Bài tiểu luận: Nghiên cứu sự ưa thích nước tăng lực có gaz Sting dâu và Number 1 dâu trong giới trẻ ở TP.HCM potx - Pdf 12

1
Bài tiểu luận
Nghiên cứu sự ưa thích nước tăng lực có gaz
Sting dâu và Number 1 dâu
trong giới trẻ ở TP.HCM

2 I. Lí do chọn đề tài
Nếu bạn là doanh nghiệp thứ n bước vào thị trường, làm sao sản phẩm
của bạn có thể cạnh tranh được với các sản phẩm có tiếng trên thị trường
lúc bấy giờ? Tạo chủng loại mới là một trong những chiến thuật hữu hiệu
và rất nhiều tên tuổi lớn hiện nay đã đi lên từ chiến thuật này.
Thị trường nước giải khát ở nước ta hiện nay vô cùng đa dạng và phong
phú với nhiều chủng loại sản phẩm, đặc biệt là những sản phẩm nước giải
khát không cồn. Do nước ta có khí hậu nóng nên nhu cầu tiêu thụ nước
giải khát của người dân rất lớn. các nhà sản xuất không ngừng tạo ra một
loại sản phẩm mới góp phần làm phong phú thêm cho thị trường nước


III. Nhiệm vụ nghiên cứu
 Phân tích thực trạng sử dụng hai sản phẩm này của giới trẻ ở địa
bàn thành phố Hồ Chí Minh
 Phân tích điểm mạnh , điểm yếu của từng loại sản phẩm thông qua
khảo sát.
 Trả lời câu hỏi: hai sản phẩm này đã thực sự đáp ứng được nhu cầu
của phân khúc thị trường giới trẻ chưa?
 Đưa ra giải pháp và kiến nghị để nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh cho hai sản phẩm này.
IV.Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Nước tăng lực có mặt trên thị trường việt nam khá trễ so với các loại
nước giải khát khác như Coca Cola, Xá xị Chương Dương, Pepsi… nên
hiện nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu khoa học hay luận văn về dòng
sản phẩm này. Trong số ít đó có một đề tài luận văn đã nghiên cứu để đưa
ra giải pháp Number 1 hiện nay.

Theo khảo sát của Công ty Nghiên cứu Thị trường Nielsen, đến giữa năm
2011, Sting dẫn đầu thị trường nước uống tăng lực tại Việt Nam với 52%
thị phần. Number 1 về nhì với 23% thị phần. Các thương hiệu khác chia
nhau 25% thị trường còn lại gồm Samurai, Red Tiger, Rhino, Lipovitan.

Tại sao Number 1 lại để mất thị phần vào tay Sting? Trong nhiều nguyên
nhân như Marketing bị giảm sút, thay vào đó là quảng bá cho các sản
phẩm mới (Dr Thanh, Trà xanh), hệ thống phân phối chưa rộng rãi …còn
có một nguyên nhân khác đó là do chính chất lượng của của Number 1 bị
giảm sút.
4


Để thực hiện bài nghiên cứu thì nhóm nghiên cứu đã áp dụng lí thuyết
marketing căn bản trong đó chú trọng đến những lí thuyết về chiến lược
marketing hỗn hợp và lí thuyết phân phối.
5

 Phương pháp thu thập số liệu
 Thu thập số liệu sơ cấp qua hình thức phỏng vấn trực tiếp và
phiếu khảo sát.
 Thu thập số liệu thứ cấp qua các nguồn thông tin được cung
cấp trên Internet
 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu
 Phương pháp suy luận logic
 Phương pháp phân tích – tổng hợp – so sánh
 Phương pháp toán thống kê
Trong quá trình xử lí và phân tích đó thì nhóm nghiên cứu
đã sử dụng các phần mề hỗ trợ như SPSS và Eview
VI.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu
Ngừoi tiêu dùng sản phẩm Number 1 dâu và Sting dâu, ở đây là
giới trẻ với độ tuổi khoảng từ 16 đến 27 tuổi
 Phạm vi nghiên cứu:
 Không gian: địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
 Thời gian: số liệu được nhóm nghiên cứu thu thập từ
18/4/2012 đến 20/4/2012
VII. Kết cấu đề tài
Để giải quyết những mục tiêu nghiên cứu cũng như những câu hỏi nghiên
cứu đặt ra chúng tôi xây dựng kết cấu đề tài gồm những nộ dung và nhiệm
vụ sau:
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

trong chiến lược phát triển của mình “Tân Hiệp Phát” đã quá chú trọng vào dòng
sản phẩm Dr.Thanh và Trà Xanh 0 độ, họ đã bỏ rơi “Number 1 dâu”, khiến nó dần
mất hút trên thị trường nước giải khát Việt Nam. Ngoài ra, chúng ta còn nhận thấy
một điều, những sản phẩm thuần Việt của doanh nghiệp Việt Nam rất ít được
quảng cáo, tiếp thị đến khách hàng; các công ty đa quốc gia thì lại rất chú trọng
đến mảng hoạt động này, họ quảng cáo sản phẩm ở mọi lúc mọi nơi. “Sting dâu”,
nó được quảng cáo trên tivi, internet, các bảng poster và hệ thống phân phối rộng
7

