Luận văn tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là : Hoàng Thị Nhuần
Lớp : Kế hoạch 47A
Khoa : Kế hoạch và phát triển
Tôi xin cam đoan, luận văn tốt nghiệp “Hoàn thiện công tác kế hoạch
hoá sản xuất tại công ty cổ phần văn phòng phẩm Hồng Hà” là do tôi thực
hiện dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Thị Hoa - Giảng viên khoa kế
hoạch và phát triển Trường Đại học Kinh tế quốc dân cùng với sự giúp đỡ của
cán bộ nhân viên khối kế hoạch công ty cổ phần văn phòng phẩm Hồng Hà.
Trong quá trình thực hiện, tôi đã tiến hành tham khảo tài liệu tại công ty
CP VPP Hồng Hà, tài liệu tại thư viện Đại học Kinh tế quốc dân vì thế tôi
đảm bảo các tài liệu tham khảo là chính xác.
Những luận điểm và ý kiến được đưa ra trong luận văn tốt nghiệp này
dựa trên sự phân tích có hệ thống, logic theo quan điểm của cá nhân tôi, là kết
quả của sự nghiên cứu nghiêm túc trong suốt quá trình thực tập – không sao
chép từ bất kỳ tài liệu nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung bài viết của mình!
Hà Nội, Ngày 25 tháng 05 năm 2009
Sinh viên
Hoàng Thị Nhuần
Sinh viên: Hoàng Thị Nhuần Lớp: Kế hoạch 47A
Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Sinh viên: Hoàng Thị Nhuần Lớp: Kế hoạch 47A
Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQ : Bình quân
phát triển mạnh mẽ của kinh tế trong nước, các doanh nghiệp tham gia sản
xuất văn phòng phẩm ngày càng nhiều. Thị phần của Hồng Hà trên thị trường
ngày bị thu hẹp dần. Tại sao một công ty có lịch sử phát triển lâu đời, có
thương hiệu mạnh như Hồng Hà lại có thể dễ dàng bị các doanh nghiệp “ít tên
tuổi” hơn lấn át là một câu hỏi cần được giải đáp. Có rất nhiều nguyên nhân
cả khách quan và chủ quan giải thích cho thực tế đáng buồn đó. Trong thời
gian thực tập tại Công ty, với sự nhiệt tình giúp đỡ của CBNV trong khối kế
hoạch, cộng với sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Hoa, tôi đã nhận thấy
rằng một trong những nguyên nhân của thực trạng đó là do công tác kế hoạch
hóa sản xuất của công ty vẫn còn những hạn chế cần được cải thiện. Chính vì
vậy với việc lựa chọn đề tài nghiên cứu là “Hoàn thiện công tác kế hoạch hóa
sản xuất tại công ty cổ phần văn phòng phẩm Hồng Hà” làm đề tài nghiên cứu
cho luận văn tốt nghiệp của mình, tôi hy vọng rằng có thể đưa ra những đóng
góp hữu ích đối với công ty.
Mặc dù câu chuyện về việc hoàn thiện công tác kế hoạch hóa sản xuất
ở các doanh nghiệp sản xuất đã được đề cập trong nhiều đề tài nghiên cứu.
Sinh viên: Hoàng Thị Nhuần Lớp: Kế hoạch 47A
1
Luận văn tốt nghiệp
Tuy nhiên, với mỗi doanh nghiệp thì công tác kế hoạch hóa sản xuất lại có
những vấn đề bất cập khác nhau cần được đổi mới và hoàn thiện.
Kết cấu của luận văn này gồm 3 phần chính được chia thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về kế hoạch hóa sản xuất trong doanh nghiệp
Mục đích của chương này là cung cấp cho người đọc một khung lý thuyết
cơ bản chung về kế hoạch hóa và kế hoạch hóa sản xuất trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác kế hoạch hóa sản xuất của công ty
cổ phần văn phòng phẩm Hồng Hà
Chương này sự mô tả lại toàn bộ công tác kế hoạch hóa sản xuất của
công ty mà tôi đã thu thập được trong quá trình thực tập tại khối kế hoạch. Từ
đó rút ra những ưu điểm và nhược điểm bằng việc so sánh thực tế với lý
thống nhất”
1
Theo cách hiểu trên thì kế hoạch hóa được thực hiện ở nhiều quy mô và
phạm vi khác nhau như: KHH kinh tế quốc dân, KHH theo vùng, địa phương,
KHH ngành, lĩnh vực, KHH doanh nghiệp. Như vậy có thể thấy KHH doanh
nghiệp là một bộ phận của hệ thống kế hoạch hóa
b.KHH doanh nghiệp là gì?
