Một số giải pháp mở rộng dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Á Châu chi nhánh Huế - Pdf 11

PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lý do nghiên cứu đề tài
Ngày nay, khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin phát triển không
ngừng đã tạo nên những bước đột phá trên con đường phát triển các loại hình dịch vụ
ngân hàng trên thế giới. Đặc biệt, các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt
đang dần dần trở thành xu thế tất yếu mà các quốc gia cần hướng tới.
Với một nền kinh tế tăng trưởng ổn định 7-8 %/năm, dân số khoảng hơn 83 triệu
người, cơ cấu dân cư tương đối trẻ, Việt Nam đang nổi lên như một thị trường rất
giàu tiềm năng cho những sản phẩm thẻ thanh toán mới. Theo thống kê sơ bộ, thị
trường thẻ Việt Nam đã có những bước phát triển nhất định, nhưng với số lượng
487.000 thẻ đã được phát hành thì quả là con số khiêm tốn. Nếu so sánh với các nước
trong khu vực là Philipines (trên 10 triệu thẻ), Thái Lan (trên 1,6 triệu thẻ), hay ở
những nước phát triển tại châu Á như: Singapore người ta ước tính trung bình mỗi
người dân sử dụng đến 3 thẻ tín dụng, hay ở Nhật Bản có 234 triệu thẻ đã phát hành
cho 127 triệu dân. Do đó, sự bùng nổ nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại
Việt Nam nói chung và trong lĩnh vực thẻ ngân hàng nói riêng, việc các nhà cung cấp
dịch vụ có thể cung ứng những sản phẩm đa dạng nhắm đến từng đối tượng khác
nhau có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Việc mở rộng dịch vụ thanh toán thẻ mang
lại lợi ích không chỉ cho ngân hàng, khách hàng mà còn đóng góp vào sự phát triển
kinh tế của đất nước.
Ngân hàng TMCP Á Châu là ngân hàng đi tiên phong trong việc trở thành
thành viên chính thức của các tổ chức thẻ quốc tế Mastercard và Visa. Qua đó cho ra
đời nhiều loại thẻ quốc tế và nội địa, với nhiều tiện ích như rút tiền mặt, thanh toán
hàng hoá dịch vụ tại các đơn vị kinh doanh chấp nhận thẻ...Bên cạnh đó là dịch vụ
phi tài chính bổ sung như in sao kê các khoản giao dịch, truy vấn thông tin tài
khoản...Sự xuất hiện của các loại thẻ này phần nào đóng góp cho thị trường thẻ ngày
càng phong phú và đa dạng hơn.
Riêng đối với Ngân hàng TMCP Á Châu chi nhánh Huế ra đời được gần 3
năm nhưng đã tạo được vị thế tương đối trên địa bàn. Bên cạnh thế mạnh về hoạt
động cho vay, huy động vốn, chi nhánh cũng phát triển thêm các sản phẩm thẻ thanh

Chọn mẫu điều tra: chọn ngẫu nhiên không lặp lại với số mẫu hợp lệ là
80. Bảng câu hỏi được lập ra gồm 15 câu, được chia thành 2 loại câu hỏi: câu hỏi
đóng và câu hỏi mở.
Câu hỏi đóng: là các câu hỏi có các câu trả lời cho sẵn và khách hàng
sẽ chọn một hay nhiều câu trả lời tuỳ vào yêu cầu của câu hỏi đó. Có 2 dạng: Dạng
thứ nhất là dạng câu hỏi nhằm xác định khách hàng thuộc nhóm nào dựa trên các biến
phân chia. Dạng thứ hai là dạng câu hỏi để đo lường sự hài lòng của khách hàng về
chất lượng dịch vụ thẻ, được xây dựng dựa trên thang điểm Likert.
Câu hỏi mở: là các câu hỏi không có câu trả lời sẵn, khách hàng dựa
vào câu hỏi để tự trả lời theo quan điểm của bản thân.
