Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lý do nghiên cứu đề tài
Ngày nay, khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin phát triển không
ngừng đã tạo nên những bước đột phá trên con đường phát triển các loại hình dịch vụ
ngân hàng trên thế giới. Đặc biệt, các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt
đang dần dần trở thành xu thế tất yếu mà các quốc gia cần hướng tới.
Với một nền kinh tế tăng trưởng ổn định 7-8 %/năm, dân số khoảng hơn 83 triệu
người, cơ cấu dân cư tương đối trẻ, Việt Nam đang nổi lên như một thị trường rất giàu
tiềm năng cho những sản phẩm thẻ thanh toán mới. Theo thống kê sơ bộ, thị trường thẻ
Việt Nam đã có những bước phát triển nhất định, nhưng với số lượng 487.000 thẻ đã
được phát hành thì quả là con số khiêm tốn. Nếu so sánh với các nước trong khu vực là
Philipines (trên 10 triệu thẻ), Thái Lan (trên 1,6 triệu thẻ), hay ở những nước phát triển
tại châu Á như: Singapore người ta ước tính trung bình mỗi người dân sử dụng đến 3
thẻ tín dụng, hay ở Nhật Bản có 234 triệu thẻ đã phát hành cho 127 triệu dân. Do đó, sự
bùng nổ nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam nói chung và trong lĩnh
vực thẻ ngân hàng nói riêng, việc các nhà cung cấp dịch vụ có thể cung ứng những sản
phẩm đa dạng nhắm đến từng đối tượng khác nhau có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng.
Việc mở rộng dịch vụ thanh toán thẻ mang lại lợi ích không chỉ cho ngân hàng, khách
hàng mà còn đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước.
Ngân hàng TMCP Á Châu là ngân hàng đi tiên phong trong việc trở thành thành
viên chính thức của các tổ chức thẻ quốc tế Mastercard và Visa. Qua đó cho ra đời
nhiều loại thẻ quốc tế và nội địa, với nhiều tiện ích như rút tiền mặt, thanh toán hàng
hoá dịch vụ tại các đơn vị kinh doanh chấp nhận thẻ...Bên cạnh đó là dịch vụ phi tài
chính bổ sung như in sao kê các khoản giao dịch, truy vấn thông tin tài khoản...Sự xuất
hiện của các loại thẻ này phần nào đóng góp cho thị trường thẻ ngày càng phong phú
và đa dạng hơn.
Hoàng Thị Diễm Thư - K38 QTKDTM
1
Khúa lun tt nghip
Khóa luận tốt nghiệp
• Đối với số liệu sơ cấp:
Phương pháp quan sát: được tiến hành trong thời gian thực tập ở chi
nhánh, quan sát thái độ của khách hàng khi đến giao dịch bằng thẻ tại ngân hàng
TMCP Á Châu chi nhánh Huế.
Phương pháp điều tra, phỏng vấn:
Chọn mẫu điều tra: chọn ngẫu nhiên không lặp lại với số mẫu hợp lệ là
80. Bảng câu hỏi được lập ra gồm 15 câu, được chia thành 2 loại câu hỏi: câu hỏi đóng
và câu hỏi mở.
Câu hỏi đóng: là các câu hỏi có các câu trả lời cho sẵn và khách hàng sẽ
chọn một hay nhiều câu trả lời tuỳ vào yêu cầu của câu hỏi đó. Có 2 dạng: Dạng thứ
nhất là dạng câu hỏi nhằm xác định khách hàng thuộc nhóm nào dựa trên các biến phân
chia. Dạng thứ hai là dạng câu hỏi để đo lường sự hài lòng của khách hàng về chất
lượng dịch vụ thẻ, được xây dựng dựa trên thang điểm Likert.
Câu hỏi mở: là các câu hỏi không có câu trả lời sẵn, khách hàng dựa vào
câu hỏi để tự trả lời theo quan điểm của bản thân.
• Đối với số liệu thứ cấp: chủ yếu thu thập qua phòng Kinh doanh của
Ngân hàng TMCP Á Châu chi nhánh Huế.
Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS
13.0 for Windows.
1.4. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian
Nguồn số liệu sơ cấp: thu thập qua việc tiến hành điều tra khách hàng bằng
bảng hỏi vào năm 2008.
Nguồn số liệu thứ cấp: thu thập các số liệu thô từ phía Ngân hàng TMCP Á
Châu chi nhánh Huế giai đoạn 2006-2007. Các số liệu cần thu thập bao gồm:
Tình hình lao động của Ngân hàng TMCP Á Châu chi nhánh Huế.
Tình hình tài sản và nguồn vốn của Ngân hàng TMCP Á Châu chi nhánh Huế.
Kết quả kinh doanh của Ngân hàng TMCP Á Châu chi nhánh Huế.
Thị phần thẻ của Ngân hàng TMCP Á Châu chi nhánh Huế
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam
Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long
Ngân hàng TMCP: Là NHTM thành lập dưới hình thức công ty cổ phần.
Trong đó cá nhân hay pháp nhân chỉ được sở hữu một số cổ phần nhất định
theo quy định của NHNN Việt Nam. Một số Ngân hàng TMCP ở Việt Nam là:
Ngân hàng TMCP Á Châu
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
Ngân hàng TMCP Quân đội
..........................................
Hoàng Thị Diễm Thư - K38 QTKDTM
5
Khóa luận tốt nghiệp
1.1.1.3. Vai trò của ngân hàng thương mại
- NHTM giúp các doanh nghiệp có vốn đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh,
nâng cao hiệu quả kinh doanh
- NHTM góp phần phân bổ hợp lý các nguồn lực giữa các vùng trong quốc gia,
tạo điều kiện phát triển cân đối nền kinh tế
- NHTM tạo ra môi trường cho việc thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng
Trung ương.
- NHTM tạo cầu nối phát triển kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia.
1.1.2. Những lý luận chung về khách hàng
1.1.2.1. Khái niệm về khách hàng của ngân hàng
"Khách hàng của ngân hàng là những cá nhân và tổ chức có nhu cầu về sản
phẩm tài chính. Họ sẵn lòng và có khả năng tham gia trao đổi với ngân hàng để thoả
mãn nhu cầu của mình". Nguyễn Thị Minh Hiền (2002), Marketing Ngân hàng, Nhà
Xuất bản Thống kê.
Khách hàng cá nhân
"Khách hàng cá nhân là tập hợp các khách hàng giao dịch là cá nhân, hộ gia
đình (thị trường bán lẻ)". Nguyễn Thị Minh Hiền (2002), Marketing Ngân hàng, Nhà
Đặc điểm nghề nghiệp cũng là nhân tố ảnh hưởng đến các nhu cầu về sản
phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng như: người kinh doanh sẽ có nhu cầu về các sản
phẩm thanh toán
Điều kiện kinh tế và thu nhập cá nhân là những nhân tố ảnh hưởng không nhỏ
đến việc sử dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Người có thu nhập cao thường tìm
kiếm các sản phẩm tiết kiệm và đầu tư, còn những người có thu nhập thấp và không ổn
định lại có nhu cầu cao về các khoản vay và tiết kiệm nhỏ.
Đặc điểm hôn nhân gia đình cũng là nhân tố tác động đến nhu cầu sản phẩm
dịch vụ.
1.1.2.3. Sự hài lòng của khách hàng
"Sự hài lòng đối với một sản phẩm được quyết định bởi mức độ đáp ứng của
sản phẩm so với những gì mà khách hàng mong đợi. Nói cách khác, sự hài lòng là
chênh lệch giữa kỳ vọng và đánh giá của khách hàng sau khi tiêu dùng hàng hóa hay
dịch vụ". Trương Đình Chiến (2002), Quản trị Marketing trong doanh nghiệp, Nhà
xuất bản Thống kê.
Hoàng Thị Diễm Thư - K38 QTKDTM
7
Khóa luận tốt nghiệp
1.1.2.4. Sự trung thành của khách hàng
Sự trung thành là số đo sự gắn bó của khách hàng.