Theo định nghĩa trên thì “KHH hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp (gọi tắt là KHH doanh nghiệp) là phương thức quản lý doanh
nghiệp theo mục tiêu, nó bao gồm toàn bộ các hành vi can thiệp một cách có
chủ định của các nhà lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp vào các lĩnh vực sản
xuất kinh doanh của đơn vị nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra”
2
. Hay
nói cách khác “KHH doanh nghiệp là một quy trình ra quyết định cho phép
xây dựng một hình ảnh mong muốn về trạng thái tương lai của doanh nghiệp
1
(Từ điển bách khoa Việt Nam – NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội 2002, tr 469)
2
(Giáo trình “Kế hoạch kinh doanh”, ThS Bùi Đức Tuân, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội 2005, tr 10)
Sinh viên: Hoàng Thị Nhuần Lớp: Kế hoạch 47A
3
Luận văn tốt nghiệp
và quá trình tổ chức triển khai thực hiện mong muốn đó”. Như vậy KHH
doanh nghiệp là thể hiện kỹ năng tiên đoán mục tiêu phát triển và tổ chức quá
trình thực hiện mục tiêu đặt ra. Công tác này bao gồm các hoạt động:
- Lập kế hoạch: Là khâu giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong công tác
KHH doanh nghiệp, nó xác định các mục tiêu chỉ tiêu kế hoạch và đề xuất các
giải pháp chính sách áp dụng. Kết quả của việc soạn lập kế hoạch là một bản
Đứng trên mỗi góc độ khác nhau, hệ thống kế hoạch của doanh nghiệp
được phân chia thành những bộ phận khác nhau
Theo góc độ thời gian:
Đây là việc phân đoạn kế hoạch theo thời gian cần thiết để thực hiện
các chỉ tiêu đặt ra, theo góc độ này, kế hoạch doanh nghiệp gồm 3 bộ phận
cấu thành:
-Kế hoạch dài hạn: Kế hoạch dài hạn là kế hoạch bao trùm lên khoảng
thời gian khoảng 10 năm, quá trình soạn thảo kế hoạch này được đặc trưng
bởi môi trường liên quan được hạn chế bởi thị trường mà doanh nghiệp có
mặt; Dự báo trên cơ sở ngoại suy từ quá khứ; Chủ yếu nhấn mạnh các rang
buộc về tài chính; Sử dụng rộng rãi các phương pháp kinh tế lượng để dự báo
-Kế hoạch trung hạn: Là kế hoạch cụ thể hóa những định hướng của kế
hoạch dài hoạn ra các khoảng thời gian ngắn hơn thường là 3 hoặc 5 năm
-Kế hoạch ngắn hạn: Là kế hoạch hàng năm và các kế hoạch khác như
kế hoạch tiến độ; triển khai kế hoạch năm như kế hoạch tháng, quý, tuần,…
Các kế hoạch ngắn hạn bao gồm các phương pháp cụ thể sử dụng nguồn lực
của các doanh nghiệp cần thiết để đạt được mục tiêu trong kế hoạch trung, dài
hạn
Theo góc độ nội dung:
Theo góc độ này thì kế hoạch được chia thành kế hoạch chiến lược và
kế hoạch tác nghiệp.
-Kế hoạch chiến lược: Là kế hoạch ở cấp độ toàn bộ doanh nghiệp,
Sinh viên: Hoàng Thị Nhuần Lớp: Kế hoạch 47A
5
Luận văn tốt nghiệp
thiết kế nên những mục tiêu chung của doanh nghiệp và vị trí của công ty
trong môi trường. Kế hoạch chiến lược áp dụng trong các doanh nghiệp là
định hướng lớn cho phép doanh nghiệp thay đổi, cải thiện, củng cố vị thế
cạnh tranh của mình và những phương pháp cơ bản để đạt được mục tiêu đó.
