dân mất nƣớc,
đồng thời cũng hiểu đƣợc đƣờng lối và phƣơng thức đấu tranh cách mạng.
Lúc này, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra ngày càng ác liệt.
Trƣớc tình hình đó, Trung ƣơng Đảng Cộng sản Đông Dƣơng đã quyết định
phải xúc tiến công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, tập hợp lực lƣợng chuẩn
bị khởi nghĩa từng phần, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nƣớc.
Xác định rõ trách nhiệm lớn lao, công tác tuyên truyền, vận động của
huyện Sơn Dƣơng tiếp tục động viên hun đúc ngọn lửa yêu nƣớc của đồng
bào toàn huyện quyết tâm đứng lên đi theo Đảng làm cách mạng, giành lấy
độc lập tự do về mình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17

Chƣơng 1
TỔ TUYÊN TRUYỀN VÀ CỔ ĐỘNG HUYỆN UỶ SƠN DƢƠNG
TRONG THỜI KÌ ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN
VÀ KHÁNG CHIẾN, KIẾN QUỐC (1941 - 1954)
1.1. CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỔ ĐỘNG GÓP PHẦN GÂY
DỰNG, PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO CÁCH MẠNG VÀ KHỞI NGHĨA
GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1941 - 1945)

Ngày 22-9-1940, phát xít Nhật nổ súng tấn công quân Pháp tại Lạng
Sơn, chính thức xâm lƣợc Đông Dƣơng. Thực dân Pháp hèn nhát nhanh
chóng đầu hàng nhục nhã [40, tr.345].

chống thuế nổ ra ở nhiều nơi. Các xã: Trúc Khê, Phƣợng Liễn, Lũng Tẩu,
Khuổi Kịch, Ngòi Nho, Khuôn Đào, Ao Búc đã có Ban Việt Minh [13, tr.9].
Tại các cuộc mít tinh của nhân dân, cán bộ cách mạng đã diễn thuyết
vạch rõ tội ác của giặc và phổ biến điều lệ, chính sách của Mặt trận Việt
Minh. Cán bộ cách mạng cũng sử dụng những hình thức tuyên truyền vận
động phù hợp với tâm lí của đồng bào nhƣ dựa vào quan hệ họ hàng, láng
giềng, tuổi tác, phong tục tập quán
Tháng 11-1943, cán bộ Việt Minh hoạt động tại vùng xung quanh núi
Hồng đã họp bàn việc mở rộng cơ sở cách mạng. Sau đó, Phân khu Nguyễn
Huệ đƣợc thành lập. Sơn Dƣơng đƣợc chọn là trung tâm chỉ huy của Phân
khu Nguyễn Huệ, nơi đặt đại bản doanh của cơ quan Khu uỷ và nơi đóng
quân của Trung đội Cứu quốc quân III, làm nòng cốt cho công tác vũ trang,
tuyên truyền cách mạng [21, tr.41].
Dƣới sự chỉ đạo trực tiếp của Khu uỷ Nguyễn Huệ, phong trào cách
mạng đã hình thành và phát triển ở khắp các vùng nông thôn trong huyện Sơn
Dƣơng. Phong trào đấu tranh của quần chúng phát triển thành cao trào, trọng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19

tâm của các hoạt động cách mạng là chuẩn bị lực lƣợng khởi nghĩa để giành
chính quyền về tay nhân dân.
Đáp ứng đòi hỏi của phong trào cách mạng đang lên rất cao, tháng 10-1944,
Xứ ủy Bắc kì quyết định tổ chức vƣợt ngục cho 12 đảng viên cộng sản
1
đang bị
địch giam giữ tại nhà tù Chợ Chu (Định Hóa, Thái Nguyên). Cuộc vƣợt ngục
thành công, các ông: Song Hào, Trần Thế Môn, Lê Hiến Mai, Tạ Xuân Thu, Chu
Quý Lƣơng và Trần Tùng đƣợc phân công về Phân khu Nguyễn Huệ, trực tiếp
hoạt động cách mạng tại Sơn Dƣơng [60, tr.66].
Đây là điều kiện vô cùng thuận lợi về mọi mặt cho phong trào cách mạng

