Phân tích hành vi ngôn ngữ- VBA KHỞI ĐỘNG MỘT CHƯƠNG TRÌNH VB pot - Pdf 12

Phân tích hành vi ngôn ngữ- VBA
KHỞI ĐỘNG MỘT CHƯƠNG TRÌNH VB
Xin cảm ơn một phụ huynh đã dịch và cho phép phổ biến.
1. Khái niệm: ABA là khoa học phân tích hành vi ứng dụng. Nó cung cấp một cấu
trúc để nhìn vào hành vi con người, cái gì gây nên hành vi và làm cách nào tăng
hoặc giảm hành vi. Nó cung cấp cấu trúc cơ bản để dạy kỹ năng mới (hành vi ta
muốn tăng). Thông tin cơ bản bạn cần để biết liên quan đến trình tự dạy bao gồm:
hình thành, gợi ý, làm mờ, xâu chuỗi và củng cố khác nhau.
a) thành hình: là quá trình mà qua đó ta dần dần sửa hành hiện tại của trẻ trở thành
hành vi ta muốn. Thực hiện bằng cách điều chỉnh yêu cầu của thày trước khi củng
cố được đưa ra. Ví dụ: khi trẻ phải học một từ, trước hết chỉ yêu cầu trẻ sờ vật
trước khi được cầm nó, sau đó yêu cầu trẻ phát âm những âm đầu tiên, cuối cùng là
từ.
b) Gợi ý: là sự hỗ trợ của thày để khuyến khích một đáp ứng đúng. Một trong
những khác biệt quan trọng giữa các chương trình ABA truyền thống với mô hình
VB là việc sử dụng “học không lỗi” trong VB so với “sai-sai-gợi ý” trong ABA
truyền thống.
c) Làm mờ: đây là một phần cơ bản trong dạy trẻ không phụ thộc vào gợi ý. Mỗi
gợi ý phải dần dần rút đi khi trẻ trở nên thành công cho đến khi đáp lại đúng mà
không cần gợi ý. Ví dụ trên, nếu ta muốn dạy trẻ chạm tay vào bóng, thày xuất phát
bằng việc đưa tay trẻ tới quả bóng, sau đó đưa ra hướng dẫn ít lộ diện hơn như
nhếch lông mày, chỉ vào quả bóng… cho đến khi trẻ có thể tự chạm tay được vào
quả bóng khi được yêu cầu.
d) Xâu chuỗi: Các kỹ năng đã được bẻ ra thành những đơn vị nhỏ nhất để dạy và
cần xâu chuỗi lại với nhau. Xâu chuỗi xuôi và ngược là hai kỹ thuật được dùng để
dạy kỹ năng mới. Ví dụ xâu chuỗi xuôi: dạy trẻ nói 1 câu “con yêu mẹ”, thì dạy
mỗi từ một lần :hãy nói “con”, nói “yêu’, nói “con yêu mẹ”. Xâu chuỗi ngược: nói
“mẹ”, nói “yêu mẹ”, nói “con yêu mẹ”.
e) Củng cố khác nhau: CC có lẽ là phần quan trọng nhất của việc dạy. Nó là sự đưa
ra một đáp ứng lại hành vi của trẻ sao cho sẽ có nhiều khả năng làm tăng hành vi .
“Khác nhau” có nghĩa thày thay đổi các mức độ CC tùy theo đáp ứng của trẻ. Việc

chừng 1 giây để xem liệu trẻ có lặp lại từ ô tô không, nếu không cất ô tô đi. Nếu trẻ
không đưa ra lời đáp theo lệnh, thì thày có thể phải cố tạo ra một lời đáp thay thế
cái sau này sẽ chuyển thành một nhu cầu: thày “hãy chơi ô tô đi”, và lặp lại “chơi
đi” và xem trẻ có đáp không. Một kỹ thuật hữu ích nữa là để vật trẻ muốn trong
khoảng cách, trẻ phải cần trợ giúp mới lấy được.
- Những điều cần lưu ý khi bắt đầu yêu cầu trẻ đáp ứng:
+ Đừng bao giờ yêu cầu trẻ lời đáp mà thày không thể gợi ý. VD: Đừng yêu
cầu “nói ô tô” trong khi đang cầm ô tô nếu trẻ không bắt chước được, vì ta không
thể làm trẻ nói ra từ. Không nên để trẻ thực hành việc không tuân theo lời thày.
+ Nếu thày đưa lệnh “ngồi xuống”, thày phải hướng dẫn trẻ ngồi xuống nếu
trẻ không làm. Một lần nữa, không dạy trẻ không vâng lời thày.
+ Hãy chắc chắn rằng chỉ thị đầu tiên của thày phải là cái trẻ có thể làm được
và CC lớn khi trẻ tuân theo. Yêu cầu đâu tiên nên là bắt chước không lời, VD “lại
đây”, “ngồi xuống”, đọ đồ vật, xếp ô chữ
+ Đừng bao giờ dùng CC như một hối lộ. Đó là khi trêu trẻ bằng cách cầm
một vật CC lên cho trẻ nhìn rõ và yêu cầu lời đáp trước khi cho trẻ đến gần vật CC.
Điều đó không có nghĩa là thày không thể sử dụng CC như là một lời hứa, ví dụ:
muốn trẻ lại gần, thày cầm 1 cái gì đó trẻ thích trong tay và cho trẻ khi trẻ đến gần.
2
+ Với những trẻ biết nói nhưng chưa hoan toàn theo lệnh kiểm soát, tranh và
ký hiệu vấn là một cách tốt để dạy trẻ yêu cầu cái trẻ muốn vì thày có thể gợi ý trẻ
đưa ra ký hiệu hoặc đưa tranh nhưng không thể gợi ý về mặt thể chất để trẻ nói
- Xử lý những hành vi tiêu cực: Trẻ không bao giờ đạt được vật CC với hành vi tiêu
cực. Điều này thường khó vào giai đoạn đầu của quan hệ trị liệu vì thỉnh thoảng trẻ
đã tình cờ được củng cố rồi. Rất phổ biến là trẻ khóc và hét khi muốn một thứ gì
đó. Vì trẻ không thể giao tiếp theo cách hiệu quả hơn, nên cha mẹ lo doán và đưa
tất cả những thứ trẻ muốn. Như vậy sẽ CC trẻ khóc và hét. Việc lờ đi cơn thịnh nộ
của trẻ có thể tạm thời làm tăng hành vi (bùng nổ trước khi triệt tiêu), nhưng điều
quan trọng là tất cả những việc làm liên quan đến trẻ đều không được nhượng bộ sự
thịnh nộ. Hãy cố kong để ý tới trẻ nếu trẻ đang hét vì muốn một cái gì đó. Hãy

