CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
: 6.280.688
LỜI MỞ ĐẦU
Khi thế giới thương hiệu ngày càng mở rộng, hình ảnh của bạn phải
càng nổi bật và khác biệt, có như vậy bạn mới không phải lo lắng đứng nhìn
các đối thủ cạnh tranh cướp đi những khách hàng "đáng quý" của mình. Và
hơn thế nữa, con người luôn có xu hướng thích lựa chọn những gì phù hợp
với hơn nhưng cũng không quá tầm thường. Vậy làm cách nào để thu hút họ
đến với bạn? Theo tôi, điều đó phụ thuộc phần nhiều vào việc bạn xác lập
hình ảnh thương hiệu của mình trong tâm trí những người tiêu dùng. Cũng vì
vậy, bạn càng hiểu rõ cách người tiêu dùng suy nghĩ về thương hiệu, bạn sẽ
càng dễ dàng hình dung ra được những công việc bạn cần phải làm sau đó.
Nhiều công ty không nhớ thương hiệu của họ như thế nào? sự ra đời
của một thương hiệu theo họ nghĩ chỉ là việc của các nhà thiết kế đồ họa và
công ty quảng cáo. Trên thực tế, việc tạo ra một dấu hiệu bên ngoài cho sản
phẩm dịch vụ chỉ là bề nổi trong việc tạo dựng một thương hiệu. Thương hiệu
bản thân nó có ý nghĩa nhiều hơn cái tên của mình và được tạo dựng dựa trên
sự tập hợp tất cả các nguồn lực của công ty. Một thương hiệu mạnh sẽ giúp
doanh nghiệp khẳng định vị trí của mình trên thị trường cũng như tăng sức
cạnh tranh khi thị trường mở cửa cho các doanh nghiệp nước ngoài tham gia:
" không có một thương hiệu mạnh nào mà trong đó không có một sản phẩm
tốt. Bởi thương hiệu chính là một sản phẩm hoàn chỉnh nhất. Nhận định này
sẽ làm ngạc nhiên cho những ai cho rằng thương hiệu là một thực thể tách rời
khỏi sản phẩm".
Việc một doanh nghiệp, một công ty khẳng định được giả trị thương
hiệu của mình trên thị trường đã là một thành công. Nhưng việc duy trì và
phát triển thương hiệu để nó đi vào lòng người tiêu dùng lại là một vấn đề khó
khăn đòi hỏi cần có những biện pháp, mục tiêu, chiến lược đúng đắn và kịp
thời thì mới có thể đứng vững và phát triển được. Chiến lược phát triển
thương hiệu là một khâu quan trọng trong việc khẳng định giá trị của thương
công ty, cũng như hướng dẫn em hoàn thành bài báo cáo thực tập tốt nghiệp
này.
2
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
: 6.280.688
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
THƯƠNG HIỆU
1.1. Thương hiệu
1.1.1. Khái niệm về thương hiệu
* Thương hiệu đã xuất hiện cách đây hàng thế kỷ với ý nghĩa để phân
biệt hàng hóa của nhà sản xuất này với hàng hóa của nhà sản xuất khác.
Theo hiệp hội Marketing Hoa kỳ thì: "Thương hiệu là một cái tên, từ ngữ, ký
hiệu, biểu tượng, hình vẽ thiết kế...hoặc tập hợp các yếu tố trên nhằm xác định
và phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một người hoặc một nhóm người bán với
hàng hóa và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh".
Ở Việt nam, khái niệm thương hiệu thường được hiểu đồng nghĩa với
nhãn hiệu hàng hóa. Tuy nhiên, trên thực tế khái niệm thương hiệu được hiểu
rộng hơn nhiều. Nó có thể là bất kỳ cái gì được gắn liền với sản phẩm hoặc
dịch vụ, nhằm làm cho chúng được nhận diện dễ dàng và khác biệt hóa với
các sản phẩm cùng loại. Do đó, việc đầu tiên trong quá trình tạo dựng thương
hiệu là lựa chọn và thiết kế cho sản phẩm hoặc dịch vụ một tên gọi, logo, biểu
tượng, màu sắc, kiểu dáng thiết kế, bao bì và các yếu tố phân biệt khác trên cơ
sở phân tích thuộc tính của sản phẩm, thị hiếu và hành vi tiêu dùng của khách
hàng mục tiêu và các yếu tố khác như pháp luật, văn hóa, tín ngưỡng,...