quân cách mạng tiến về giải phóng đồn Đăng Châu, huyện lị Sơn Dƣơng và
các xã lân cận. Ngay sau khi Đăng Châu đƣợc giải phóng, Phân khu uỷ
Nguyễn Huệ tổ chức mít tinh tại Đình Thanh La, tuyên bố thành lập châu Tự
Do và Uỷ ban cách mạng lâm thời Châu. Đây là huyện đầu tiên trong cả nƣớc
đã giành đƣợc chính quyền cách mạng về tay nhân dân [59, tr.19].
Sau khi khởi nghĩa Thanh La thắng lợi, đồn Đăng Châu bị tiêu diệt, châu
Tự Do đƣợc thành lập, phong trào cách mạng phát triển cực kì nhanh chóng. Từ
châu Tự Do, các đoàn quân khởi nghĩa đƣợc lệnh toả đi giải phóng các nơi, nhƣ:
Đại Từ, Định Hóa, Yên Sơn, Chiêm Hóa, Nà Hang, Phù Ninh, Đoan Hùng…
Đầu tháng 5-1945, dƣới sự chỉ huy của Lê Dục Tôn, Hoàng Bắc Dũng, Kim
Ngọc, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn vùng trung và hạ huyện Sơn
Dƣơng, chính quyền cách mạng các xã nhanh chóng đƣợc thành lập. Ngày 15-5-
1945, quân cách mạng tổ chức cuộc mít tinh lớn tại thôn Đồng Khuôn, xã Phú
Lƣơng; Lê Dục Tôn thay mặt Khu uỷ Phân khu Nguyễn Huệ đã tuyên bố
thành lập châu Kháng Địch, bao gồm trung, hạ huyện Sơn Dƣơng và một
phần Đoan Hùng, Phù Ninh (Phú Thọ), Lập Thạch (Vĩnh Phúc)
2
[17, tr.41].
Đến đây, công cuộc vận động cách mạng giải phóng đầy hi sinh, gian
khổ đã hoàn toàn thắng lợi trên phạm vi toàn huyện. 1
Lúc này, Song Hào giữ chức vụ Bí thƣ Khu uỷ Phân khu Nguyễn Huệ. Trụ sở cơ
quan Khu uỷ Nguyễn Huệ đóng tại thôn Ao Búc, xã Trung Yên, huyện Sơn Dƣơng.

2
Ban châu Kháng Địch do Trần Tiến Thanh làm Chủ tịch.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21


lập dân tộc của đồng bào cả nƣớc và bầu ra Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt
Nam tức Chính phủ lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch [72, tr.56].
Từ Tân Trào - Sơn Dƣơng, lệnh Tổng khởi nghĩa đƣợc truyền đi, cả
nƣớc nhất loạt đứng lên giành chính quyền. Ngày 19-8-1945, chính quyền ở
thủ đô Hà Nội đã về tay nhân dân. Ngày 22-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh
rời Tân Trào về Hà Nội. Ngày 2-9-1945, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nƣớc Việt Nam dân
chủ cộng hòa, mở ra một kỉ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