• Đối với số liệu thứ cấp: chủ yếu thu thập qua phòng Kinh doanh của
Ngân hàng TMCP Á Châu chi nhánh Huế.
 Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm
SPSS 13.0 for Windows.
1.4. Phạm vi nghiên cứu
 Về thời gian
Nguồn số liệu sơ cấp: thu thập qua việc tiến hành điều tra khách hàng
bằng bảng hỏi vào năm 2008.
Nguồn số liệu thứ cấp: thu thập các số liệu thô từ phía Ngân hàng TMCP
Á Châu chi nhánh Huế giai đoạn 2006-2007. Các số liệu cần thu thập bao gồm:
Tình hình lao động của Ngân hàng TMCP Á Châu chi nhánh Huế.
Tình hình tài sản và nguồn vốn của Ngân hàng TMCP Á Châu chi nhánh Huế.
Kết quả kinh doanh của Ngân hàng TMCP Á Châu chi nhánh Huế.
Thị phần thẻ của Ngân hàng TMCP Á Châu chi nhánh Huế
Ngoài ra còn thu thập số liệu từ Vietcombank Huế: thị phần phát hành
thẻ của các ngân hàng tại Huế năm 2007.
 Về không gian: tại Ngân hàng TMCP Á Châu chi nhánh Huế.
Trong quá trình thực hiện khoá luận, với lượng kiến thức, trình độ hiểu biết
cũng như kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những sai sót.
Rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn để khoá luận được hoàn

- NHTM giúp các doanh nghiệp có vốn đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh,
nâng cao hiệu quả kinh doanh
- NHTM góp phần phân bổ hợp lý các nguồn lực giữa các vùng trong quốc
gia, tạo điều kiện phát triển cân đối nền kinh tế
- NHTM tạo ra môi trường cho việc thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân
hàng Trung ương.
- NHTM tạo cầu nối phát triển kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia.
1.1.2. Những lý luận chung về khách hàng
1.1.2.1. Khái niệm về khách hàng của ngân hàng
"Khách hàng của ngân hàng là những cá nhân và tổ chức có nhu cầu về sản
phẩm tài chính. Họ sẵn lòng và có khả năng tham gia trao đổi với ngân hàng để thoả
mãn nhu cầu của mình". Nguyễn Thị Minh Hiền (2002), Marketing Ngân hàng, Nhà
Xuất bản Thống kê.
Khách hàng cá nhân
"Khách hàng cá nhân là tập hợp các khách hàng giao dịch là cá nhân, hộ gia
đình (thị trường bán lẻ)". Nguyễn Thị Minh Hiền (2002), Marketing Ngân hàng, Nhà
Xuất bản Thống kê.
Khách hàng công ty
"Tập hợp các khách hàng là các công ty hay doanh nghiệp". Nguyễn Thị Minh
Hiền (2002), Marketing Ngân hàng, Nhà Xuất bản Thống kê.
1.1.2.2. Nhu cầu khách hàng
Nhu cầu của con người là trạng thái cảm thấy thiếu thốn liên quan đến những
đòi hỏi của tự nhiên hay đời sống xã hội. Nhu cầu của con người rất đa dạng và phức
tạp. Chúng bao gồm các nhu cầu thể xác căn bản ( thực phẩm, quần áo...), các nhu
cầu xã hội (thể lực, tình cảm...) và những nhu cầu thuộc về cá nhân (kiến thức, sự tự
hiểu biện...). Khi một nhu cầu không được thoả mãn, con người sẽ cảm thấy không
hài lòng. Khi đó, họ sẽ bắt tay vào tìm kiếm một đối tượng nào đó để thoả mãn hoặc
cố gắng tự kiềm chế sự thèm muốn ấy. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu càng tăng
và do đó thoả mãn nhu cầu chính là mục đích cơ bản của nền sản xuất. Theo Abram
Maslow, nhu cầu được chia làm 5 bậc: Nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã

Sự trung thành càng cao thì cơ sở khách hàng càng vững chắc.