Sự trung thành càng cao thì cơ sở khách hàng càng vững chắc.
1.1.3. Những lý luận chung về chất lượng dịch vụ ngân hàng
1.1.3.1. Dịch vụ
"Dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia
và chủ yếu là không sờ thấy được và không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì đó. Việc
thực hiện dịch vụ có thể có hoặc có thể không liên quan đến hàng hoá dưới dạng vật
chất của nó". Philip Kotler (1995), Marketing căn bản - Nguyên lý và tiếp thị, Nhà xuất
bản Thành phố Hồ Chí Minh.
1.1.3.2. Chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ là mức độ hài lòng của khách hàng trong quá trình cảm nhận
+ Thuộc tính sử dụng: Thoả mãn đúng một nhu cầu nào đó.
1.1.3.5. Cơ sở xây dựng hệ thống quản trị chất lượng dịch vụ ngân hàng
Bất cứ chất lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ nào cũng được xây dựng trên nền
tảng, quan điểm Quản trị chất lượng toàn bộ (TQM). Hệ thống quản trị chất lượng dịch
vụ ngân hàng cũng có thể được xây dựng trên cơ sở đó với các nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, chất lượng dịch vụ là cái khách hàng có thể nhận thức được, chất
lượng xuất phát từ nhu cầu của khách hàng và kết thúc bằng sự đánh giá của khách
hàng. Do vậy, chất lượng dịch vụ không chỉ là kết quả cuối cùng mà nó thể hiện xuyên
suốt quá trình sử dụng từ khâu thiết kế, sản xuất, phân phối và sử dụng dịch vụ.
Thứ hai, chất lượng dịch vụ được thể hiện và phản ánh trong toàn bộ quá trình
hoạt động chứ không đơn thuần ở bản thân dịch vụ cung ứng. Cụ thể là chất lượng
nhân sự tiếp xúc, chất lượng khách hàng, chất lượng phương tiện vật chất, chất lượng
phối hợp quy trình, chất lượng các yếu tố không tiếp xúc với khách hàng.
Thứ ba, chất lượng đòi hỏi sự tận tâm chung của toàn thể nhân viên trong ngân
hàng, ngân hàng chỉ có thể đảm bảo chất lượng khi toàn thể nhân viên đều cam kết
đảm bảo chất lượng, được động viên, được huấn luyện về đảm bảo về chất lượng trở
thành thói quen văn hoá của ngân hàng.
Chất lượng dịch vụ phải thường xuyên cải tiến và nâng cấp, các ngân hàng tốt
luôn tin tưởng vào việc cải tiến. Cách tốt nhất phải là chất lượng hiện tại phải cao hơn
chất lượng trong quá khứ và bằng hoặc vượt trội hơn so với các đối thủ cạnh tranh
ngan tầm.
Hoàng Thị Diễm Thư - K38 QTKDTM
9
Khóa luận tốt nghiệp
Thứ tư, cải tiến chất lượng dịch vụ đòi hỏi phải có bước đột phá bằng những cải
tiến mới hơn, sáng tạo hơn, đưa lại sự nâng cấp vượt bậc về chất lượng.
Thứ năm, chất lượng không đòi hỏi thêm chi phí, thậm chí giảm được những chi
phí không chất lượng.
1.1.4. Những vấn đề chung về thanh toán không dùng tiền mặt
1.1.4.1. Khái niệm về thanh toán không dùng tiền mặt
thanh toán cho chủ tài khoản khi cần thiết.
TTKDTM đang ngày một phát triển nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thanh toán
của khách hàng. Vì vậy, khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thể hiện ở số lượng và
chất lượng của dịch vụ ngân hàng, trong đó có dịch vụ thanh toán.
Về phía Nhà nước
Mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng đều phải chịu sự quản lý vĩ mô qua
chính sách tiền tệ của Nhà nước. Việc các ngân hàng đang đa dạng các hình thức thanh
toán sẽ phát huy đầy đủ hơn vai trò quản lý tổng thể của Nhà nước đối với quá trình
sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Về phía nền kinh tế nói chung
TTKDTM có vai trò quan trọng trong lưu thông tiền mặt, giảm khối lượng lớn
tiền mặt trên thị trường, từ đó giảm bớt chi phí cho việc phát hành, lưu thông, bảo
quản, chuyên chở..., vì thế tiết kiệm những phí tổn không đáng có cho xã hội.