Soạn lập kế hoạch chiến lược phải xuất phát từ khả năng thực tế của doanh
các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân, cụ thể là:
- Hạn chế tính năng động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của các doanh
nghiệp trong việc thích nghi với những điều kiện thị trường.
- Nền kinh tế bị mất động lực phát triển, các doanh nghiệp không có
khả năng cạnh tranh, nhất là trong logic của kinh tế cầu.
- Hạn chế tính năng động về công nghệ, áp dụng kỹ thuật mới vì việc
cho ra đời các sản phẩm mới không được gắn chặt với cơ chế khuyến khích.
- Hiệu quả kinh tế rất thấp do vừa không có những chỉ số về chi phí
kinh tế tương đối, vừa không có những cơ chế đãi ngộ xứng đáng cho tính
hiệu quả và trừng phạt đối với sự phi hiệu quả.
1.1.2.2.Trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường thì những dấu hiệu thị trường là cơ sở cho
doanh nghiệp thực hiện hành vi sản xuất kinh doanh của mình. Tuy vậy, kế
hoạch hóa vẫn là cơ chế quản lý hữu hiệu, cần thiết của doanh nghiệp. Kế
hoạch hóa trong doanh nghiệp thể hiện vai trò của mình với hoạt động quản lý
kinh doanh của doanh nghiệp là:
a.Tập trung sự chú ý của các hoạt động doanh nghiệp vào các mục tiêu
Kế hoạch là công cụ đắc lực trong việc phối hợp nỗ lực của các mục
tiêu trong doanh nghiệp. Trong đó lập kế hoạch là khâu đầu tiên và quan
trọng nhất trong quy trình kế hoạch tại doanh nghiệp, là công việc duy nhất có
Sinh viên: Hoàng Thị Nhuần Lớp: Kế hoạch 47A
7
Luận văn tốt nghiệp
liên quan tới việc thiết lập mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của cả doanh
nghiệp. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, thì trường thường xuyên
có những biến động khó lường thì việc quản lý doanh nghiệp bằng kế hoạch
giúp cho doanh nghiệp dự kiến được những thách thức cũng như những cơ
hội có thể xảy ra với doanh nghiệp và buộc doanh nghiệp phải quyết định nên
làm gì? Làm như thế nào? Và làm cho ai? Để có thể thực hiện được các mục
tiêu đề ra. Nói cách khác kế hoạch cho biết hướng đi của doanh nghiệp trong
nghiệp còn lại nếu không sản xuất ra các sản phẩm vật chất thì đều bị xếp vào
đơn vị phi vật chất. Hiện nay trong nền kinh tế thị trường thì quan niệm đó
không còn phù hợp nữa.
Như vậy thực chất sản xuất chính là quá trình chuyển hóa đầu vào và
biến chúng thành các đầu ra dưới dạng sản phẩm hay dịch vụ.
1.2.1.2.Phân loại
Mỗi quá trình sản xuất đều được đặc trưng bởi đặc điểm của sản phẩm
nó sản xuất ra, những đặc trưng khác nhau này có vai trò rất quan trọng trong
vệc xác định các quy trình cũng như lựa chọn các phương pháp để quản lý, để
kế hoạch hóa. Hoạt động sản xuất có thể được phân chia thành nhiều cách
theo các cách tiếp cận khác nhau như: Theo tính chất lặp lại của sản xuất, theo
hình thức tổ chức sản xuất và theo mối quan hệ với khách hàng
a.Phân loại theo khối lượng sản xuất và tính chất lặp lại của sản xuất
Tùy theo khối lượng của sản phẩm được sản xuất và theo tính chất lặp lại
của quy trình, chúng ta có thể phân biệt thành các loại hình sản xuất sau:
- Sản xuất đơn chiếc
- Sản xuất nhỏ và vừa
- Sản xuất lớn
Số lượng sản xuất nhỏ hay lớn được xem xét theo một cách tiếp cận
Sinh viên: Hoàng Thị Nhuần Lớp: Kế hoạch 47A
9
Luận văn tốt nghiệp
tương đối, bởi chúng còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng loại sản phẩm.