1.1.3. Những lý luận chung về chất lượng dịch vụ ngân hàng
1.1.3.1. Dịch vụ
"Dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia
và chủ yếu là không sờ thấy được và không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì đó.
Việc thực hiện dịch vụ có thể có hoặc có thể không liên quan đến hàng hoá dưới dạng
vật chất của nó". Philip Kotler (1995), Marketing căn bản - Nguyên lý và tiếp thị,
Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh.
1.1.3.2. Chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ là mức độ hài lòng của khách hàng trong quá trình cảm
nhận tiêu dùng dịch vụ, là dịch vụ tổng hợp của doanh nghiệp mang lại chuỗi lợi ích
và thoả mãn đầy đủ nhất giá trị mong đợi của khách hàng trong hoạt động sản xuất
cung ứng và trong phân phối dịch vụ ở đầu ra". Lưu Văn Nghiêm (2001), Marketing
trong kinh doanh dịch vụ, Nhà xuất bản Thống kê.
1.1.3.3. Chất lượng dịch vụ ngân hàng
"Chất lượng dịch vụ ngân hàng là năng lực của ngân hàng, được ngân hàng
cung ứng và thể hiện qua mức độ thoả mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng
mục tiêu". Viện khoa học Ngân hàng (1999), Marketing Ngân hàng, Nhà xuất bản
thống kê.
Chất lượng dịch vụ do khách hàng cảm nhận được chứ không phải do ngân
hàng quyết định. Chất lượng dịch vụ ngân hàng thể hiện sự phù hợp với nhu cầu và
mong muốn của khách hàng mục tiêu.
1.1.3.4. Các tiêu chuẩn cảm nhận chất lượng dịch vụ ngân hàng
Theo tập thể tác giả Marketing Ngân hàng, Viện khoa học Ngân hàng thì chất
lượng dịch vụ của ngân hàng được cảm nhận qua các tiêu chuẩn:
Các yếu tố hữu hình: Phương tiện vật chất, trang thiết bị, con người phục vụ,
giấy tờ tài liệu, bầu không khí giao dịch...
Sẵn sàng đáp ứng: sẵn sàng hỗ trợ và đảm bảo cung ứng dịch vụ mau lẹ.
Sự đảm bảo: Trình độ chuyên môn của nhân sự ngân hàng, tính lịch sự, dễ
mến, sự tín nhiệm với khách hàng, tính an toàn.

Thứ tư, cải tiến chất lượng dịch vụ đòi hỏi phải có bước đột phá bằng những
cải tiến mới hơn, sáng tạo hơn, đưa lại sự nâng cấp vượt bậc về chất lượng.
Thứ năm, chất lượng không đòi hỏi thêm chi phí, thậm chí giảm được những
chi phí không chất lượng.
1.1.4. Những vấn đề chung về thanh toán không dùng tiền mặt
1.1.4.1. Khái niệm về thanh toán không dùng tiền mặt
TTKDTM là thanh toán qua ngân hàng, là tổng hợp các mối quan hệ chi trả
tiền tệ được thực hiện bằng cách trích chuyển từ tài khoản của người này sang tài
khoản của người khác tại ngân hàng với sự kiểm soát của ngân hàng mà không cần
dùng tiền mặt.
1.1.4.2. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt
Hiện nay, hoạt động thanh toán đóng vai trò rất quan trọng cho sự phát triển
của nhiều ngân hàng và của xã hội nói chung. Đặc biệt trong cơ chế thị trường,
TTKDTM mang lại một hiệu quả nhất định cho mọi thành phần tham gia, bao gồm
khách hàng, ngân hàng, Nhà nước và nền kinh tế nói chung.