TTKDTM sẽ giúp các ngân hàng duy trì, điều chỉnh tỷ lệ lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt
buộc...theo quy định của NHNN, tránh hiện tượng lạm phát xảy ra cho nền kinh tế.
NHNN sẽ điều hoà lượng tiền tệ lưu thông trên thị trường, góp phần đảm bảo cho nền
kinh tế phát triển ổn định.
Tóm lại: TTKDTM là một hình thức tiên tiến dựa trên việc sử dụng công nghệ
kỹ thuật hiện đại. Các ngân hàng đang tăng cường hoạt động TTKDTM nhằm thu hút
nhiều hơn nguồn vốn trong xã hội. Trên cơ sở đó góp phần đáp ứng nhu cầu vốn, mang
lại nhiều lợi ích to lớn cho nền kinh tế.
1.1.4.3. Các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt hiện hành
Hoàng Thị Diễm Thư - K38 QTKDTM
11
Khóa luận tốt nghiệp
Các phương thức giữa các ngân hàng
Có 5 phương thức thanh toán giữa các ngân hàng:
Thanh toán liên ngân hàng
Thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng
Thanh toán qua NHNN
Mặt sau của thẻ:
Dải băng từ chứa các thông tin đã được mã hoá theo một chuẩn thống
nhất như: số thẻ, ngày hết hạn, các yếu tố kiểm tra an toàn khác.
Ô chữ ký dành cho chủ thẻ.
1.1.5.3. Phân loại thẻ thanh toán
Phân loại theo công nghệ sản xuất
Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card): dựa trên công nghệ khắc chữ nổi, tấm thẻ
đầu tiên được sản xuất theo công nghệ này. Hiện nay người ta không còn sử dụng loại
thẻ này nữa vì kỹ thuật quá thô sơ dễ bị giả mạo.
Thẻ băng từ (Magnetic stripe): dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ chứa
thông tin đằng sau mặt thẻ. Thẻ này đã được sử dụng phổ biến trong 20 năm qua ,
nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm: do thông tin ghi trên thẻ không tự mã hoá được,
thẻ chỉ mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, không áp dụng được kỹ
thuật mã hoá, bảo mật thông tin...
Thẻ thông minh (Smart Card): đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thẻ có
cấu trúc hoàn toàn như một máy vi tính.
Theo đặc tính kỹ thuật
Thẻ băng từ (Magnetic Stripe): được sản xuất dựa trên kỹ thuật từ tính với 1
băng từ chứa 2 rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ. Thẻ này đuợc sử dụng phổ biến trong
vòng 20 năm nay. Tuy nhiên nó có một số nhược điểm sau:
- Khả năng bị lợi dụng cao do thông tin ghi trong thẻ không tự mã hoá được,
người ta có thể đọc thẻ dễ dàng bằng thiết bị đọc gắn với máy vi tính.
- Thẻ mang tính thông tin cố định, khu vực chứa thông tin hẹp không áp dụng
đuợc các kỹ thuật mã đảm bảo an toàn. Do đó, trong những năm gần đây đã bị lợi dụng
lấy cắp tiền.
- Thẻ điện tử có bộ vi xử lý Chip: là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thẻ
thông minh dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ 1 "Chip" điện tử có cấu
Hoàng Thị Diễm Thư - K38 QTKDTM
13
Khóa luận tốt nghiệp
14
Khóa luận tốt nghiệp
* Loại 2: được sử dụng không chỉ để rút tiền ở Ngân hàng phát hành
mà còn được sử dụng để rút tiền ở các Ngân hàng cùng tham gia tổ hợp thanh toán với
Ngân hàng phát thẻ.