Nhìn chung, đối với các hoạt động sản xuất có tính chất lặp lại thì việc tổ
chức công tác kế hoạch hóa có phần đơn giản và hiệu quả hơn.
b.Phân loại sản xuất theo cách thức tổ chức sản xuất
- Sản xuất liên tục: Là quá trình sản xuất mà ở đó người ta sản xuất và xử
lý một khối lượng lớn một loại sản phẩm hoặc một nhóm sản phẩm nào đó
- Sản xuất gián đoạn: Là hình thức tổ chức sản xuất mà ở đó người ta xử
lý, gia công, chế biến một khối lượng tương đối nhỏ các loại sản phẩm đa dạng.
mãn những nhu cầu khác nhau của nền kinh tế (người tiêu dùng, tổ chức,
doanh nghiệp) thông qua việc tổ chức sản xuất và cung cấp dịch vụ. Để quản
lý các nguồn lực này, doanh nghiệp được tổ chức thành các chức năng khác
nhau như: Thương mại, sản xuất, tài chính, nhân sự, hành chính, v.v.. Trong
đó hoạt động sản xuất được coi là một chức năng quan trọng nhất trong doanh
nghiệp, là chức năng bắt đầu của hoạt động sản xuất kinh doanh, là khởi điểm
của mọi hoạt động kinh tế
Nhờ có hoạt động sản xuất, thông qua các quy trình khác nhau có sử
dụng các phương pháp và công nghệ khác nhau mà các sản phẩm và dịch vụ
được hình thành, với các giá trị sử dụng khác nhau cho phép thoả mãn nhu cầu
của người tiêu dùng. Không có chức năng sản xuất thì tài nguyên thiên nhiên
không thể biến thành các vật dụng hang ngày phục vụ cho các nhu cầu của cuộc
sống. Do vậy, sản xuất là hoạt động tạo ra nguồn gốc của giá trị, tạo ra của cải
vật chất cho xã hội, tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp và cho người lao động
Mặt khác, xét về khía cạnh việc làm, hoạt động sản xuất là hoạt động
tạo ra nhiều việc làm nhất cho xã hội. Theo thống kê chung, sản xuất là chức
năng chủ yếu thu hút đến 70-80% lao động của các doanh nghiệp.
1.2.2.Kế hoạch sản xuất trong doanh nghiệp
Sinh viên: Hoàng Thị Nhuần Lớp: Kế hoạch 47A
11
Luận văn tốt nghiệp
1.2.2.1.Khái niệm
Kế hoạch sản xuất trong doanh nghiệp “là một trong những nội dung
quan trọng của hoạt động sản xuất, kế hoạch hóa sản xuất nhằm tối ưu hóa
việc sử dụng những yếu tố sản xuất sẵn có để sản xuất một hoặc nhiều sản
phẩm đã định”
1.2.2.2.Vai trò và vị trí của kế hoạch sản xuất trong doanh nghiệp
a.Vai trò của kế hoạch sản xuất trong doanh nghiệp
Thực tế luôn có sự chênh lệch giữa dự báo và thị trường nơi mà doanh
nghiệp có mặt, vì vậy kế hoạch phải được xây dựng dựa trên năng lực sản
của KHSX với các hoạt động khác của doanh nghiệp. Điều đó được thể hiện ở
sơ đồ sau:
Sinh viên: Hoàng Thị Nhuần Lớp: Kế hoạch 47A
13
Kế hoạch R&D
Kế hoạch sản
xuất và dự trữ
Kế hoạch
Marketing
Kế hoạch tài
chính
Kế hoạch nhân
sự
Nhu cầu của
khách hàng
Sản phẩm mới
Khối lượng
Công suất và
thời hạn
Dự toán
Ràng buộc
Cung
nhân sự
Nhu cầu nhân
sự
Luận văn tốt nghiệp
Sơ đồ 1.2: Qui trình kế hoạch hóa sản xuất tại doanh nghiệp
Nguồn: Giáo trình kế hoạch kinh doanh (ThS. Bùi Đức Tuân)
Sinh viên: Hoàng Thị Nhuần Lớp: Kế hoạch 47A
14
nhu cầu
Điều chỉnh
công suất
Kiểm
tra
công
suất
Thực
hiện có
phù hợp
với kế
hoạch
Điều chỉnh
KH chỉ đạo
sx
Điều chỉnh
KHSX
Luận văn tốt nghiệp
Nội dung quy trình được chia thành 8 bước tuần tự như sau:
Bước 1: Xác định các căn cứ lập kế hoạch như nhu cầu thị trường, năng
lực tài chính, nhân sự,..Việc làm này sẽ giúp cho bản kế hoạch của doanh
nghiệp khả thi và sát thực tế hơn.