Về phía khách hàng
TTKDTM là hình thức thanh toán mang lại sự an toàn, thuận lợi trong việc
kiểm soát tài chính của họ. Họ không cần phải mang theo quá nhiều tiền mặt khi
thanh toán bởi vì sẽ gặp rất nhiều rủi ro như tai nạn, bị cướp, thiếu hụt trên đường
vận chuyển....Do đó, ngân hàng với chức năng trung gian thanh toán sẽ mang lại sự
an toàn cho khách hàng.
Sự thuận tiện thể hiện qua các hình thức thanh toán như thẻ ngân hàng, thanh
toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu...Điều này giúp cá nhân và doanh nghiệp
giải quyết nhanh chóng, kịp thời việc thanh toán cho đối tác và ngược lại. Khi mở tài
khoản để tiến hành việc thanh toán qua ngân hàng, chủ tài khoản có thể có được bảng
sao kê về các luồng chi tiêu tài chính đặc biệt hữu ích trong các doanh nghiệp.
Về phía ngân hàng
TTKDTM là công cụ giúp lưu thông tiền tệ và mang lại thu nhập cho ngân
hàng khi kinh doanh dịch vụ này. Để thực hiện việc thanh toán qua ngân hàng, các cá
nhân, tổ chức phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán và gửi một số tiền nhất định cho

Mở tài khoản tiền gửi ở các ngân hàng khác để thanh toán
Uỷ nhiệm thu chi hộ
 Các phương thức thanh toán của các đơn vị cá nhân
Thống đốc NHNN Việt Nam đã ra quyết định số 226/QĐ-NHNN về
TTKDTM, bao gồm: Séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thư tín dụng và thẻ thanh toán.
1.1.5. Những vấn đề cơ bản về thẻ thanh toán
1.1.5.1. Một số khái niệm về thẻ thanh toán
Khái niệm 1: Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền
mặt mà người chủ thẻ có thẻ sử dụng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý, các
máy ATM hoặc thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ.
Đối với ngân hàng việc phát hành và thanh toán thẻ thanh toán là hoạt động
bao gồm các nghiệp vụ cho vay, huy động vốn, thanh toán trong và ngoài nước.
Khái niệm 2: Thẻ thanh toán là một thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi
ngân hàng, các định chế tài chính hay các công ty.
1.1.5.2. Mô tả thẻ về mặt kỹ thuật
Hầu hết các loại thẻ thanh toán làm bằng nhựa ABS hay PC cấu tạo với 3 lớp
được ép với kỹ thuật cao. Thẻ có kích thước:84mm x 54mm x 0,76mm có góc tròn
gồm 2 mặt:
 Mặt trước của thẻ:
Tên và biểu tượng của Ngân hàng phát hành thẻ.
Số thẻ, tên chủ thẻ được in nổi.
Ngày hiệu lực của thẻ được in nổi.
Biểu tượng của Tổ chức thẻ.
Các đặc điểm để tăng tính an toàn của thẻ, đề phòng giả mạo như: ký
hiệu riêng của từng Tổ chức.
Ngoài ra còn có thể có các yếu tố khác như chữ ký, hình của chủ thẻ,
hình nổi không gian 3 chiều (hay chíp đối với thẻ điện tử).
 Mặt sau của thẻ:
Dải băng từ chứa các thông tin đã được mã hoá theo một chuẩn thống
nhất như: số thẻ, ngày hết hạn, các yếu tố kiểm tra an toàn khác.

trong một quốc gia mà còn có thể lưu hành trên toàn cầu ( như thẻ Visa, Master...).
Thẻ do các tổ chức phi Ngân hàng phát hành: là loại thẻ du lịch và giải trí của
các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành như Diners Club, Amex... và cũng lưu hành
trên toàn cầu.
 Theo tính chất thanh toán thẻ
Thẻ tín dụng (Credit Card): Đây là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo
đó người chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng qui định không phải trả
lãi (nếu chủ thẻ hoàn trả số tiền đã sử dụng đúng kỳ hạn) để mua sắm hàng hoá, dịch
vụ tại những cơ sở kinh doanh, cửa hàng, khách sạn... chấp nhận loại thẻ này.