* Thương hiệu với sản phẩm
Trong thời đại kinh tế công nghiệp do lượng hàng hóa sản xuất ra chưa đủ đáp
ứng nhu cầu xã hội nên các công ty có thể không ngừng mở rộng quy mô sản
xuất nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng sản lượng bán ra và giành lấy ưu thế
trong cạnh tranh. Nhưng ngày nay, trong thời đại kinh tế hậu công nghiệp, thị
Với người tiêu dùng, thương hiệu xác định nguồn gốc của sản phẩm
hoặc nhà sản xuất của một sản phẩm và giúp người tiêu dùng xác định nhà
sản xuất cụ thể hoặc nhà phân phối nào phải chịu trách nhiệm. Thương hiệu
có ý nghĩa đặc biệt đối với khách hàng. Nhờ những kinh nghiệm đối với một
sản phẩm và chương trình tiếp thị của sản phẩm đó qua nhiều năm, khách
hàng sẽ biết đến các thương hiệu. Họ tìm ra thương hiệu nào thỏa mãn được
nhu cầu của mình còn thương hiệu nảo thì không. Kết quả, các thương hiệu là
một công cụ nhanh chóng hoặc là cách đơn giản hóa đối với quyết định mua
4
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
: 6.280.688
sản phẩm của khách hàng. Đây chính là quan trọng nhất mà một thương hiệu
cũng như công ty được gắn với thương hiệu đó cần vươn tới.
Hình 1.1- Chu trình ra quyết định mua sắm của khách hàng.
Nếu khách hàng nhận ra một thương hiệu và có một vài kiến thức về
thương hiệu đó, họ không phải suy nghĩ nhiều hoặc tìm kiếm xử lý nhiều
thông tin để đưa ra quyết định về tiêu dùng sản phẩm. Như vậy, từ khía cạnh
kinh tế, thương hiệu cho phép khách hàng giảm bớt chi phí tìm kiếm sản
phẩm cả bên trong và bên ngoài. Dựa vào những gì họ đã biết về thương hiệu
- chất lượng, đặc tính của sản phẩm,... khách hàng hình thành những giả định
và kỳ vọng có cơ sở về những gì mà họ chưa biết về thương hiệu.
Bảng 1.2 - Tầm quan trọng của thương hiệu đối với khách hàng và công ty.
5
nhận
thức
vấn đề
Tìm
kiếm
thông
Mối quan hệ giữa thương hiệu với khách hàng có thể được xem như
một kiểu cam kết hoặc giao kèo. Khách hàng đặt niềm tin và sự trung thành
của mình vào thương hiệu và ngầm hiểu rằng bằng cách nào đó thương hiệu
sẽ đáp lại và mang lại lợi ích cho họ thông qua tính năng hợp lý của sản
phẩm, giá cả phù hợp, các chương trình tiếp thị, khuyến mại và các hỗ trợ
khác. Nếu khách hàng nhận thấy những ưu điểm và lợi ích tư việc mua
thương hiệu cũng như họ cảm thấy thỏa mãn khi tiêu thụ sản phẩm thì khách
hàng có thể tiếp tục mua thương hiệu đó.
Thực chất, các lợi này được khách hàng cảm nhận một cách rất đa dạng
và phong phú. Các thương hiệu có thể xem như một công cụ biểu tượng để
khách hàng tự khẳng định giá trị bản thân. Một số thương hiệu được gắn liền
với một con người hoặc một mẫu người nào đó để phản ánh những giá trị
khác nhau hoặc những nét khác nhau. Do vậy, tiêu thụ sản phẩm được gắn với
những thương hiệu này là một cách để khách hàng có thể giao tiếp với những
người khác, hoặc thậm chí với chính bản thân họ, tuýp người mà họ đang
hoặc muốn trở thành. Ví dụ: các khách hàng trẻ tuổi trở nên sành điệu, hợp
mốt hơn trong các sản phẩm của Nike, với một số người khác lại mong muốn
hình ảnh một thương nhân năng động và thành đạt với chiếc xe Mercedes đời
mới.
Thương hiệu còn giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc báo
hiệu những đặc điểm và thuộc tính của sản phẩm tới người tiêu dùng. Các nhà
nghiên cứư đã phân loại các sản phẩm và các thuộc tính hoặc lợi ích kết hợp
của chúng thành ba loại chính: hàng hóa tìm kiếm, hàng hóa kinh nghiệm và
hàng hóa tin tưởng.
Với hàng hóa tìm kiếm , các thuộc tính của sản phẩm có thể được đánh
giá qua sự kiểm tra bằng mắt (Ví dụ: sự cứng cáp, kích cỡ, màu sắc, kiểu
dáng, trọng lượng, và thành phần cấu tạo của một sản phẩm).