Bước 2: Xây dựng kế hoạch sản xuất tổng thể. Kế hoạch này nhằm xác
định những nhóm sản phẩm chủ yếu mà doanh nghiệp định tiến hành sản xuất
trong giai đoạn tới
Bước 3: Xây dựng kế hoạch chỉ đạo sản xuất. Đây là sự thể hiện kế
hoạch sản xuất tổng thể trên chương trình chỉ đạo sản xuất tương ứng, thích
hợp với khả năng sản xuất của các đơn vị.
Bước 4: Xây dựng kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu, xác định các yếu
tố đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất
dụng là phương pháp đồ thị và phương pháp toán học
*Phương pháp đồ thị
Là phương pháp được sử dụng rộng rãi do chúng dễ hiểu và dễ sử dụng.
Phương pháp này sử dụng một số ít các biến số và cho phép người làm kế
hoạch so sánh được nhu cầu dự báo và công suất hiện tại của doanh nghiệp.
Theo phương pháp này, người làm kế hoạch sẽ thực hiện 5 bước:
Bước 1: Xác định nhu cầu sản xuất mỗi kỳ
Bước 2: Xác định công suất giờ chuẩn, giờ phụ trội và thuê gia công cho
mỗi kỳ
Bước 3: Xác định chi phí lao động, thuê gia công và chi phí lưu kho
Bước 4: Tính đến chính sách của doanh nghiệp đối với lao động hoặc mức
lưu kho
Bước 5: Khảo sát các kế hoạch và ước tính tổng chi phí
*Phương pháp toán học
Có nhiều phương pháp toán học được sử dụng vào kế hoạch hoá sản xuất
trong những năm gần đây, sau đây là một số phương pháp
Sinh viên: Hoàng Thị Nhuần Lớp: Kế hoạch 47A
16
Luận văn tốt nghiệp
- Mô hình hệ số quản lý: Mô hình hệ số quản lý của Bowman là một mô
hình lập kế hoạch được xây dựng dựa trên thành tích và kinh nghiệm
của các cán bộ lãnh đạo, với giả thiết rằng thành tích quá khứ của các
cán bộ lãnh đạo là khá tốt, do vậy có thể được sử dụng như là một cơ sở
cho các quyết định tương lai. Kỹ thuật này được sử dụng phương pháp
phân tích hồi quy các quyết định sản xuất trong quá khứ của cán bộ
lãnh đạo, và đường hồi quy sẽ chỉ ra mối quan hệ giữa các biến số
(chẳng hạn giữa nhu cầu và lao động) trong các quyết định tương lai.
Theo Bowman, sự kém cỏi của nhà lãnh đạo thường thể hiện qua sự
không nhất quán trong việc ra quyết định
- Các mô hình khác: Có hai mô hình khác nhau được sử dụng cho việc
*Phương pháp điều kiện sớm: Bắt đầu lịch trình sản xuất sớm nhất có thể
khi đã biết yêu cầu công việc. Phương pháp điều kiện sớm thường được thiết
kế để lập ra một kế hoạch có thể được hoàn thành cho dù không đúng thời hạn
cần thiết. Trong nhiều trường hợp phương pháp này gây ra sự tồn đọng sản
phẩm dở dang.