Theo hạn mức tín dụng
Thẻ vàng (Gold Card): là loại thẻ được phát hành cho những đối tượng có uy
tín, khả năng tài chính lành mạnh, nhu cầu chi tiêu lớn. Loại thẻ này có thể có những
điểm khác nhau tuỳ thuộc vào tập quán, trình độ phát triển của mỗi vùng, nhưng chung
nhất vẫn là thẻ có hạn mức tín dụng cao (trên 5000USD) hơn thẻ thường.
Thẻ thường (Standard card): Đây là loại thẻ căn bản nhất, là loại thẻ mang tính
chất phổ biến, đại chúng, được hơn 142 triệu người trên thế giới sử dụng mỗi ngày.
Hạn mức tối thiểu tuỳ theo Ngân hàng phát hành qui định (thông thường khoảng
1000USD).
Theo phạm vi sử dụng của thẻ
Thẻ dùng trong nước: Có 2 loại:
* (Local use only card) là loại thẻ do Tổ chức tài chính hoặc Ngân
hàng trong nước phát hành, chỉ được dùng trong nội bộ hệ thống Tổ chức đó mà thôi.
* (Domestic use only card) là thẻ thanh toán mang thương hiệu của Tổ
chức thẻ quốc tế được phát hành để sử dụng trong nước.
Thẻ quốc tế (International card) là loại thẻ không chỉ dùng tại Quốc gia nó được
phát hành mà còn dùng được trên phạm vi Quốc tế.
1.1.5.4. Các đối tượng liên quan đến việc phát hành và thanh toán thẻ
Tổ chức thẻ thanh toán Quốc tế: là tổ chức đứng ra liên kết với các thành viên,
đặt ra các quy định bắt buộc thành viên phải áp dụng và tuân theo thống nhất thành một
hệ thống toàn cầu.
Ngân hàng phát hành thẻ (Issuer): Là ngân hàng phát hành thẻ cho khách
hàng.Chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ, mở và quản
lý tài khoản thẻ, đồng thời thực hiện việc thanh toán cuối cùng với chủ thẻ.
Ngân hàng thanh toán thẻ (Acquier): Ngân hàng thanh toán hay còn gọi là ngân
hành cho phép sử dụng trong thời gian thẻ còn hiệu lực.
Mức trần hay trị số tối đa thanh toán (Floor limit): Hiệp hội thẻ quốc tế đã qui
định mức giới hạn cho mỗi giao dịch được thực hiện mà không cần sự cấp phép của
ngân hàng phát hành, khi vượt mức qui định thì cơ sở chấp nhận phải xin cấp phép giao
dịch đó, mức trần này áp dụng cho các cơ sở chấp nhận thẻ dùng máy chà hoá đơn.
Thời hạn hiệu lực: là thời hạn chủ thẻ được phép sử dụng thẻ. Thời hạn hiệu lực
được in trên thẻ (không bao gồm những thẻ không giới hạn về thời hạn hiệu lực).
Hoàng Thị Diễm Thư - K38 QTKDTM
16
Khóa luận tốt nghiệp
Một số thiết bị sử dụng
Máy chà hoá đơn (Máy cà thẻ) (Imprinter): máy này được đặt tại các đơn vị
chấp nhận thẻ dùng để ghi lại những thông tin được in nổi ở mặt trước của thẻ (số thẻ,
tên chủ thẻ, ngày hiệu lực...) cùng với chữ ký của chủ thẻ, từ đó hoá đơn này được xem
là bằng chứng xác nhận việc chủ thẻ đã thực hiện giao dịch này, là sơ sở pháp lý để
giải quyết các tranh chấp giữa các đối tượng có liên quan (nếu có).
Máy rút tiền tự động ATM (Automated Teller Machine): là loại máy đang ngày
càng phổ biến vì sự tiện lợi, nhanh chóng và linh hoạt. Khách hàng có thể rút tiền tại
máy rút tiền tự động với thời gian 24/24.
Máy xin cấp phép EDC (Electronic Data Capture): là thiết bị điện tử được trang
bị cho các đơn vị tiếp nhận thẻ, dùng để xin cấp phép trực tuyến với ngân hàng phát
hành, các trung tâm cấp phép của các loại thẻ khác nhau trên thế giới thông qua ngân
hàng thanh toán.