3
nhiên. Sự không dự đoán trước và tính mới lạ sẽ rất tăng cường giá trị CC. Sự
bất ngờ thường gây thích thú và tăng động cơ cho trẻ. Một túi chộp hoặc hộp bất
ngờ rất hữu ích.
2. Lúc đầu, CC nên xảy ra ngay tức thì. Thày cần chắc chắn là trẻ liên hệ hành vi
của nó với vật CC. CC sẽ hiệu lực nhất khi nó xảy ra trong vòng nửa giây sau hành
vi. Lịch trình các CC khác nhau nên được đề ra và theo sát. CC phải được mờ
đi qua thời gian khi trẻ học kỹ năng. Bài tập dễ phải được CC bằng lịch trình gần
như rất mỏng. Hãy tính thời gian dành cho việc CC. Đừng làm mất đà học tập để
tiến hành việc CC. Hãy làm việc theo hướng xây dựng 1 tập hợp các phản ứng của
trẻ trước khi trẻ được một phần thưởng có thật.
Qua thời gian hãy thay đổi CC sao cho tự nhiên và thực tế hơn như những lời
khen, giơ ngón tay cái. Không sử dụng phần thưởng như món hối lộ. Đừng để
trẻ có thói quen nghe trước vật CC mà nó sẽ được. Đừng nhắc trẻ về vật CC trẻ sẽ
được nhận nếu hành vi phá phách không xảy ra. Đừng đưa ra CC bổ sung khi hành
vi leo thang nhằm làm trẻ dịu đi. Sử dụng những mức CC khác nhau. Khen
thưởng lớn nhất cho hành vi tốt nhất hoặc việc khó nhất, và dành “OK” cho những
việc ổn thỏa hoặc sự xuống thang của hành vi.
- Yếu tố thiết lập hành động (EO): là yếu tố tạm thời làm tăng hiệu lực hoặc giá trị
của CC, hoặc làm tăng hành vi đã được tiến hành nhờ CC đó trong quá khứ. Eo bị
tác động bởi: sự bị tước đoạt (khi trẻ không có vật mong muốn trong một thời gian
thì giá trị vật CC sẽ lên), sự thỏa mãn (khi trẻ đã có quá nhiều kẹo thì trẻ không còn
muốn), sự so sánh (giá trị của một số hành vi khác mạnh hơn sẽ làm giảm giá trị
hành vi mục tiêu, ví dụ: trẻ thực sự muốn chơi đồ chơi đó nhưng thày hỏi quá nhiều
câu hỏi làm cho giá trị của việc trốn thoát mạnh hơn là giá trị của đồ chơi).
- Kích thích: là bất cứ điều gì trẻ có thể trải qua nhờ 5 giác quan. Một kích thích là
trung tính khi không gây đau cũng không gây dễ chịu cũng không gợi nhớ đến một
sự kiện gì khác (ví dụ: thày nói “sờ con chó” và đây là lần đầu tiên trẻ nghe thấy
cụm từ này, như vậy kích thích này không liên quan tới bất cứ việc gì tích cực hay
tiêu cực). Kích thích phân biệt là kích thích đã trở nên có quan hệ với sự kiện khác

chừng 30 vật được dạy, nêu ngược lại để trẻ định nghĩa vật, ví dụ: “màu
vàng, ăn được, dài”, trẻ “chuối”.
Nhìn chung, các cuộc đối thoại luôn là sự kết hợp của yêu cầu, xử trí, nội
ngôn với thỉnh thoảng là những đáp ứng tiếp nhận.
DẠY TRẺ CHƠI
Mọi đứa trẻ đều muốn một số thứ và có những thứ mà người lớn có thể làm
để tăng cả chủng loại và số lượng đồ yêu thích của trẻ. Một yêu cầu cho thày là
phải “dạy” trẻ biết thưởng thức nhiều thứ sao cho ta có thể tăng cơ hội dạy trẻ
và thêm hoạt động cho trẻ tham gia một cách vui vẻ.
Điều quan trọng nhất cần nhớ là mỗi khi giới thiệu một đồ chơi, trò chơi mới
hãy đi kèm theo một CC. Nghĩa là hãy làm gì đó trẻ có thể không thích nhiều
lắm kèm với một thứ khác mà thày biết là trẻ thích. Bất cứ một CC nào cũng có
thể đi kèm với một thứ khác được. VD: nếu trẻ thích được ôm chặt, hãy đi kèm
việc này với việc đọc sách. Nếu trẻ thích nhìn vật quay, chọn đồ chơi có phần
quay. Nếu trẻ thích nhạc, hát hoặc cường điệu lời nói khi chơi với trẻ (thày hát
cùng một loạt từ mà thày định nói với trẻ). Sau khi trẻ đã khoái trò mới, thày
dạy trẻ hỏi về các bộ phận của trò chơi.
Những trò chơi đồ chơi ban đầu giới thiệu cho trẻ có thể được xem là những
trò mà trẻ có thể chơi một mình. Nhưng không được để trẻ chơi theo cách như
vậy mà phải kết hợp với việc nói chuyện và tương tác với thày. Sau đó là những
trò “nhân quả” trong trò chơi giả vờ.
5
‘’’’’
Một sai lầm lớn trong khi chơi với trẻ là việc người lớn ngồi xuống và hỏi rất
nhiều câu hỏi. Đó không phải là chơi mà là kiểm tra, trẻ có thể thấy nản. Thày
hãy tránh đưa ra yêu cầu với trẻ và đơn giản là chỉ cùng thưởng thức với trẻ.
VD: trẻ thich nhạc và bạn sử dụng giọng nói có giai điệu. Khi dạy trẻ chơi bóng
rổ, bạn nói du dương “ném bóng vào rổ, ném bóng vào rổ, rơi rồi”. Trò được lặp
đi lặp lại và nếu trẻ thích thì thày có thể đừng lại một chút “ném vào rổ, rơi…”,
trẻ sẽ tự điền vào “rơi rồi”. Tránh chỉ thuật lại những gì thày thấy trẻ làm mà

