Hình thức tổ chức khối đại đoàn kết dân tộc - Pdf 12

Lớp TCMN k33B
Trương Thị Đài Trang
Trần Thị Dung
Nguyễn Thị Nguyệt
Đoàn Thị Minh Nguyệt
Nguyễn Thị Lệ
Vũ Thị Loan
Tống Thị Hằng
Dương Thị Anh
Bài Làm
Câu 1:
Hình thức tổ chức khối đại đoàn kết dân tộc
a. Hình thức tổ chức của khối đại đoàn kết dân tộc là Mặt trận dân tộc thống nhất
Đại đoàn hết dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một chiến lược cách mạng và trở
thành khẩu hiệu của toàn Đảng, toàn dân tộc. Nó biến thành sức mạnh vật chất, trở thành
lực lượng vật chất có tổ chức. Tổ chức đó chính là Mặt trận dân tộc thống nhất.
Mặt trận dân tộc thống nhất là nơi quy tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước. Tùy theo
từng thời kỳ, căn cứ vào yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng, cương lĩnh và điều lệ của Mặt
trận dân tộc thống nhất có những nét khác nhau và tên gọi của Mặt trận dân tộc thống
nhất cũng khác nhau:
+ Hội phản đế đồng minh (1930),
+ Mặt trận Dân chủ (1936),
+ Mặt trận nhân dân phản đế (1939),
+ Mặt trận Việt Minh (1941),
+ Mặt trận Liên Việt (1946),
+ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955 đến 1976),
+ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (1960).
Song chỉ là sự phấn đấu vì mục tiêu là độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và hạnh phúc
của nhân dân.
b. Một số nguyên tắc cơ bản về xây dụng và hoạt động của Mặt trận dân tộc thống nhất
- Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng trên nền tảng liên minh công - nông -

quốc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Ảnh 3: Đoàn kết là sức mạnh
Dưới ngọn cờ tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc của MTDTGPMNVN, nhiều phong
trào yêu nước đã nổ ra liên tiếp trên khắp các tỉnh thành miền Nam cách đây 50 năm
Ảnh 4:
Dinh độc lập ngày 30-4-1975
Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc toàn thắng vào trưa ngày 30-4-1975 là kết quả của cả
chặng đường dài chiến đấu đầy gian khổ, ác liệt, hy sinh của quân và dân ta, biểu thị của
sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ
Chí Minh vĩ đại. Cuộc chiến đấu bền bỉ và anh dũng của toàn Đảng, toàn quân và toàn
dân ta trên cả hai miền Nam Bắc là biểu hiện sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách
mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh; biểu thị ý chí, nghị lực, sức mạnh quật
cường của cả dân tộc đồng lòng vì nghĩa lớn: “Không có gì quý hơn độc lập tự do!” Đại
thắng mùa xuân năm 1975 là sức mạnh dân tộc kết hợp chặt chẽ với thời đại, thể hiện trí
thông minh và sự sáng tạo của nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam trong cuộc chiến
tranh bảo vệ Tổ quốc.
Ảnh 5:
Quảng trường Ba Đình, ngày 2-9-1945
68 năm Cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 2-9: Sức mạnh của khối Đại đoàn kết
toàn dân tộc
*) Những câu chuyện của Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết dân tộc:
Chuyện thứ 1: BÁC ĐỒNG CAM CỘNG KHỔ VỚI NHÂN DÂN
Mùa hè nắng chang chang, trời oi ả, Bác vẫn đi bách bộ ra tận đình Hội đồng (Hội đồng
Chính phủ hay họp ở ngôi đình cổ này) cách ba, bốn trăm mét. Lúc đi bách bộ Bác
thường nhận xét các cây bên đường, rễ cây đa này cho bắt xuống đâu, cành cây hoa giấy
nọ nên cho ngả về phía nào. Mồ hôi ra ướt áo, Bác bảo: Mình đi chơi mà còn đẫm mồ hôi
như thế thì các chiến sĩ pháo binh ngoài trận địa, các công nhân mỏ than trong lò còn mệt
biết bao, phải lo nước giải khát cho các chú ấy.
Trời nóng bức quá tôi đi bên cạnh quạt cho Bác. Lúc đầu vì chưa chuẩn bị nên mang quạt
lông chim, Bác phê bình nhẹ nhàng: Chú làm như ở trong triều. Tôi vội cất đi. Khi Bác đi