*Phương pháp điều kiện muộn: Bắt đầu với thời hạn cuối cùng, lên lịch của
công việc cuối cùng trước tiên. Bằng cách trừ lùi thời gian cần thiết cho mỗi
bước công việc, chúng ta sẽ biết thời gian phải bắt đầu sản xuất. Tuy nhiên,
các nguồn lực cần thiết để hoàn thành lịch trình có thể không có sẵn. Trên
thực tế, doanh nghiệp thường kết hợp hai phương pháp trên để tìm ra sự thoả
hiệp giữa những công việc có thể hoàn thành và thời hạn yêu cầu của khách
hàng
*Phương pháp biểu đồ GANTT: Nội dung của phương pháp này nhằm xác
định thứ tự và thời hạn sản xuất của các công việc khác nhau cần thiết cho
một chương trình nhất định, tuỳ theo độ dài của mỗi bước công việc, các điều
kiện trước của mỗi công việc, các kỳ hạn cần tuân thủ và năng lực sản xuất.
Sinh viên: Hoàng Thị Nhuần Lớp: Kế hoạch 47A
18
Luận văn tốt nghiệp
Phương pháp này được sử dụng đối với việc sản xuất các sản phẩm không quá
phức tạp, và để áp dụng phương pháp này doanh nghiệp cần ấn định một
chương trình sản xuất, xác định các công việc khác nhau cần thực hiện, xác định
thời gian cần thiết cho mỗi công việc cũng như các mối quan hệ giữa chúng.
2.Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp
2.1. Tình hình tài chính của doanh nghiệp
Có thể nói tình hình tài chính là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh
của doanh nghiệp. Căn cứ vào khối lượng tài sản cố định, tài sản lưu động mà
công ty có thể xây dựng một kế hoạch sản xuất phù hợp với điều kiện của
công ty mình. Ngoài ra, công tác kế hoạch hoá là công tác được thực hiện
xuyên suốt toàn công ty, trong suốt quá trình hoạt động của công ty, vì thế sự
nhiệm vụ quản lý của mình. Ngoài chuyên môn trong công tác lập kế hoạch
thì hoạt động kế hoạch còn chịu nhiều tác động từ các yếu tố khác như cơ cấu
tổ chức của công ty, của phòng kế hoạch, các điều kiện khác phục vụ cho
công tác kế hoạch như trình độ của cán bộ kế hoạch, điều kiện làm việc, các
công cụ được công ty trang bị,…
a. Về cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp và chức năng nhiệm vụ của các
phòng ban
Công tác kế hoạch hóa không chỉ là việc của lãnh đạo công ty và phòng
kế hoạch nó còn đòi hỏi sự tham gia của tất cả các bộ phận trong công ty.
Lãnh đạo công ty là người thiết kế quy trình kế hoạch hóa, xác định nội
dung và trình tự thực hiện công tác kế hoạch. Ban lãnh đạo có nhiệm vụ phải
soạn lập được kế hoạch chiến lược, xác định được các mục tiêu phát triển. Từ
đó tất cả các hoạt động của công ty kể cả hoạt động kế hoạch hóa sản xuất
cũng phải lấy đó làm tiêu chí, tôn chỉ cho mọi hành động.
Với công tác kế hoạch hóa sản xuất thì trách nhiệm của các phòng ban
Sinh viên: Hoàng Thị Nhuần Lớp: Kế hoạch 47A
20
Luận văn tốt nghiệp
chức năng khác trong công ty là cung cấp các thông tin cần thiết một cách
chính xác, nhanh nhất cho đơn vị trực tiếp lập kế hoạch.
Phòng kế hoạch của công ty phải là nơi trực tiếp soạn thảo kế hoạch
sản xuất, theo dõi đánh giá kiểm tra việc thực hiện kế hoạch. Như vậy chức
năng của phòng kế hoạch sản xuất là:
- Trực tiếp soạn lập các loại kế hoạch sản xuất ngắn hạn và dài hạn cho
công ty
- Tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất tại công ty
- Tiến hành kiểm tra giám sát việc thực hiện kế hoạch một cách thường
xuyên, đánh giá việc thực hiện kế hoạch một cách định kỳ.
- Tham mưu cho lãnh đạo công ty trong việc soạn lập chiến lược doanh
nghiệp, cung cấp các thông tin chính xác cho các phòng ban chức năng khác