Thẻ ghi nợ (Debit Card): là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài
khoản tiền gởi của chủ thẻ. Loại thẻ này khi mua hàng hoá, dịch vụ, giá trị những
giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ và đồng thời ghi có
ngay (chuyển ngân ngay) vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn đó. Thẻ ghi nợ có
hai loại cơ bản:
* Thẻ on-line là thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ
ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ.
* Thẻ off-line là thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch sẽ được khấu
trừ vào tài khoản chủ thẻ sau đó vài ngày.
Thẻ rút tiền mặt (Cash Card): là loại thẻ được dung để rút tiền mặt tại các
máy rút tiền tự động (ATM) hoặc ở Ngân hàng. Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng
để rút tiền, số tiền rút ra mỗi lần sẽ được trừ dần vào số tiền ký quỹ, gồm hai loại:
* Loại 1: chỉ dùng để rút tiền mặt tại những máy rút tiền tự động của
Ngân hàng phát hành.
* Loại 2: được sử dụng không chỉ để rút tiền ở Ngân hàng phát hành
mà còn được sử dụng để rút tiền ở các Ngân hàng cùng tham gia tổ hợp thanh toán
với Ngân hàng phát thẻ.
 Theo hạn mức tín dụng
Thẻ vàng (Gold Card): là loại thẻ được phát hành cho những đối tượng có uy
tín, khả năng tài chính lành mạnh, nhu cầu chi tiêu lớn. Loại thẻ này có thể có những
điểm khác nhau tuỳ thuộc vào tập quán, trình độ phát triển của mỗi vùng, nhưng

Chủ thẻ (card holder): Chủ thẻ là người có tên trên thẻ, là công ty, xí nghiệp
tổ chức hay cá nhân có nhu cầu sử dụng thẻ thanh toán và được ngân hàng phát hành
cho phép sử dụng thẻ, gồm có chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ. Chủ thẻ chính là người
đứng tên xin được cấp thẻ và được ngân hàng phát hành thẻ cấp thẻ để sử dụng. Chủ
thẻ phụ là người được cấp thẻ theo đề nghị của chủ thẻ chính.
Số PIN (Personal Identification Number): là mã số cá nhân riêng của chủ thẻ
để thực hiện giao dịch rút tiền tại máy ATM, mã số này do ngân hàng phát hành thẻ
cung cấp cho chủ thẻ khi phát hành và chủ thẻ phải giữ bí mật cho riêng mình.
Tài khoản tiền gửi thanh toán: là tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ mở
tại ngân hàng phát hành thẻ để được phát hành thẻ ATM và phục vụ cho các giao
dịch của chủ thẻ.
Tài khoản thẻ: là tài khoản của chủ thẻ do chính ngân hàng phát hành lập ra để
quản lý các giao dịch, phí, lãi và các phát sinh liên quan đến việc sử dụng thẻ, và chủ
thẻ phụ sử dụng cùng một tài khoản thẻ với chủ thẻ chính.
BIN (Bank Identification Number): là mã số chỉ một loại sản phẩm của ngân
hàng phát hành thẻ. Trong Hiệp hội thẻ, mỗi ngân hàng thành viên có một hay nhiều
mã số riêng, giúp thuận lợi trong việc thanh toán hoặc truy suất thông tin.
Hạn mức tín dụng (Credit line): là giá trị tối đa mà chủ thẻ được ngân hàng
phát hành cho phép sử dụng trong thời gian thẻ còn hiệu lực.
Mức trần hay trị số tối đa thanh toán (Floor limit): Hiệp hội thẻ quốc tế đã qui
định mức giới hạn cho mỗi giao dịch được thực hiện mà không cần sự cấp phép của
ngân hàng phát hành, khi vượt mức qui định thì cơ sở chấp nhận phải xin cấp phép
giao dịch đó, mức trần này áp dụng cho các cơ sở chấp nhận thẻ dùng máy chà hoá
đơn.