khắp; “Number 1 dâu” thì thế nào? Rất ít, nó núp sau cái bóng quảng cáo của
Number 1, “Tân Hiệp Phát” đã sử dụng Number 1 cho nhiều dòng sản phẩm, sản
phẩm nào cũng có logo và chữ Number 1, rõ ràng điều đó làm loãng thương hiệu
này trên thị trường nước tăng lực.
Trong phiếu khảo sát, nhóm chúng tôi đã đưa ra các yếu tố cấu thành một sản
phẩm để so sánh 2 dòng sản phẩm “Sting dâu” và “Number 1 dâu”. Chẳng hạn, về
màu sắc, hương vị, độ gas, hay sự tiện dụng khi dùng sản phẩm,… cả 2 dòng sản
phẩm này đều có những nét đặc trưng tương đối giống nhau ở trên, tuy nhiên là
người tiêu dùng chính họ là người sử dụng, họ cảm nhận những khác biệt bên trong
sản phẩm: hương vị như thế nào? Độ gas như thế là quá cao, quá thấp hay trung
bình? Còn màu sắc trong có bắt mắt hay không? Kiểu dáng, mẫu mã và sự tiện
dụng của bao bì? thì nó được quan sát, nhìn nhận khách quan từ bên ngoài của
người tiêu dùng. Chính những khác biệt bên trong và bên ngoài đó tạo nên sự ưa
thích lựa chọn sản phẩm của người tiêu dùng.
CHƯƠNG 2. ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG VỀ HAI SẢN PHẨM :
STING DÂU VÀ NUMBER ONE DÂU
Qua điều tra 89 bạn trẻ ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh về mức độ ưa thích đối
với hai loại nước giải khát Sting dâu và Number One dâu thì nhóm nghiên cứu đã
xử lí số liệu và đưa ra một số kết quả sau:
1. Miêu tả mẫu nghiên cứu:
 Đối tượng là các bạn trẻ trong khoảng 16 đến 27 tuổi , đa dạng về


Sản phẩm Sting được nhiều người trẻ dùng đến hơn là Number One
dâu là điều có thể thấy rõ qua hai biểu đồ trên. Khi điều tra thì có một
số người được phỏng vấn thậm chí còn không biết có loại nước
Number One dâu. Qua 89 bảng khảo sát thì có 8 bảng là ghi nhận
chưa từng sử dụng Number One chiếm 8.998%.

Đặt vấn đề:
Cùng là một loại nước giải khát hương vị dâu nhưng giới trẻ lại có xu
hướng tiêu dùng Sting dâu hơn là Number One dâu.
Câu hỏi đặt ra là tại sao lại có hiện tượng này? Nguyên nhân nào làm
cho Sting dâu thắng thế hơn Number One dâu?
Để trả lời câu hỏi trên thì nhóm nghiên cứu đã đưa ra các yếu tố có thể
tác động đến hành vi tiêu dùng của giới trẻ và tiến hành khảo sát.
Những yếu tố nhóm khảo sát đưa ra gồm:
1) Mức độ thường xuyên sử dụng hai loại sản phẩm này
2) Các yếu tố chất lượng như:
 Hương vị
 Màu sắc
 Kiểu dáng chai
 Độ tiện dụng của chai
 Độ gaz
10

 Các chương trình quảng bá, quảng cáo đại chúng
3) Yếu tố giá cả
4) Yếu tố thương hiệu


11

Giải thích hàm hồi quy:

Trong hàm hồi quy có thể thấy có những yếu tố tác động thuận
chiều và tác động ngược chiều đến sự ưa thích Sting dâu
hơn Number One dâu. Dấu (+) nghĩa là khi tăng các yếu tố
đó lên sẽ làm cho Sting càng được ưa thích hơn, dấu (-)
nghĩa là khi tăng các yếu tố đó lên sẽ làm giảm đi sự ưa
thích Sting dâu. Làm rõ như sau:
- -MS.STING: Nếu tăng thêm màu sắc ví dụ làm màu đậm
hơn sẽ tạo tác dụng nghịch vì nếu màu đậm quá sẽ tạo tâm lí
nghi ngờ về phẩm màu không an toàn trong sản phẩm.
- -TD.STING: độ tiện dụng của chai là ổn rồi, có thể thay
đổi kiểu chai để tạo sự tiện dụng hơn nhưng không cần thiết vì
người tiêu dùng đã quen với kiểu chai như vậy, độ tiện dụng
như vậy nên thay đổi có thể đem lại tác dụng nghịch.
- (-0.069TX.No1– 0.189HV.No1 + 0.23GAZ.No1 +
0.035MS.No1 + 0.091QB.No1– 0.037KD.No1- 0.012TD.No1)
: các yếu tố này là của Number One dâu, khi chất lượng của nó
được cải thiện phù hợp hơn với giới trẻ thì sẽ gây tác động làm
cho sự ưa thích Sting bị giảm đi do người tiêu dùng tìm được
nơi Number One dâu một chất lượng tốt hơn. Trong hàm trên
nghĩa là khi mức độ thường xuyên uống Number 1 dâu tăng lên,
hương vị được cải thiện hơn, kiểu dáng chai phù hợp hơn và độ
tiện dụng của chai được nâng cao thì Number 1 dâu sẽ được
người tiêu dùng chọn lựa và dĩ nhiên mức độ ưa thích sử dụng
Sting dâu sẽ giảm xuống.
- – 0.317GIA : khi chênh lệch giá giữa hai sản phẩm càng