“thày tìm thấy một quả thông, giẫm!” sau đó nói với trẻ “đến lượt con, giẫm”.
6
4. Dừng trẻ chơi bằng những cản trở vui vẻ. VD: Trẻ chạy hình tròn sau đó
lao vào cái đêm, thày hãy đặt vài cái gối trên nền và lao vào gối thay vì đệm,
hãy nhớ là thầy phải đến lượt lao vào gối giống trẻ.
5. Kèm thêm từ hoặc âm thanh với việc trẻ đang làm. VD: trẻ đang tự vẽ, bạn
hãy nói “vẽ này, vẽ này, lên này, lên này, khoanh tròn này ” bất cứ cái gì mô tả
việc trẻ đang làm. Trẻ sẽ sử dụng những âm thanh này trong lần vẽ sau.
6. Sử dụng diễn đạt cường điệu trên khuôn mặt hoặc động tác cơ thể để làm
bạn trở nên nổi bật.
7. Hãy tạo ra ý nghĩa. Nếu trẻ nói một âm thanh vu vơ, hãy hành động như là
âm thanh đó có nghĩa. VD: trẻ lẩm bẩm nói gì đó như là “mặt trời”, thày ngay
lập tức cầm lấy bút và vẽ ông mặt trời như thể trẻ yêu cầu vậy.
8. Giới thiệu thêm nhân vật vào trò chơi. VD: Trẻ thích bạn nẩy người trẻ
trên bóng, bạn mang thêm vào một số con rối và nẩy con rối, nếu trẻ bắt đầu ủn
những con rối ra, thì bạn hãy nói “ra đi rối” khi trẻ ủn.
Giai đoạn sau: Bắt đầu đưa thêm yêu cầu vào trò chơi. Khi trẻ hỏi chơi, bạn
có thể tăng số thứ trẻ phải hỏi trước khi có được đồ chơi đó. VD: trẻ liên tục đòi
chơi bóng, hãy đặt bóng trong một cái thùng nhìn thấy, dạy trẻ hỏi thày “mở
thùng”. Sau đó dạy trẻ yêu cầu thày “nảy bóng”, “lăn bóng”, hoặc dành cho trẻ lựa
chọn từ nhiều quả bóng khác màu. Lưu ý là không tăng yêu cầu quá nhanh làm trẻ
không muốn tham gia trò chơi nữa. Cũng đừng “giết CC” bằng cách chơi một trò
quá nhiều lần trong ngày làm trẻ chán ngấy. Thỉnh thoảng phải dừng trò mà trẻ
đang thích cao độ nhưng phải thay bằng một trò mà trẻ vẫn còn thích. Bằng cách
liên tục khai thác đồ mới và trò chơi mới mà trẻ thích, dần dần tăng yêu cầu và thay
đổi động tác của bạn một cách thường xuyên, bạn có thể giữ giá trị của trò chơi và
đồ chơi luôn cao.
Với trẻ chỉ thích một số rất ít trò chơi và không chịu đón nhận trò mới. Nếu
vậy, có thể trẻ chỉ xem thày chơi với trò mới trong khi trẻ đang ăn những thứ trẻ
thích (đi kèm CC). Thày sẽ biết khi nào trẻ sẵn sàng chơi trò mới hoặc tương tác

khi đưa ra yêu cầu mới và liên tục cố gắng tìm và tạo ra những tình tiết mới mà trẻ
thích, chúng ta sẽ đảm bảo rằng trẻ học theo một cách mà trẻ có thể khái quát hóa
kỹ năng giao tiếp với người, vật, điểm khác.
DẠY TRẺ YÊU CẦU
1. Khi trẻ nói chỉ bắt chước được từng từ rất rõ ràng nhưng không bắt chước được
khi thầy yêu cầu trẻ làm:
+ Phép chuyển từ điền chỗ trống sang câu hỏi (fill-in to mand): Nếu trẻ chịu điền
vào chỗ trống thì có lẽ đây là điều kiện xuất phát mà thầy đạt được đáp ứng mong
đợi từ trẻ. Hãy xuất phát từ điều kiện này để chuyển sang điều kiện mới. VD: thày:
“thổi bong bóng, thổi …” trẻ: “bong bóng” thày “Con muốn gì”, trẻ sẽ có xu hưóng
nói lại từ “bong bóng” . Như vậy thầy đã vừa chuyển từ điều kiện điền chỗ trống
sang điều kiện mới là yêu cầu. Nếu trẻ không đáp thì tự thầy trả lời và lại tiếp tục.
+ Tăng khả năng xuất hiện của sự nhắc lại: khi trẻ đang tiên đến một vật , hãy nói
tên vật ấy theo kiểu lên giọng khi hỏi. ví dụ: trẻ tiến gần quả bóng đặt trên bàn,
thày “bóng?”. Nếu trẻ không đáp, đặt bóng lại bàn. Nếu trẻ lại tiến lại bóng, lại hỏi
“bóng?”. Làm thế không quá 3 lần trước khi đưa bóng cho trẻ để không làm trẻ tức.
Dùng cách nói lên giọng chỉ từ chỉ tên vật để trẻ khỏi lặp lại cả câu hỏi dài dòng
“con muốn bóng à?”
+Hãy đặt sự lặp âm của trẻ trong sự kiểm soát của lệnh của thầy: Mục tiêu là làm
cho trẻ bắt chước khi có lệnh yêu cầu của thầy “hãy làm thế này”. VD: thầy đang
chơi rót gạo xuống một cái bát với trẻ. Khi trẻ bắt đầu rót, thầy nói “làm thế này”
8
ngay tức thì trước khi thầy rót. sau đó khi trẻ rót gạo của nó, củng cố thật nhiệt tình.
Cách này có thẻ làm với rất nhiều hành động khác nhau sao cho chúng ta không
dạy trẻ một cách không có chủ ý. “Hãy làm thế này” nghĩa là “rót gạo”. Vỗ tay,
dậm chân, đập bàn là những thứ rất dễ để dạy trẻ bắt chước vì thầy có thể dễ dàng
gợi ý bằng động tác của thày. Khi trẻ có thể bắt chước kha khá các vận động, hãy
chuyển bắt chước vận động sang bắt trước âm thanh: thầy “hãy làm thế này” (thày
vỗ tay), trẻ vỗ tay theo; thầy “hãy làm thế này” (thày vỗ bàn), trẻ vỗ bàn theo; thầy
“hãy làm thế này – bóng”, trẻ nói “bóng”, thày “ nói bóng”; trẻ “bóng”. Như vậy