Thời hạn hiệu lực: là thời hạn chủ thẻ được phép sử dụng thẻ. Thời hạn hiệu
lực được in trên thẻ (không bao gồm những thẻ không giới hạn về thời hạn hiệu lực).
 Một số thiết bị sử dụng
Máy chà hoá đơn (Máy cà thẻ) (Imprinter): máy này được đặt tại các đơn vị
chấp nhận thẻ dùng để ghi lại những thông tin được in nổi ở mặt trước của thẻ (số
thẻ, tên chủ thẻ, ngày hiệu lực...) cùng với chữ ký của chủ thẻ, từ đó hoá đơn này

(4)
SƠ ĐỒ 1.1 : QUY TRÌNH THANH TOÁN BẰNG THẺ THANH TOÁN
(1a) Các đơn vị cá nhân có nhu cầu đến ngân hàng phát hành xin được đang ký
phát hành thẻ.
(1b) Ngân hàng phát hành thẻ phát hành thẻ và cung cấp thẻ cho khách hàng.
(2) Khách hàng sử dụng thẻ mua hàng hóa, dich vụ và giao thẻ cho ĐVCNT.
(3) Khách hàng rút tiền tại các ATM hoặc tại các ngân hàng đại lý.
(4) Trong vòng 10 ngày ĐVCNT giao biên lai cho ngân hàng đại lý để đòi tiền.
(5) Trong vòng 1 ngày ngân hàng đại lý phải thanh toán tiền hàng cho ĐVCNT.
(6) Ngân hàng đại lý chuyển biên lai để thanh toán, đồng thời lập bảng kê cho
ngân hàng phát hành.
(7) Ngân hàng phát hành hoàn lại số tiền mà ngân hàng đại lý đã thanh toán.
(8) Khách hàng nếu không muốn sử dụng nữa hoặc đã sử dụng hết số tiền trên tài
khoản thẻ thì đến ngân hàng nạp thêm tiền hoặc tất toán tài khoản.
1.1.5.7. Tiện ích của việc sử dụng thẻ thanh toán
 Đối với nền kinh tế xã hội
Giúp NHNN điều tiết lượng tiền trong lưu thông: Việc thanh toán bằng thẻ sẽ
giúp Nhà nước kiểm soát được hoạt động thanh toán trong dân cư và nền kinh tế. Đó
là tiền đề cho việc tính toán lượng tiền cung ứng trong lưu thông.Bên cạnh đó hạn
chế được các hoạt động của nền kinh tế ngầm, giảm thiểu tiêu cực, tăng cường tính
chủ đạo của Nhà nước trong việc quản lý vĩ mô nền kinh tế.
Kiểm soát lạm phát: Hoạt động thanh toán có vai trò quan trọng trong quá
trình chu chuyển vốn trong nền kinh tế, tốc độ thanh toán được đẩy nhanh hơn, an
toàn hơn, chính xác hơn và đảm bảo làm tăng vòng quay của vốn giảm lượng tiền cần
thiết trong lưu thông, từ đó tiết kiệm chi phí cho xã hội, chi phí phát hành tiền …
Là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của một quốc gia: Khi thanh toán qua hệ
thống ngân hàng phát triển cũng đồng nghĩa với việc các tiện ích thanh toán được xã
hội thừa nhận, các yếu tố công nghệ thông tin được áp dụng vào ngân hàng một cách
có hiệu quả, làm giảm bớt khoảng cách về trình độ giữa các nước, giúp nền kinh tế
hội nhập nhanh vào khu vực và thế giới.

móc thiết bị phục vụ cho kiểm ngân …Đặc biệt là giảm rủi ro do đếm tiền sai, không
phát hiện được tiền giả.