Điện thoại - Telex: dùng để điện hay telex các thông tin như: mã số thẻ, thời
gian thực hiện, tổng số tiền xin cấp phép đến ngân hàng để xin cấp phép hay những
nghi ngờ, sau vài phút ngân hàng sẽ trả lời từ chối hoặc chấp nhận bằng việc cho một
mã số chấp nhận và cơ sở bán hàng phải ghi mã số này vào hoá đơn.
1.1.5.6. Quy trình thanh toán bằng thẻ thanh toán
SƠ ĐỒ 1.1 : QUY TRÌNH THANH TOÁN BẰNG THẺ THANH TOÁN
Hoàng Thị Diễm Thư - K38 QTKDTM
khoản thẻ thì đến ngân hàng nạp thêm tiền hoặc tất toán tài khoản.
1.1.5.7. Tiện ích của việc sử dụng thẻ thanh toán
Đối với nền kinh tế xã hội
Giúp NHNN điều tiết lượng tiền trong lưu thông: Việc thanh toán bằng thẻ sẽ
giúp Nhà nước kiểm soát được hoạt động thanh toán trong dân cư và nền kinh tế. Đó là
tiền đề cho việc tính toán lượng tiền cung ứng trong lưu thông.Bên cạnh đó hạn chế
được các hoạt động của nền kinh tế ngầm, giảm thiểu tiêu cực, tăng cường tính chủ đạo
của Nhà nước trong việc quản lý vĩ mô nền kinh tế.
Kiểm soát lạm phát: Hoạt động thanh toán có vai trò quan trọng trong quá trình
chu chuyển vốn trong nền kinh tế, tốc độ thanh toán được đẩy nhanh hơn, an toàn hơn,
chính xác hơn và đảm bảo làm tăng vòng quay của vốn giảm lượng tiền cần thiết trong
lưu thông, từ đó tiết kiệm chi phí cho xã hội, chi phí phát hành tiền …
Là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của một quốc gia: Khi thanh toán qua hệ
thống ngân hàng phát triển cũng đồng nghĩa với việc các tiện ích thanh toán được xã
hội thừa nhận, các yếu tố công nghệ thông tin được áp dụng vào ngân hàng một cách
có hiệu quả, làm giảm bớt khoảng cách về trình độ giữa các nước, giúp nền kinh tế hội
nhập nhanh vào khu vực và thế giới.
Kiểm soát được thu nhập của dân cư : Hoạt động thanh toán qua ngân hàng sẽ
giúp Nhà nước kiểm soát được nguồn thu nhập của các cá nhân và tổ chức. Điều này sẽ
Hoàng Thị Diễm Thư - K38 QTKDTM
18
Khóa luận tốt nghiệp
giúp phát hiện ra những khoản thu nhập bất chính, hạn chế hành động rửa tiền và đặc
biệt là hạn chế việc trốn thuế thu nhập, nhằm đảm bảo công bằng trong xã hội.
Đối với chủ thẻ
Là phương tiện TTKDTM hiện đại, mang đến sự thuận tiện và nhanh chóng
trong việc thanh toán.
Chủ thẻ có thể thực hiện thanh toán các giao dịch dễ dàng nhờ vào mạng lưới
rộng rãi các đại lý chấp nhận thẻ trong và ngoài nước. Thẻ được chấp nhận thanh toán
tại hơn 13 triệu cửa hàng, nhà hàng, siêu thị, câu lạc bộ, đại lý...thuộc gần 220 quốc gia
Ở những nước phát triển, dịch vụ thẻ đã trở nên quá quen thuộc trong đời sống
xã hội. Khi nền kinh tế phát triển cao thì dịch vụ thẻ phát triển tương ứng. Nói cách
khác trình độ của một nền kinh tế quyết định nhu cầu của cá nhân tổ chức đối với các
hình thức TTKDTM nói chung và dịch vụ thẻ nói riêng.Vì vậy dịch vụ thẻ trở nên quen
thuộc, phổ biến ở những đô thị lớn. Khi thu nhập của người dân tăng, cuộc sống sung
túc thì nhu cầu về mua sắm, tiêu dùng hàng hoá dịch vụ cũng tăng, đây là cơ hội để
dịch vụ thẻ phát triển.