“con muốn gì”, trẻ “bánh”, thày đưa cho một mẩu nhỏ, rồi giấu bánh ra sau bàn,
“con muốn gì”, trẻ “bánh”, cho trẻ miếng bánh to hơn. Hãy cho trẻ trông thấy lúc
bạn dần dần chuyển vật vào vị trí thường cất nó, không còn trong tầm nhìn của trẻ
khi tiếp tục làm thêm các phép thử.
9
6. Dạy trẻ nói “con muốn …” khi yêu cầu vật: Tốt nhất là hãy dạy trẻ yêu cầu với
từ đơn trước, đúng tên vật mà trẻ muốn và cũng dễ chuyển sang nhiều dạng điều
kiện chức năng ngôn ngữ khác. Đó là lời yêu cầu mạnh nhất (là những thứ trẻ
thường xuyên yêu cầu, không cần gợi ý). Đợi đến khi trẻ biết yêu cầu vật và hành
động trước khi thêm cụm từ dài hơn, lúc đó có thể gợi ý: trẻ “bánh”, thày “nói, cho
con cái bánh”, trẻ “cho con cái bánh”, thày “thày cho con cái gì” , trẻ “cho con cái
bánh”, thày đưa một mẩu bánh cho trẻ, “nói: con muốn một cái bánh”, trẻ “con
muốn một cái bánh” , thày đưa mẩu bánh cho trẻ, “con muốn gì: “con muốn một
cái bánh”, thày lại đưa bánh. Hoặc: trẻ “bóng”, thày “nói: hãy chơi bóng đi”, trẻ
“hãy chơi bóng đi”, thày “con muốn chơi cái gì”, trẻ “hãy chơi bóng đi”.
7. Nếu trẻ chỉ yêu cầu được đồ vật mà không biết yêu cầu hành động: hành động có
thể dạy trong bối cảnh có hoạt động mang tính củng cố. VD: trẻ “đu quay”, thày đặt
trẻ lên đu quay bắt đầu đu trẻ “đẩy này, đẩy này, đẩy”, trẻ “đẩy”, thày “thày phải
làm gì ”, trẻ “đẩy”. Hoặc: trẻ “đu quay”, thày đặt trẻ lên đu quay và bắt đầu vừa
đẩy vừa nói “ nói đẩy”, trẻ “đẩy”, thày “thày phải làm gì”, trẻ “đẩy”.
8. Nếu trẻ chỉ có một số thứ giới hạn nó thích nên không biết yêu cầu thường
xuyên: hãy liên tục khai thác đồ hay hành động mới mà trẻ có thể quan tâm dựa
trên cách trẻ đáp ứng với những kích thích âm thanh, hình ảnh, mùi vị, nếm. Có thể
tăng số lượng thứ trẻ yêu cầu bằng cách dần dần thêm vào những yêu cầu mới mà
trẻ phải thực hiện để có thứ nó muốn. VD: trẻ muốn đi tắm, giá trị của việc cởi bỏ
quần áo có thể khá mạnh lúc bấy giờ. Chỉ đừng có thêm vào những yêu cầu mới
một cách quá nhanh hoặc quá nhiều cùng một lúc, hoặc khi trẻ đã không còn EO
cho hoạt động đó. VD: khi trẻ thực sự thích thổi bong bóng, giá trị của việc mở
hộp, lấy đũa thần ra và thổi trở nên mạnh.
* Tóm lại: tìm một điều kiện xuất phát là kiểu giao tiếp mà trẻ có thể đáp ứng như

túy là hoàn toàn trong sự kiểm soát của một EO, nghĩa là không ai nói điều gì cho
trẻ trứoc. Dạy trẻ “yêu cầu thuần túy” cũng quan trọng nhưng quan trọng không
kém là dạy trẻ đáp lại trong các điều kiện khác như khi người khác hỏi trẻ là trẻ
muốn gì, trẻ muốn cái nào, khi đồ vật hiện ra trước mắt và khi không nhìn thấy.
Hãy làm cho trẻ phân biệt được giữa các tình huống điều kiện khác nhau đó
trước khi dạy trẻ.
3. Dạy tên thực sự của vật trứoc khi dạy mầu sắc hay tính từ. VD trẻ thích màu, hãy
dạy trẻ “bút màu” “giấy màu” trước khi dạy trẻ yêu cầu lấy mầu sắc, vì nếu không
từ chỉ mầu sắc có thể “thay thế” mất tên đồ vật khi trẻ được hỏi. Những từ “thêm”,
“làm ơn” cũng được coi như các tính từ và nên được để dạy sau khi dạy tên thực sự
của vật. Khi dạy thêm những cụm từ, phải chắc chắn là dạy trẻ một loại cách nói
trong cùng một bối cảnh hành vi hoặc điều kiện. Dạy trẻ cả cách trẻ nói với bạn và
cách nói với người lớn. . Hỏi lịch sự ơn được áp dụng cho người lớn.
4. Phải chắc chắn là trẻ không bao giờ có được bất cứ thứ gì cho hành vi tiêu cực.
Trong giai đoạn đầu dạy, có thể sẽ có sự leo thang (bùng nổ để triệt tiêu) các hành
vi tiêu cực mà trẻ dùng trong quá khứ để có vật trẻ muốn. Điều quan trọng là không
đáp lại những hành vi tiêu cực, bởi vì nếu các hành vi này tiếp tục có tác dụng thì
trẻ sẽ không cần phải học nói nữa.
5. Hãnh tránh những tình huống “khoảng cách”. Tức là không nên có tình trạng
“con phải nói trước khi con có vật”. Hãy sử dụng các cách gợi ý trẻ (tín hiệu, ảnh,
điền chỗ trống) để cho trẻ tiếp cận gần đến vật CC. Trẻ chỉ cần nghe lời thày nói
về tên đồ vật cùng lúc cái tên đó gắn với CC thì đã làm tăng được khả năng là
lần sau cái từ đó sẽ được trẻ dùng đến.
6. Khi dạy trẻ nói tên danh từ, động từ, giới từ, tính từ và trạng từ, sẽ dễ hơn nếu
bắt đầu với câu yêu cầu sau đó chuyển sang gọi tên. VD: dạy trẻ nói tên “tối”, nên
bắt đầu với việc tìm một bối cảnh mà trẻ sẽ thấy “tối” là điều mong muốn như chơi
với đèn pin, dạy trẻ yêu cầu “tối” sau đó chuyển lời đáp đó sang gọi tên “tối”.
7. Dọn dẹp lỗi phát âm một cách nhẹ nhàng: khi trẻ lần đầu học một từ, thầy hãy
chấp nhận những lần phát âm xấp xỉ tốt. Sau khi trẻ đã biết yêu cầu vật mà không
11

động mà trẻ không thực sự quan tâm, thì quan trọng nhất là trẻ có thể gọi tên theo
yêu cầu. Lúc đầu nên là những tên dễ chuyển sang từ câu yêu cầu. Tốt nhất là đợi
đến khi trẻ biết yêu cầu rất nhiều thứ và tự phát gọi tên vật trong môi trường trước
khi đưa ra những vật mục tiêu mà trẻ không có hứng (không có EO). Đó là bởi vì
hành vi gọi tên một cách tự phát cho thấy nói chuyện cần được gắn rất chặt với CC,
người nói chuyện rất cần sự chú ý của người nghe như là sự CC.
Trong giai đoạn đầu, ta dạy trẻ gọi tên vật khi nghe một loạt các câu hỏi khác
nhau như “đây là cái gì”, “đó là cái gì”, “con gọi cái này là gì”, khi thày chỉ vào đồ
12
vật mà không cần hỏi. Cuối cùng ta dạy trẻ biết gọi tên vật nhằm dành được sự chú
ý của ta với vật. Cần dạy trẻ biết đáp lại theo một cách linh hoạt và không chỉ khi
nghe thấy câu hỏi “kia là cái gì”. Muốn vậy phải thực hiện các phép chuyển. Một
khi trẻ biết trả lời câu hỏi “kia là cái gì” rồi thì đi theo ngay là 1 dạng câu hỏi khác.
VD: thày “cái gì kia”, trẻ “con bò”, thày “cái kia gọi là gì”, trẻ “bò”.
Gọi tên thực chất là một phép đọ, trẻ phải đọ vật với tên.
Có 4 cách cơ bản để dạy trẻ gọi tên:
1. Khi trẻ biết yêu cầu rất tốt nhiều thứ (kỹ năng này đã khá mạnh, không cần gợi
ý), nhưng không biết đáp lại câu hỏi “cái gì kia: chuyển từ yêu cầu sang xử trí:
phép chuyển này thực chất là phép lừa vì thực sự ta yêu cầu trẻ gọi tên vật trước,
trẻ yêu cầu vật vì để trả lời cho một câu hỏi mới, tuy nhân thầy sẽ dần dần thêm các
phép thử khác nhau giữa yêu cầu gọi tên ban đầu với yêu cầu trẻ học cách gọi tên
vật khi được hỏi. thoạt đầu trẻ có xu hướng sẽ đáp lại bằng cách nói tên vật khi nó
trông thấy vật do trước đó trẻ đã được CC bởi việc có vật. Nhưng hãy nhớ chỉ dùng
các bài tập mà trẻ đã thành thục giữa các phép thử gọi tên và yêu cầu, ta chỉ dạy trẻ
một kỹ năng mới tại một thời điểm mà thôi! Kỹ năng này chỉ nên bắt đầu luyện khi
trẻ đã rất mạnh kỹ năng yêu cầu, để có thể phân biệt đâu là khi trẻ được yêu cầu bắt
chước hay gọi tên. VD: thầy giơ 1 vật có tính CC được trẻ yêu chuộng và hỏi “cái
gỉ đây”, trẻ “bóng”, thày “con muốn gì”, trẻ “bóng”, (thày đưa trẻ bóng, cho trẻ
chơi bóng một chút), thày “đưa thày bóng”, trẻ đưa thầy bóng (có nghĩa trẻ đã được
dạy để biết chấm dứt CC)., thày “cái gì đây”, trẻ “bóng”, thày đánh bóng bằng cái