Được hưởng hoa hồng trong thanh toán: Ngân hàng là tổ chức trung gian
thanh toán giữa đơn vị chấp nhận thẻ và tổ chức, cá nhân sử dụng thẻ, thực hiện
thanh toán thẻ theo hợp đồng, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho đơn vị chấp nhận thẻ.
1.1.5.8. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ thẻ
Thứ nhất là trình độ phát triển của một nền kinh tế
Ở những nước phát triển, dịch vụ thẻ đã trở nên quá quen thuộc trong đời sống
xã hội. Khi nền kinh tế phát triển cao thì dịch vụ thẻ phát triển tương ứng. Nói cách
khác trình độ của một nền kinh tế quyết định nhu cầu của cá nhân tổ chức đối với các
hình thức TTKDTM nói chung và dịch vụ thẻ nói riêng.Vì vậy dịch vụ thẻ trở nên
quen thuộc, phổ biến ở những đô thị lớn. Khi thu nhập của người dân tăng, cuộc sống
sung túc thì nhu cầu về mua sắm, tiêu dùng hàng hoá dịch vụ cũng tăng, đây là cơ hội
để dịch vụ thẻ phát triển.
Thứ hai là chính sách pháp luật
Ở Việt Nam, Chính phủ đã và đang ban hành khá nhiều thông tư, nghị định,
chỉ thị... liên quan đến hoạt động TTKDTM, trong đó có dịch vụ thẻ ngân hàng. Điều
đó cho thấy nước ta đang khuyến khích người dân tích cực chuyển sang sử dụng loại
hình thanh toán hiện đại này. Sang năm 2009, mọi cán bộ công nhân viên chức Nhà
nước đều được trả lương qua thẻ. Một khi văn bản mới này có hiệu lực thì Nhà nước
cần đưa ra những chính sách, quy định liên quan đến thẻ thanh toán nhằm bảo vệ
quyền lợi và hạn chế những rủi ro cho những đối tượng tham gia.
Thứ ba là trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật
Trong xu hướng toàn cầu hoá hiện nay cùng với sự phát triển của công nghệ
kỹ thuật hiện đại, dịch vụ thẻ ra đời giúp thế giới xích lại gần nhau hơn. Chính nhờ
cuộc cách mạng trong lĩnh vực khoa học công nghệ đã làm thay đổi nhanh chóng hệ
thống thanh toán qua ngân hàng. Hiện nay các ngân hàng đang thành lập một số liên
minh trong và ngoài nước nhằm tạo nên các loại thẻ thanh toán với nhiều tiện ích cho
khách hàng. Nó cho phép rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán hàng hoá dịch vụ ...
tại các máy ATM, các đại lý chấp nhận thẻ ở mọi khu vực địa lý, rút ngắn khoảng

cho khách hàng (mua hàng trước, trả tiền sau). Nhiều đại lý nhỏ không đủ khả năng
cung cấp tín dụng cho các khách hàng của họ và điều này tạo điều kiện cho các tổ
chức tài chính vào cuộc.
Năm 1946, dạng đầu tiên của thẻ ngân hàng là Charg - It của ngân hàng John
Biggins xuất hiện tại Mỹ, đó là hệ thống tín dụng cho phép khách hàng thực hiện giao
dịch nội địa bằng các phiếu có giá trị do ngân hàng phát hành. Các đại lý nộp các
phiếu giao dịch này cho ngân hàng Biggins; ngân hàng sẽ thanh toán giao dịch đó cho
các đại lý và thu tiền lại từ khách hàng.
Hệ thống này là tiền đề cho việc phát hành thẻ tín dụng ngân hàng đầu tiên
của Ngân hàng Franklin National, New York vào năm 1951. Các khách hàng nộp đơn
xin cấp hạn mức tín dụng và được xem xét thông qua lịch sử tín dụng của họ. Sau đó,
ngân hàng phát hành thẻ cho khách hàng đủ tiêu chuẩn và họ có thể dùng các thẻ này
để thực hiện giao dịch tại các đại lý. Trong khi thực hiện giao dịch, các đại lý ghi lại
thông tin trên thẻ vào hoá đơn và nộp về cho ngân hàng; sau đó, ngân hàng ghi có vào
tài khoản của các đại lý sau khi trừ chiết khấu. Các chủ thẻ phải trả toàn bộ số dư nợ
vào cuối tháng.