1.2. TỔ TUYÊN TRUYỀN VÀ CỔ ĐỘNG HUYỆN UỶ SƠN DƢƠNG RA
ĐỜI PHỤC VỤ CÔNG CUỘC KHÁNG CHIẾN, KIẾN QUỐC (1945 - 1954)

Vừa mới ra đời, nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa đã phải đứng trƣớc
những thử thách hết sức gay go, phức tạp, phải đối đầu với giặc ngoài thù
trong. Tình thế cách mạng nhƣ ngàn cân treo sợi tóc.
Trƣớc tình hình vô cùng cấp bách, ngày 25-11-1945, Trung ƣơng Đảng
ra Chỉ thị “Kháng chiến, kiến quốc”, vạch rõ nhiệm vụ trƣớc mắt, chủ yếu là
phải củng cố chính quyền cách mạng, chống kẻ thù xâm lƣợc, bài trừ nội
phản, cải thiện đời sống nhân dân.
Là vùng căn cứ địa cách mạng, thực tế ở Sơn Dƣơng lúc này không bị
quân Tƣởng chiếm đóng, các ổ nhóm phản động cơ bản đã bị trấn áp từ những
ngày đầu chính quyền cách mạng mới thành lập, nhƣng về kinh tế - xã hội rất
khó khăn.
Cán bộ, đảng viên từ huyện đến cơ sở bám sát quần chúng tích cực tuyên
truyền, vận động, hƣớng dẫn nhân dân bình tĩnh, quyết tâm đấu tranh vƣợt
qua mọi khó khăn, thử thách.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23


Mặt khác, công tác tuyên truyền vận động thời kì này còn động viên cổ
vũ nhân dân tích cực tham gia công tác xây dựng chính quyền ở cơ sở. Thông
qua việc giải thích, tuyên truyền nâng cao nhận thức của nhân dân về chính
quyền cách mạng, từ đó lựa chọn bầu những đại biểu xứng đáng vào chính
quyền các cấp. Vận động nhân dân hăng hái tham gia cuộc Tổng tuyển cử đầu
tiên của đất nƣớc, nhiều cán bộ, đảng viên của huyện đã đến tận các làng bản
vận động, tổ chức nhân dân đi bỏ phiếu.
Ngày 1-5-1946, Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của huyện Sơn Dƣơng
chính thức đƣợc thành lập, gồm 5 đảng viên do Chu Quý Lƣơng làm Bí thƣ.
Sau đó, ngày 19-5-1946, Chi bộ Đảng đã họp tại căn lán nhỏ bên bờ sông Phó
Đáy, thuộc Làng Sảo, xã Hợp Thành, quyết định thành lập Tổ Tuyền truyền
và cổ động huyện. Ma Văn Chuyền
1
, Phó Bí thƣ Chi bộ Đảng huyện Sơn
Dƣơng, phụ trách công tác Đảng vụ đƣợc Chi bộ phân công kiêm nhiệm Tổ
trƣởng Tổ truyên truyền và cổ động. Đồng thời, Chi bộ phân công hai tổ viên
là Nguyễn Ngọc Huy, phụ trách tuyên truyền cổ động và Ma Xuân Hoè theo
dõi huấn luyện học tập [34].
Sự ra đời của Tổ Tuyên truyền và cổ động - tổ chức tiền thân của Ban
Tuyên giáo Huyện ủy ngày nay - có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng, nó
đánh dấu bƣớc phát triển vƣợt bậc về công tác tƣ tƣởng chính trị của huyện. Từ
đây, huyện Sơn Dƣơng đã có một cơ quan chuyên trách làm công tác tham mƣu
và tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên các lĩnh vực tuyên truyền và huấn học.
Năm 1946, do số lƣợng đảng viên toàn huyện còn ít (mới có 5 đảng
viên) nên công tác tuyên truyền và cổ động còn gặp nhiều khó khăn. Song,
với quan điểm toàn Chi bộ Đảng làm công tác tuyên truyền, vận động, mọi
cán bộ, đảng viên đều phải làm công tác vận động truyên truyền, nên nhìn 1

Lúc này, Sơn Dƣơng là một trong những trung tâm căn cứ địa của cách
mạng Việt Nam. Đây là một trách nhiệm nặng nề, nhƣng cũng vô cùng vinh
dự của Đảng bộ và nhân dân Sơn Dƣơng trong việc bảo vệ Hồ Chủ tịch, các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status