thày “cái gì đây”, trẻ “ô tô”.
4. Trẻ biết điền chỗ trống giỏi nhưng không đáp câu hỏi “cái gì đây”: chuyển từ
điền chỗ trống sang gọi tên: dạng điền chỗ trống không có vẻ là một lời yêu cầu
nên sẽ tránh được việc ta dùng quá nhiều câu hỏi với trẻ, vì vậy rất nên dùng trong
giai đoạn đầu dạy. VD: thày “ta rửa tay trong …”, trẻ “chậu”, thày “cái này là gì”,
trẻ “chậu”.
* Trình tự chuyển: Mục đích dạy trẻ là trẻ luôn luôn thành công. Một cách là cung
cấp lời gợi ý toàn bộ rồi dần làm mờ gợi ý. Cách nữa là dùng phép chuyển. Căn cứ
vào một điều kiện trẻ đã thành công làm điểm xuất phát, chuyển sang điều kiện
mới. Trẻ luôn có xu hướng lặp lại chính hành vi hay lời nói mà trẻ đã vừa làm. Dần
dần tăng khoảng cách giữa hai đáp ứng cho đến khi trẻ có thể đáp lại điều kiện mới
một cách độc lập. VD:
1. Trẻ biết bắt chước vận động, chuyển sang đáp ứng với lệnh mới “làm”: thày vỗ
tay “hãy làm thế này”, trẻ vỗ tay, thày vỗ tay và nói “vỗ tay”, trẻ vỗ tay, thày không
vỗ tay nữa và chỉ nói “vỗ tay”, trẻ vỗ tay. Như vậy đáp ứng vỗ tay cuối cùng được
đặt dưới sự kiểm soát của lệnh “vỗ tay” bằng lời.
2. Trẻ biết yêu cầu ô tô, ta dạy trẻ nói tên “ô tô”: thày giơ ô tô lên “con muốn cái
gì” , trẻ “ô tô”, thày “cái gì đây”, trẻ “ô tô”. Hoặc: lấy cả hai ô tô và sách trẻ đều có
ham muốn mạnh… (nt). Hoặc chuyển từ ngôn ngữ tiếp nhận sang gọi tên, ngôn
ngữ vọng sang gọi tên. …
Làm mờ gợi ý: Bước tiếp theo là làm mờ gợi ý để trẻ không phụ thuộc gợi ý và lời
đáp của trẻ thực sự dưới sự kiểm soát của lệnh mục tiêu mà thày đưa ra. Làm mờ
bằng cách hỏi lại câu hỏi mà không đưa ra gợi ý để đợi có câu trả lời không cần gợi
ý của trẻ. VD: thày “cái gì đây? cá”, trẻ “cá”, thày “cái gì đây”, trẻ “cá”. Không
phải lúc nào cũng có thể có ngay được lời đáp không gợi ý của trẻ và quan trọng là
tránh làm trẻ bực bởi quá nhiều phép thử liên tục.
Nếu ta vẫn không thể có được lời đáp độc lập không cần gợi ý của trẻ sau 3
lần thử , hãy chấp nhận lời đáp có gợi ý và chuyển tiếp. TRẻ khác nhau ở cách đáp
ứng với dác dạng gợi ý gặoc thủ tục chuyển khác nhau, dó đó quan trọng là quyết
định xem như thế nào là tốt nhất cho từng trẻ. Dần dần tách câu đáp có gợi ý và

dụng việc xâu chuỗi ngược hoặc xuôi để dạy từng cử động, sử dụng mọi loại gợi ý
cần thiết để đảm bảo là trẻ có thể làm được từng cử động theo một trật tự. Một khi
trẻ học được cách thực hiện từng cử động, hãy cho trẻ những cơ hội lựa chọn để
thực hành các cử động theo một trật tự đúng đồng thời làm mờ gợi ý .
Các nguyên tắc tương tự á dụng cho dạy trẻ tiến hành một loạt cử động bằng
miệng. Từng từ phát ra khác nhau ở số lượng và độ phức tạp của các cử động cần
thiết. Ta không dạy trẻ bơi bằng cách làm mẫu một cú sải tay đầy đủ (gồm một
cánh tay đưa lên trước, cánh tay kia phía sau và đầu ngụp lặn…) rồi yêu cầu trẻ bắt
chước, và nếu trẻ làm sai trinh tự thì chúng ta lại làm mẫu lại rồi lại yêu cầu trẻ bắt
chước lại. Vì sao không? vì như vậy trẻ sẽ không bao giờ học được. có lúc trẻ sẽ
đưa ra trình tự cử động sai, có lúc không có trật tự, có lúc lại thêm vào một cử động
không có, có lúc làm mất cử động đáng ra phải có. Cách ta dạy trẻ nói một từ đầu
đủ cũng như vậy.
VẤN ĐỀ HÀNH VI
15
1. Trẻ có hành vi không phù hợp để đòi thứ nó muốn, thứ này ta cũng cho trẻ được
nhưng cần xử lý hành vi tiêu cực: biện pháp đếm. Biện pháp đếm nhằm để trẻ biết
là CC hiện không sẵn sàng (S-Delta). Thày “không khóc” và bắt đầu đếm ngay khi
trẻ “tạm dừng” để lấy hơi thở và dừng đếm ngay khi trẻ bắt đầu khóc trở lại. Thày
“không khóc” (đếm trở lại mỗi lần trẻ dừng khóc). TRẻ thực sự dừng khóc. Thày
gợi ý trẻ bằng dạng giao tiếp hiện có của trẻ để nêu thứ trẻ muốn. Với một số trẻ,
biện pháp đếm có thể làm leo thang cơn thịnh nộ, lý do vì có lẽ trước đó thày hoặc
cha mẹ đã từng CC cơn thịnh nộ trong quá khứ. Nếu vậy thày hoặc cha mẹ hãy rời
khỏi phòng, lờ cơn thịnh nộ đi (nếu dự đoán trẻ không làm gì gây thương tích).
Ngay khi cơn thịnh nộ qua, quay lại và gợi ý trẻ nêu yêu cầu một cách phù hợp.
Nếu trẻ lại xâu chuỗi thủ tục đếm vào lời yêu cầu của mình (“1,2,3 con muốn…”)
thì chỉ dùng ngón tay để đếm mà không đọc ra lời.
2. TRẻ khóc nhưng không tỏ ra cần cái gì: Như vậy trẻ có thể đang cần sự chú ý.
Bố mẹ thường có thói quen lại gần xem có gì với trẻ. Thật không may, trẻ lại hiểu
là bất cứ khi nào trẻ muốn bố mẹ quan tâm thì chỉ việc hét. Vì vậy hãy chấm dứt