Năm 1950, Diners Club thành lập. Thẻ Diners Club là loại thẻ du lịch và giải
trí do tổ chức thẻ tự phát hành tại Mỹ. Vào năm 1960, nó là thẻ trước tiên có mặt tại
Nhật. Vào năm 1993, Diners Club có 1,5 triệu thẻ trên thế giới với doanh số 7,9
USD.
Năm 1958, American Express thành lập. Thẻ American Express gọi tắt là
Amex do Tổ chức American Express phát hành. Hiện nay đây là tổ chức thẻ du lịch
và giải trí lớn nhất thế giới, tổ chức này tự phát hành trực tiếp và quản lý chủ thẻ,
không cấp giấy phép để trở thành thành viên cho các Công ty tài chính - Ngân hàng.
Vào năm 1993 có 35,4 triệu thẻ và 3,6 triệu cơ sở chấp nhận thẻ thanh toán trên toàn
thế giới với doanh số 124 tỷ USD.
Trong những năm sau đó, ngày càng nhiều tổ chức tài chính bắt đầu chương
trình thẻ ngân hàng. Năm 1959, để cạnh tranh, chủ thẻ có thể duy trì số dư nợ trên tài
khoản và chỉ trả một phần số dư nợ, phần còn lại được tính phí tài chính.
Năm 1960, Bank of America giới thiệu sản phẩm thẻ ngân hàng riêng của

trường giải trí và du lịch. Vào năm 1992 có 27,5 triệu thẻ, 2,9 triệu cơ sở chấp nhận
thẻ và 160.000 máy ATM ở 139 nước với doanh thu 30,9 tỷ USD.
Sau đó ngày càng nhiều tổ chức tài chính của các nước tham gia vào chương
trình thẻ ngân hàng.
• Các sản phẩm thẻ trên thế giới
 Charge Card
Là loại thẻ không quy định trước hạn mức chi tiêu.Chủ thẻ phải thanh toán
toàn bộ số dư nợ khi nhận được Bảng thông báo giao dịch.
Thương hiệu: American Express, Diners Club.
 Credit Card
Là loại thẻ quy định trước hạn mức tín dụng tuần hoàn. Số tiền thanh toán tối
thiểu được yêu cầu thanh toán vào trước ngày đáo hạn để giữ cho tài khoản thẻ hợp
lệ. Do đó, phí thanh toán trễ hạn sẽ được tính nếu số tiền thanh toán tối thiểu không
được thanh toán vào trước ngày đáo hạn.
Thương hiệu: VISA, MasterCard
 Debit Card
Chủ thẻ sử dụng chính khoản tiền của mình có trong tài khoản thông qua thẻ.
Số tiền giao dịch được ghi nợ trực tiếp vào tài khoản của chủ thẻ cùng với việc
chuyển số tiền tương ứng vào tài khoản của đại lý.
Thương hiệu: VISA Electron, MasterCard Electronic, VISA Debit,
MasterCard Debit
 Cash Card
Còn gọi là thẻ ATM (Automated Teller Machine), cho phép chủ thẻ rút tiền
mặt tại các máy rút tiền tự động.
Thương hiệu: CIRRUS, ATM.
1.2.2. Tình hình phát triển thẻ ở Việt Nam
Năm 1990, Vietcombank ký kết hợp đồng làm đại lý thanh toán thẻ VisaCard
với Ngân hàng BFCE của Singapore.
Năm 1991, Vietcombank tiếp tục ký hợp đồng làm đại lý thanh toán loại thẻ
Mastercard.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status