chuẩn bị một chương trình ca nhạc đặc sắc. Nhà hát đã có 114 nhạc công với đầy đủ các
bộ: hơi, gõ, dây còn Hợp xướng thì có chưa đầy trăm ca sỹ diễn viên chuyên nghiệp.
Dàn Đại hợp xướng cần 1.200 diễn viên. Thành đoàn đã huy động lực lượng tham gia là
những đoàn viên, thanh niên trong các trường đại học, học sinh lớp 10 của các trường
phổ thông và đoàn viên trong các cơ quan Nhà nước. Đại hợp xướng chia thành nhiều bè,
mỗi bè từ 200 diễn viên trở lên, đó là các bè basse (giọng nam trầm), bè baryon (giọng
nam trung), bè tenor (giọng nam cao), bè alto (giọng nữ trầm), bè soprano (giọng nữ cao
hay còn là giọng kim). Tối đến, các sân trường rộn rã tiếng tập hát. Tôi được phân vào bè
basse do nhạc sỹ Phan Thanh Nam hướng dẫn.
Các bài hát được chính thức trình diễn trong đêm nhạc hội gồm: Chào mừng đảng Lao
động Việt Nam của nhạc sỹ Đỗ Minh; bài Ca ngợi Hồ Chủ Tịch của nhạc sỹ Lưu Hữu
Phước, lời của Lưu Hữu Phước và Nguyễn Đình Thi; bài Cờ Tháng Tám của nhạc sỹ
Phan Thanh Nam Kết thúc là bài ca Kết đoàn – ca khúc nổi tiếng thời bấy giờ mà mọi
người dân Việt Nam đều thuộc.
Người chỉ huy Đại hợp xướng là nhạc sỹ Nguyễn Hữu Hiếu, Trưởng đoàn Đoàn ca nhạc
Đài Tiếng nói Việt Nam. Sân khấu được bố trí tại vườn Bách Thảo, nhìn ra mặt hồ nhỏ,
có mấy con thiên nga trắng muốt (của Liên Xô tặng) đang bơi lội. Phía tay phải là núi
Nùng, thường gọi là Nùng Sơn, biểu tượng non sông của Thăng Long – Đông Đô - Hà
Nội: Núi Nùng, Sông Nhĩ. Phía sau là đường Hoàng Hoa Thám, chạy từ Phủ Thủ tướng
lên trên Bưởi- nơi có sân vận động Quần Ngựa – đã long trọng đón tiếp Bác và T.Ư Đảng
về Thủ đô ngày 1.1.1955.
Những đêm trước, chúng tôi được tập dượt nhiều lần, nhất là vào giai đoạn ráp hai phần
ca và nhạc lại với nhau. Người vất vả nhất là Nguyễn Hữu Hiếu. Làm thế nào để 1.314
con tim sẽ cùng hòa một nhịp và các bài ca sẽ được hát đúng tông, đúng nhịp? Tôi còn
nhớ nhạc trưởng Nguyễn Hữu Hiếu có lần cho tạm ngưng tập bài hát giữa chừng và đã
chỉ đúng vào vị trí một giọng hát sai.
Đêm 3.9.1960.
Trời Hà Nội vào thu, hàng ngàn người dân Hà Nội tề tựu đông vui trong vườn Bách
Thảo. Các sân khấu nhỏ ngoài trời rộn rã tiếng đàn, tiếng hát. Các sàn đấu thể thao cũng
náo nức lạ thường.

cách mạng cả nước để cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân ta chuẩn bị khởi nghĩa
giành chính quyền.
Ở Tân Trào, các đồng chí địa phương đã làm cho Bác một căn lán khá xinh xắn, náu kín
trong khu rừng nứa ở sườn đồi. Lán chia làm hai gian nhỏ, một bên là nơi Bác nằm nghỉ,
một bên vừa là chỗ làm việc, vừa là chỗ để tiếp khách.
Đồng chí Võ Nguyên Giáp lúc ấy được sống và làm việc gần Bác. Lần nào đến đồng chí
cũng thấy Bác cặm cụi với công việc. Mọi giấy tờ, chỉ thị, Bác đều tự tay đánh máy và
đánh số cẩn thận, rõ ràng.
Cao trào kháng Nhật, cứu nước lúc bấy giờ đã cuồn cuộn từ Bắc chí Nam. Ngay ở Hà
Nội, thợ thuyền, học sinh, các giới trí thức, người buôn bán đều tham gia rất đông vào
công cuộc kháng Nhật. Toàn thể nhân dân đang hướng về Việt Minh, trông chờ một cuộc
chuyển biến lớn. Khí thế khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng hừng hực khắp nơi.
Trung ương đã quyết định tích cực chuẩn bị cho cuộc họp toàn quốc của Đảng và quốc
dân đại hội đại biểu ở Tân Trào.
Nắm vững thời cơ cách mạng, Bác đã giục chuẩn bị hai cuộc họp trên từ tháng 7-1945 vì
Bác bảo tình hình đã khẩn trương lắm. Bác còn dặn: "Có thể còn thiếu một số đại biểu
nào đó chưa về kịp cũng họp, nếu không thì không kịp với tình hình chung".
Giữa lúc công việc cách mạng bề bộn như vậy, Bác bỗng bị mệt, mấy hôm liền bị sốt,
song Bác vẫn gượng làm việc. Lúc nào bị sốt cao, không ăn được, Bác mới chịu đi nằm.
Có hôm sốt cao quá Bác bị mê sảng. Lúc nào tỉnh, Bác lại bàn công việc, nói về tình
hình, dặn cán bộ phải khẩn trương chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Bác bảo: "Lúc này thời cơ
thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải
kiên quyết giành cho được độc lập".
Ý chí và quyết tâm của Bác đã trở thành ý chí và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân ta,
trở thành nguồn sức mạnh to lớn có ý nghĩa quyết định đưa đến thắng lợi của Cách mạng
Tháng Tám năm 1945 lịch sử.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status