khi hành vi xảy ra (tiền hành vi), ta nói về cách tránh những hành vi tiêu cực khỏi
xảy ra ngay từ đầu. Điều này không nên lẫn lộn với cách ta pản ứng sau khi hành vi
xảy ra (hậu hành vi) điều sẽ quyết định liệu hành vi đó có tiếp tục trong tương lai
không. Quan trọng là cả hai yếu tố đều có khả năng thay đổi hành vi nhưng vì
những lý do khác nhau, và ta cần phải quan tâm đến cả hai thì mới hiệu quả.
Biến đổi môi trường tiền hành vi bao gồm nhiều thứ nhưng nên tính đến các
kiến thức của ta về trẻ, phản ứng của trẻ với môi trường và hả nưng trẻ phải hiểu
những gì đang diễn ra xung quanh trẻ. Quan trọng là hãy nhạy cảm với nhu cầu của
trẻ trong khi vẫn đồng thời dạy trẻ biết tiến hành các chức năng với người khác
trong xã hội mà cần ít nhất sự thay đổi của môi trường. Nói cách khác, ta có thể
dùng bất cứ công cụ gì cần thiết để dạy trẻ dựa trên kỹ năng hiện có của trẻ nhưng
cũng phải dạy trẻ những điều sẽ cho ta làm mờ gợi ý và hỗ trợ khi trẻ học kỹ năng
mới.
Hiểu về trẻ: Do hệ thống cảm giác quá nhạy cảm, ta có thể tôn trọng những
phản ứng của trẻ với môi trường, nhưng cũng không thể giữ trẻ không bao giờ trải
qua những cảm giác mà trẻ khó chịu. Cách làm là hãy giới thiệu trẻ với tình huống
trong một khoảng thời gian ngắn, CC cho khả năng chịu đựng tăng lên dần của trẻ .
Nếu cách “gây tê” cảm giác này chưa hiệu quả, hãy kẹp đôi những điều kiện hơi
khó chịu với trẻ với những thứ CC. Cách nữa là kể cho trẻ về những điều sẽ được
trông đợi ửo tình huống, như kể chuyện (thường xuyên kể chuyện đi nhổ răng ở bác
sĩ), truyện tranh.
Nhiều trẻ rất khó hiểu những luật lệ của tương tác xã hội nên thường có hành
vi không phù hợp. Những kỹ năng này có thể dạy trẻ một cách trực tiếp qua những
câu chuyện kể, hoặc dạy trẻ nhìn vào mắt người khác và dướn lông mày để dò hỏi
người khác muốn làm gì.
Nhiều trẻ không hiểu cái trẻ phải làm trong một tình huống nhất định vì
không biết bắt chước bạn cũng không biết hỏi người lớn để làm rõ. Vì vậy trẻ hành
xử tiêu cực. Hãy đưa ra lời giải thích rõ để trẻ hiểu, và dạy trẻ các kỹ năng bắt
chứoc và hỏi người lớn để giảm hành vi tiêu cực.
Dạy trẻ dùng lời thay vì nổi giận: Ai cũng làm những thứ có tác dụng với mình.

đựng nghe câu hỏi trên vì một nơi nào đó, người nào đó sẽ có thể hỏi Sam như vậy.
Sam có ác cảm với câu hỏi đó, có thể là do nó không muốn điều thường xảy ra
cùng lúc với câu hỏi. VD: người nào đó thường cầm đồ chơi của nó và hỏi như vậy
mà không cho nó cầm đồ chơi. Quan trọng là đừng mất nhiều thời gian vào tìm
hiểu điều đó đã xảy ra thế nào mà hãy tập trung giải quyết rắc rối. Chương trình
cho Sam bao gồm: gợi ý cho Sam yêu cầu những lượng nhỏ của vật mong muốn và
dần dần “nhét gọn” câu hỏi này giữa rất nhiều vật yêu thích; hoặc đi kẹp đôi những
tưừnày với CC bằng cách nói khi Sam đang tham gia một thứ nó thích mà không
cần lời đáp với câu hỏi. VD: khi đang cùng xem bộ phim hoạt hình yêu thích với
Sam hãy hỏi “con muốn gì, hoạt hình” bằng một giọng êm dịu. Điều quan trọng là
nói cả câu hỏi và trả lời trong tình huống này để trẻ không trở nên quen với việc
câu hỏi không theo sau bằng lời đáp. BẤy giơờphim sẽ tạm dừng trong vài giây và
Sam được gợi ý để yêu cầu mở phim.
Để giải quyết hậu hành vi, dùng thủ tục đếm. Sau khi Sam thôi khóc trong
tận 10 lần đếm, thày gợi ý Sam yêu cầu thứ nó muốn. Khi trẻ nổi giận như một
cách để yêu cầu vật, tối quan trọng là không bao giờ cho trẻ đến được với thứ nó
muốn bằng nổi giận lần nữa. Cần hiểu rằng ta thường gặp sự tăng lên của hành vi
tiêu cực khi ta lần đầu tiên từ chối trẻ tiếp cận CC. Sự “bùng nổ trước khi triệt tiêu”
này giảm dần khá nhanh miễn là ta nhất quán trong việc không cho phép trẻ tiến
đến vật CC. Hãy vượt qua giai đoạn này chứ đừng nghĩ cách làm của ta không tác
dụng. Đôi khi thậm chí sau khi một hành vi được chấm dứt, trẻ bỗng bất ngờ
thựchiện lại hành vi cũ. Vậy hãy tiếp tục kỷ luật khong cho phép trẻ tiếp cận được
18
vật CC. Nếu không thì hành vi sẽ trở lại y hệt như cũ thậm chí còn khó triệt tiêu
hơn trong tương lai. Do tầm quan trọng rất lớn của sự nhất quán khi giải quyết hành
vi của trẻ nên mọi người làm việc hay tương tác với trẻ đều phải được thông báo về
chương trình. Nếu hành vi được CC thỉnh thoảng hoặc vài người khác, nó sẽ còn
khó chấm dứt hơn.
DẠY TRẺ TRẢ LỜI CÂU HỎI
Khi dạy trẻ trả lời, ta phải kết nối giữa dạng câu hỏi (yêu cầu, gọi tên…) với