Thứ hai là chính sách pháp luật
Ở Việt Nam, Chính phủ đã và đang ban hành khá nhiều thông tư, nghị định, chỉ
thị... liên quan đến hoạt động TTKDTM, trong đó có dịch vụ thẻ ngân hàng. Điều đó
cho thấy nước ta đang khuyến khích người dân tích cực chuyển sang sử dụng loại hình
thanh toán hiện đại này. Sang năm 2009, mọi cán bộ công nhân viên chức Nhà nước
đều được trả lương qua thẻ. Một khi văn bản mới này có hiệu lực thì Nhà nước cần đưa
ra những chính sách, quy định liên quan đến thẻ thanh toán nhằm bảo vệ quyền lợi và
hạn chế những rủi ro cho những đối tượng tham gia.
Thứ ba là trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật
Trong xu hướng toàn cầu hoá hiện nay cùng với sự phát triển của công nghệ kỹ
thuật hiện đại, dịch vụ thẻ ra đời giúp thế giới xích lại gần nhau hơn. Chính nhờ cuộc
cách mạng trong lĩnh vực khoa học công nghệ đã làm thay đổi nhanh chóng hệ thống
thanh toán qua ngân hàng. Hiện nay các ngân hàng đang thành lập một số liên minh
trong và ngoài nước nhằm tạo nên các loại thẻ thanh toán với nhiều tiện ích cho khách
hàng. Nó cho phép rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán hàng hoá dịch vụ ... tại các
máy ATM, các đại lý chấp nhận thẻ ở mọi khu vực địa lý, rút ngắn khoảng cách về
không gian và thời gian, mang lại sự thuận tiện cho người sử dụng.
Hoàng Thị Diễm Thư - K38 QTKDTM
20
Khóa luận tốt nghiệp
Thứ tư là thói quen sử dụng dịch vụ thẻ
Ở nước ta, người dân vẫn quen thanh toán bằng tiền mặt trong quá trình trao đổi
hàng hoá dịch vụ. Nguyên nhân là do mức thu nhập vẫn chưa cao, việc sử dụng tiền
cấp tín dụng cho các khách hàng của họ và điều này tạo điều kiện cho các tổ chức tài
chính vào cuộc.
Năm 1946, dạng đầu tiên của thẻ ngân hàng là Charg - It của ngân hàng John
Biggins xuất hiện tại Mỹ, đó là hệ thống tín dụng cho phép khách hàng thực hiện giao
dịch nội địa bằng các phiếu có giá trị do ngân hàng phát hành. Các đại lý nộp các phiếu
giao dịch này cho ngân hàng Biggins; ngân hàng sẽ thanh toán giao dịch đó cho các đại
lý và thu tiền lại từ khách hàng.
Hệ thống này là tiền đề cho việc phát hành thẻ tín dụng ngân hàng đầu tiên của
Ngân hàng Franklin National, New York vào năm 1951. Các khách hàng nộp đơn xin
cấp hạn mức tín dụng và được xem xét thông qua lịch sử tín dụng của họ. Sau đó, ngân
hàng phát hành thẻ cho khách hàng đủ tiêu chuẩn và họ có thể dùng các thẻ này để thực
hiện giao dịch tại các đại lý. Trong khi thực hiện giao dịch, các đại lý ghi lại thông tin
trên thẻ vào hoá đơn và nộp về cho ngân hàng; sau đó, ngân hàng ghi có vào tài khoản
của các đại lý sau khi trừ chiết khấu. Các chủ thẻ phải trả toàn bộ số dư nợ vào cuối
tháng.
Năm 1950, Diners Club thành lập. Thẻ Diners Club là loại thẻ du lịch và giải trí
do tổ chức thẻ tự phát hành tại Mỹ. Vào năm 1960, nó là thẻ trước tiên có mặt tại Nhật.