Kiểu dáng chai 331 222
Độ tiện dụng của chai 339 224
Độ gaz 309 209
Chương trình quảng bá
sản phẩm
307 214
13  Sting dâu:
Điểm yếu của Sting dâu hiện nay đó chính là các chương trình quảng bá cho
sản phẩm chưa thật sự gây ấn tượng sâu sắc trong tâm trí người tiêu dùng
đặc biệt là giới trẻ.
Nhưng một đặc điểm mà Sting dâu đã chinh phục được khách hàng mạnh
mẽ nhất đó là màu sắc của nước giải khát. Màu hồng tươi mang đầy chất
năng động của giới trẻ đã tạo nên đặc điểm nhận diện Sting dâu.
 Number one dâu:
Qua điểm chấm chất lượng đã thống kê thì các yếu tố trong sản phẩm
Number One đều kém hơn Sting. Và nhược điểm lớn nhất của Number One
dâu là độ gaz còn ít, chưa thỏa mãn được khẩu vị của giới trẻ. Trong quá
trình khảo sát và phỏng vấn một số bạn trẻ thì họ cho biết Number One quá
ít gaz nên gây cảm giác ngán khi uống và không thật sự giải khát.
Màu sắc của sản phẩm Number One cũng được đánh giá rất cao nhưng vẫn
không thể sánh bằng Number One dâu.
Một nhược điểm nan giải của Tân Hiệp Phát là tập đoàn này sử dụng
Number 1 cho quá nhiều sản phẩm. Hầu như sản phẩm nào của họ cũng có
logo và chữ Number 1, từ nước tăng lực cho tới sữa đậu nành, nước cam ép,
nước tinh khiết. Điều đó đã làm loãng thương hiệu number 1 dâu trên thị
14


chất lượng cho hai sản phẩm.
1. Sting dâu
Điểm yếu của Sting dâu hiện nay là chất lượng của các chương trình
quảng cáo vẫn chưa tác động mạnh đến hành vi tiêu dùng. Dù đang thắng
15

thế hiện nay nhưng không có nghĩa là Sting có thể duy trì được vị thế đó
sau này vì vậy cần khẳng định hơn nữa thương hiệu sting trong tâm trí
người tiêu dùng đặc biệt là giới trẻ. Vì vậy cần đẩy mạnh hơn nữa hoạt
động truyền thông qua các kênh thông tin đại chúng, các show game, các
chương trình khuyến mãi…
2. Number One dâu
- So sánh với Sting dâu thì Number One dâu yếu thế về nhiều mặt
nhưng điều cần quan tâm nhất ở đây là độ gaz của Number One
dâu. Giới trẻ cần một cái gì đó mạnh mẽ chứ không phải là một cái
gì đó dịu nhẹ. Nhưng độ gaz như thế nào là phù hợp khẩu vị thì
cần phải có quá trình để Tân Hiệp Phát khảo sát khẩu vị để điều
chỉnh nguyên liệu trong sản phẩm cho phù hợp.
- Thứ hai là các chương trình quảng cáo cho sản phẩm. Tương tự
như Sting dâu, các chương trình quảng cáo tiếp cận nguời tiêu
dùng của Number One vẫn chưa thật sự hiệu quả và chưa gây được
ấn tượng sâu sắc cho giới trẻ. Để cạnh tranh được thì ngoài chất
lượng sản phẩm thì truyền thông chính là vũ khí lợi hại cho việc
định vị thương hiệu trong tâm trí người tiêu dùng. Vì vậy cần tận
dụng truyền thông để đưa các thông điệp mới mẻ tới khách hàng
mục tiêu nhằm tác động đến tâm lí tiêu dùng.
- Thứ ba là hương vị. Hương vị cần có một sự khác biệt để người
tiêu dùng có thể phân biệt sản phẩm của hãng này và hãng khác.
Có vẻ như hương vị của Number One dâu mang tính chất đại trà
chứ chưa tạo được khác biệt. Vì vậy cần có sự đột phá trong việc

phẩm lỗi rồi tìm ra biện pháp khắc phục tốt nhất nhằm nâng cao chất lượng
cho sản phẩm nước tăng lực Number One của Nhà máy sản xuất Bia và NGK
Bến Thành”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status