kích thích. Không có liên kết giữa câu hỏi, lời đáp và CC.
Những câu hỏi đầu tiên:
19
* Cho trẻ mới bắt đầu học, cần tránh câu hỏi “có/không”. Lý do là thày có thể
không biết chắc liệu trẻ sẽ đồng ý (có) hay không, do đó không thể gợi ý câu trả lời
đúng. Vấn đề nữa là nếu trẻ hiểu đồng ý là nói có, nhưng trong tình huống không ai
hỏi trẻ thì trẻ có thể tự tiến ra chỗ người lớn và nói “có” mà người ta không hiểu.
Do đó cách tốt nhất dạy trẻ có được thứ nó càn là dạy yêu cầu lấy những vật cụ thể
hơn là chỉ đáp có/không. Cần tránh hỏi câu hỏi mà thày cũng không biết câu trả lời
vì rất khó nếu không nói là không thể gợi ý cho trẻ.
* Câu hỏi “Ai”: Sau khi dạy trẻ gọi tên đồ vật, bắt đầu dạy trẻ nêu tên người “đây
là ai”, “kia là ai”, “ai đang ở đây”. TRẻ phải được phân biệt khi nghe “ai”, câu trả
lời phải là về người.
* … đang làm gì đây?: khi dạy trẻ gọi tên hành động, thày đã dạy trẻ đáp với câu
hỏi này. Trước hết là với những hành động đang diễn ra “con đang làm gì đấy?”,
“thày đang làm gì đây?”. Sau khi trẻ thạo với hành động đang diễn tiến, thày có thể
dùng tranh ảnh. Điều này rất quan trọng vì ta không thể thấy được cử động thực sự
trong tranh và đó chính là cái ta dạy trẻ gọi tên. Có thể dạy loại câu hỏi này bằng
phép chuyển từ lời hướng dẫn hay yêu cầu đơn giản:
VD chuyển từ lời hướng dẫn đơn giản: thày “vỗ tay”, trẻ vỗ tay và nói “vỗ tay”,
thày “con đang làm gì? đang vỗ tay” (gợi ý tòan bộ), trẻ “đang vỗ tay”, thày “con
đang làm gì”, trẻ “vỗ tay”
VD chuyển từ lời yêu cầu: trẻ muốn nước và yêu cầu hành động “rót”, thày “thày
đnag làm gì đây? rót” (gợi ý toàn bộ), trẻ “rót”, thày “thày đang làm gì đây”, trẻ
“rót”.
VD chuyển từ câu tiếp nhận sang xử trí: trẻ đang nói tên hành động khi chỉ vào
tranh: thày “sờ vào đang ăn”, trẻ sờ vào tranh đang ăn và nói “đang ăn”, thày “anh
ta đang làm gì”, trẻ “đang ăn”.
Một số chương trình tránh dạy trẻ gọi tên vật và hành động cùng lúc. Nhưng như
vạy câu hỏi có thể không thực sự là một sự kích thích cho lời đáp vì trẻ có thể đã

phân biệt. Cũng quan trọng là sử dụng một số lượng lớn các đối tượng khác nhau
khi dạy trẻ trả lời các câu hỏi về tính chất. Điều này đảm bảo là trẻ không chỉ phân
biẹt được mà còn khái quát hóa được lời đáp. Một khi trẻ đã học cách đáp đúng với
các vật giống nhau chỉ khác ở tính chất mục tiêu (tính chất mà ta hướng trẻ đến) thì
tiếp đến nên đưa các đối tượng không giống nhau.
+ Màu gì? Với sự có mặt của vật có màu sắc, ta hỏi trẻ “cái này màu gì?”. Điều này
có vẻ dễ nhưng nhớ rằng chữ “gì” có cả trong câu hỏi về tên đồ vật “đây là cái gì”
và câu hỏi tên hành động “đang làm gì”. Nhiều trẻ đáp được câu hỏi tiếp nhận và
gọi tên màu sắc nhưng khi hỏi các câu hỏi lẫn lộn nhau lại có thể sai. VD: thày “cái
này màu gì”, trẻ lại đáp tên đồ vật. Thêm nữa rất dễ dẫn đến tình trạng vô tình dạy
trẻ nói được màu khi tên vật được nhắc đến nhưng khi hỏi “màu gì” không thôi thì
lại không trả lời được. Như vậy trẻ đang phân biệt sự hiện diện của tên vật trong
câu hỏi hơn là từ quan trọng “màu”. Do đó để dạy trẻ đáp “màu gì”, ta phải trước
hết lôi ra chính từ “màu” rồi chuyển sang điều kiện mới.
VD: chuyển từ yêu cầu sang xử trí: trẻ đang có EO cho quả bóng nên yêu cầu
“bóng”, thày lần lượt giơ bóng xanh rồi bóng đỏ “xanh? đỏ?”, trẻ “đỏ”, thày “màu
gì đây?”, trẻ “đỏ”.
VD: chuyển từ tiếp nhận sang xử trí: trẻ phải vừa nói tên màu sắc cùng lúc khi nó
chạm tay vào. Gợí ý toàn phần bằng cách chỉ tay có thể được thày dùng đến: thày
“chạm vào màu đỏ”, trẻ chạm vào màu đỏ và nói “đỏ”, thày “màu gì”, trẻ “đỏ”.
VD: chuyển từ điền ô trống sang (với trẻ biết gọi tên màu nhưng không biết trả lời
câu hỏi “màu gì đầy”): thày chỉ vào quả bóng xanh “bóng này màu xanh” rồi chỉ
tay vào quả bóng đỏ “bóng này màu…”, trẻ “đỏ”, thày “màu gì”, trẻ “đỏ”.
Chú ý là không CC trẻ khi trẻ đáp cả màu sắc và tên vật với 1 trong hai câu hỏi
“màu gì” hoặc “đây là cái gì”. VD: thày giơ quả bóng và hỏi “đây là cái gì”, trẻ
“bóng đỏ”, đừng CC vì ta chỉ muốn từ “bóng”. Tuy nhiên điều quan trọng là dạy trẻ
phân biệt được giữa các dạng câu hỏi khác nhau. Một khi trẻ đã đáp liên tục đúng
21
với câu “màu gì” thì chuyển lời đáp này sang các câu hỏi liên quan “đây là màu gì”,
“bóng này màu gì”.