Vào năm 1993, Diners Club có 1,5 triệu thẻ trên thế giới với doanh số 7,9 USD.
Năm 1958, American Express thành lập. Thẻ American Express gọi tắt là Amex
do Tổ chức American Express phát hành. Hiện nay đây là tổ chức thẻ du lịch và giải trí
lớn nhất thế giới, tổ chức này tự phát hành trực tiếp và quản lý chủ thẻ, không cấp giấy
phép để trở thành thành viên cho các Công ty tài chính - Ngân hàng. Vào năm 1993 có
35,4 triệu thẻ và 3,6 triệu cơ sở chấp nhận thẻ thanh toán trên toàn thế giới với doanh
số 124 tỷ USD.
Trong những năm sau đó, ngày càng nhiều tổ chức tài chính bắt đầu chương
trình thẻ ngân hàng. Năm 1959, để cạnh tranh, chủ thẻ có thể duy trì số dư nợ trên tài
khoản và chỉ trả một phần số dư nợ, phần còn lại được tính phí tài chính.
Năm 1960, Bank of America giới thiệu sản phẩm thẻ ngân hàng riêng của mình
- The BankAmericard. Ban đầu chỉ tập trung một nhóm nhỏ các chủ thẻ và đại lý, sau
đó, Bank of America phát triển mạng lưới bằng cách mở rộng phạm vi hoạt động thông
giải trí và du lịch. Vào năm 1992 có 27,5 triệu thẻ, 2,9 triệu cơ sở chấp nhận thẻ và
160.000 máy ATM ở 139 nước với doanh thu 30,9 tỷ USD.
Hoàng Thị Diễm Thư - K38 QTKDTM
23
Khóa luận tốt nghiệp
Sau đó ngày càng nhiều tổ chức tài chính của các nước tham gia vào chương
trình thẻ ngân hàng.
• Các sản phẩm thẻ trên thế giới
Charge Card
Là loại thẻ không quy định trước hạn mức chi tiêu.Chủ thẻ phải thanh toán toàn
bộ số dư nợ khi nhận được Bảng thông báo giao dịch.
Thương hiệu: American Express, Diners Club.
Credit Card
Là loại thẻ quy định trước hạn mức tín dụng tuần hoàn. Số tiền thanh toán tối
thiểu được yêu cầu thanh toán vào trước ngày đáo hạn để giữ cho tài khoản thẻ hợp lệ.
Do đó, phí thanh toán trễ hạn sẽ được tính nếu số tiền thanh toán tối thiểu không được
thanh toán vào trước ngày đáo hạn.
Thương hiệu: VISA, MasterCard
Debit Card
Chủ thẻ sử dụng chính khoản tiền của mình có trong tài khoản thông qua thẻ. Số
tiền giao dịch được ghi nợ trực tiếp vào tài khoản của chủ thẻ cùng với việc chuyển số
tiền tương ứng vào tài khoản của đại lý.
Thương hiệu: VISA Electron, MasterCard Electronic, VISA Debit, MasterCard
Debit
Cash Card
Còn gọi là thẻ ATM (Automated Teller Machine), cho phép chủ thẻ rút tiền mặt
tại các máy rút tiền tự động.
Thương hiệu: CIRRUS, ATM.
1.2.2. Tình hình phát triển thẻ ở Việt Nam
Năm 1990, Vietcombank ký kết hợp đồng làm đại lý thanh toán thẻ VisaCard
trường thẻ tại Việt Nam trong tương lai. Hiện có 10 tổ chức trên toàn quốc có lượng
ATM nhiều nhất: Vietcombank đứng đầu với 890 máy; tiếp theo là BIDV: 682 máy;
Agribank: 621 máy; VietinBank: 492 máy; EAB: 595 máy; Sacombank: 178 máy;
Techcombank: 156 máy; VPBank: 118 máy; ACB: 102 máy; MB: 90 máy.Trong hơn
10 năm qua, dịch vụ thẻ đã và đang phát triển với tốc độ cao, từ việc thẻ ngân hàng
Hoàng Thị Diễm Thư - K38 QTKDTM
25