đám mây, 1 người có thể xử trí là đám mây giống con tàu, người khác nói đám mây
giống con chim. Cả hai đều đúng vì họ dùng những sự kiện có tính cá nhân để so
sánh.
+ Loại nào?cái nào? cũng là câu hỏi có thể lôi ra những tính từ. Những câu hỏi này
thường để dạy trẻ rằng cần thêm thông tin hoặc cần chính xác hơn cho yêu cầu của
trẻ.
FFCs: ĐẶC TRƯNG, CHỨC NĂNG, CHỦNG LOẠI
VD: bóng có đặc chưng là tròn, để nảy, chủng loại thể thao…
LỰA CHỌN MỤC TIÊU
22
Lựa chọn mục tiêu để dạy yêu cầu, xử trí và FFC rất nên dựa vào sở thích
của từng đứa trẻ. Yêu cầu là dạng VB đầu tiên vì thế các ngôn ngữ tiếp nhận, xử trí
và FFC nên đươc chuyển từ câu yêu cầu đã thành thục. Một số trẻ có rất ít vật hay
hoạt động có tính CC, dù thế trọng tâm của chương trình vẫn tiếp tục là dạy yêu
cầu. Một số vật không nhất thiết là bản thân nó có tính CC nhưng nó được cần tới
để hoàn thành công việc hàng ngày thì vẫn có giá trị, VD: muốn đi chơi thì xỏ giầy
sẽ trở nên có giá trị. Hoặc đồng hành CC với vật mà trẻ chưa biết thưởng thức.
TRước hết thày cần quan sát xem trẻ có đáp ứng với loại đặc trưng hay chức
năng nào của vật. Mục tiêu được chọn nên là điều phù hợp với trẻ hơn là cái người
lớn cho là đúng. VD, trẻ thích chơi xe đạp vì nó có việc làm yêu thích là quay
pedan, pedan trở nên một đặc trưng quan trọng để dạy trẻ. Trẻ khác thích xe vì
rung chuông thf chuông là đặc trưng quan trọng để dạy. Trẻ khác không biết đi xe
nhưng thích nhìn người khác đi và thấy bánh xe quany thì bánh xe là đặc trưng
quan trọng. VD; dạy về đặc tính . Nếu trẻ có vẻ không bao giờ muốn chạm vào con
mèo thì không thể biết “mềm mại” là đặc trưng. Nếu trẻ có vẻ chạm vào rất nhiều
thứ khác nhau đặc biệt là những thứ mềm thì đó sẽ là đặc trưng có liên quan của
nhiều vật. Nếu trẻ thích nhìn những thứ dài và bóng, đó sẽ là những đặc trưng quan
trọng của 1 cái dĩa hơn là đặc điểm dĩa có răng nhọn. Cần nhớ chọn những chức
năng để dạy phù hợp với quan tâm của từng trẻ, thông thường một vật có nhiều
chức năng cũng như nhiều đặc tính. VD: khăn có thể để bọc, ủ ấm hoặc làm lều.

chủng loại và nhiều đặc trưng nhưng không có chức năng. Tránh tìm mục tiêu để
dạy chỉ sao cho đảm bảo là mỗi FFC có một từ.
Danh sách các kiểu dạy FFC:
1. Ngôn ngữ tiếp nhận: Đưa vật ra
2. Ngôn ngữ xử trí : đưa vật ra
3. Nội ngôn : không đưa vật:
C20: chọn vật theo chức năng “sờ vào cái ta ăn”
G12: gọi tên khi cho biết chức năng: “ta ăn được cái gì”
H6: điền từ khi mô tả những hành động phổ biến; “ta ngủ trong cái…”
H7: điền tên vật khi cho trước chức năng: “ta ăn …”
H16: trả lời câu hỏi “cái gì”: “cái gì là thứ ta ăn được”
C21: chọn theo đặc trưng: “tìm bánh có socola”
G13: gọi tên khi cho trước đặc trưng “cái nào là thức ăn”.
H10: Điền chỗ trống vật cho trước đặc trưng “một thứ có socola là …”
H16: Trả lời các câu hỏi “cái gì” : “cái gì có socola”
C22: Lựa chọn bằng chủng loại: “hãy sờ vào thức ăn”.
G14: gọi tên vật cho trước chủng loại: “cái nào là thức ăn”.
H12: điền vào chỗ cho trước chủng loại: “ một loại thức ăn là …”
G15: Gọi tên chức năng của một vật: ta làm gì với cái chén”
H8: Điền chức năng của một vật cho trước: “ta dùng chén để …”
G16: Gọi tên chủng loại của vật: con chó là loại gì
H11: Điền chủng loại vật cho trước: “con chó là một …”
G10: gọi tên các bộ phận/đặc trưng của một vật: con voi có gì?
H9: điền đặc trưng vật cho trước: “con voi có…”
G11: gọi tên tính từ: con voi cỡ gì?
H9: điền đặc trưng vật cho trước: Con voi này…
Thông thường nên chọn câu đáp điền chỗ trống trước khi chuyển sang dạng
mới khi câu điền chỗ trống đã thành thạo. Lý do vì câu điền chỗ trống không có
tính yêu cầu. Nếu trẻ không điền, thày điền. Cũng dễ dàng lôi ra câu trả lời dù trẻ
không có EO.

bánh”, trẻ “bánh ở đâu”, thày “trong hộp” và chỉ cho trẻ bánh trong hộp rồi hỏi tiếp
“bánh ở đâu”, trẻ “trong hộp. cho con bánh”, thày “được, lấy bánh ra khỏi hộp”.
Cũng dạy trẻ đáp khi học gọi tên giới từ.
Chuyển từ tiếp nhận sang gọi tên: Thày “đặt giầy vào trong hộp”, trẻ đặt giầy vào
trong hộp và nói “trong hộp”, thày “giầy ở đâu”, trẻ “trong hộp”.
Mang hai cái bảt ra, 1 bát có hình hoa ở đáy, một có hình hoa ở trên. thày “chỉ cho
thày phía dưới bát” (gợi ý 0 giây cho lần dạy đầu tiên), trẻ “phía dưới bát” và chỉ
tay vào hình hoa đúng, thày “bông hoa ở đâu”, trẻ “phía dưới bát”.
+ Ai, của ai? Trẻ học đáp lại câu hỏi ai khi học gọi tên người. Một diều kiện khác
nữa là khi dạy FFC về những thành viên gia đình hoặc nhưng người trợ giúp trong
cộngd đồng. VD: thày “Ai cho con đi ngủ”, trẻ “mẹ”. Nếu trẻ đã biết gọi tên chú
cứu hỏa: thày giơ ảnh chú cứu hỏa ra “Ai đây”, trẻ “chú cứu hỏa”, thày “ai dập
lửa”, trẻ “chú cứu hỏa”.
Của ai? dạy khi yêu cầu thông tin: thày đặt mẩu kẹo lên bàn “nói kẹo của ai”,
trẻ “kẹo của ai”, thày “kẹo của con, cầm lấy”. Về sau trẻ không cần gợi ý, thêm tên
của người sở hữu vào: có mảu kẹo trên bàn, trẻ “kẹo của ai”, thày “kẹo của Cuội.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status