Với hàng hóa tin tưởng , các thuộc tính của sản phẩm rất khó có thể biết
được(Ví dụ: chi trả bảo hiểm). Do việc đánh giá, giải thích các thuộc tính và
6
điểm và hình thức đặc trựng, riêng có của sản phẩm. Thương hiệu có thể được
bảo hộ độc quyền sở hữu trí tuệ phải đem lại tư cách hơp pháp cho người sở
7
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
: 6.280.688
hữu thương hiệu. Tên gọi sản phẩm, dịch vụ có thể được bảo hộ, thông qua
việc đăng ký hàng hóa, các quy trình sản xuất có thể được bảo vệ thông qua
bằng sáng chế, giải pháp hữu ích. Bao bì, kiểu dáng thiết kế có thể được bảo
vệ thông qua kiểu dáng công nghiệp hoặc các bản quyền,... các quyền sở hữu
trí tuệ này đảm bảo rằng công ty có thể đầu tư một cách an toàn cho thương
hiệu và thu lợi nhuận từ một tài sản đáng giá.
Như đã nêu ở trên, những đầu tư cho thương hiệu có thể mang lại cho
sản phẩm những đặc điểm và thuộc tính riêng có nhằm phân biệt nó với
những sản phẩm khác. Thương hiệu có thể cam kết một tiêu chuẩn hay đẳng
cấp chất lượng của một sản phẩm và đáp ứng mong muốn của khách hàng
giúp họ tìm kiếm, lựa chọn sản phẩm một cách dễ dàng, thuận tiện. Lòng
trung thành với thương hiệu của khách hàng cho phép công ty dự báo và kiểm
soát thị trường. Hơn nữa nó tạo nên một rào cản, gây khó khăn cho các công
ty khác muốn thâm nhập thị trường. Mặc dù các quy trình sản xuất và các
thiết kế sản phẩm có thể dễ dàng bị sao chép lại nhưng những ấn tượng ăn sâu
trong tâm trí người tiêu dùng qua nhiều năm về sản phẩm thì không dễ dàng
sao chép lại được. Về khía cạnh này thương hiệu có thể được coi là cách thức
hữu hiệu để đảm bảo lợi thế cạnh tranh. Trong phần bình chọn thường niên
"Các công ty được ngưỡng mộ nhất nước Mỹ" của mình, tạp trí Fortune năm
1996 đã tuyên bố rằng, "The Brand's The Thing", giải thích làm thế nào mà
các công ty như Coke, Microsoft và Disney đã chứng minh rằng: "Có một tên
tuổi lớn được xem như vũ khí cơ bản trong cạnh tranh".
Do vậy, đối với các công ty thương hiệu được coi như một tài sản có
giá trị rất lớn, bởi nó có khả năng tác động đến thái độ và hành vi của người
chí cả con người, tổ chức, địa danh.
1.2. Chiến lược phát triển thương hiệu
1.2.1.Phát triển thương hiệu :
Cho đến tận bây giờ thì tất cả các thương hiệu đã được qua kiểm
nghiệm chẳmg hạn như Apple, Lacoste, Sony,...bước vào thị trường như là
những thương hiệu tiên tiến. Qua nhiều năm những thương hiệu này đã trở
nên nổi tiếng và có nhiều quyền năng. Bởi vì chúng là những thương hiệu uy
tín, nên chúng ta thử đặt câu hỏi là những thương hiệu này đang có những gì?
9
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
: 6.280.688
tức là đã đạt được những gì mà các thương hiệu khác chưa làm được. Mỗi
thương hiệu đều có một đặc tính và bí quyết riêng nhưng những thương hiệu
này đều có một đặc tính và một hệ thống giá trị cụ thể. Có nghĩa là có một
nền văn hóa của thương hiệu, và chúng đã thể hiện mối liên hệ sự phản ánh và
cả khái niệm về người tiêu dùng. Nhờ đó mà nâng cao được vị trí của mỗi
thương hiệu.
Trong việc phát triển một thương hiệu mới, ngay từ lúc đầu chúng ta
phải coi nó thực sự là một thương hiệu chứ không phải là một cái tên sản
phẩm mà chúng ta nhìn thấy trên quảng cáo. Chúng ta không được phép ngồi
đợi cái tên đó đến ngày cái tên đó tự nhiên trở thành một biểu tượng có ý
nghĩa sâu sắc có tiếng tăm và uy tín. Thời gian quý như tiền bạc và các kế
hoạch lâu dài thật sự là rất mạo hiểm. Vậy ngay từ lúc bắt đầu thương hiệu
mới này phải được coi như là một chiếc lăng kính trong suốt, nói cách khác
thương hiệu cần phải có những chiến lược và kế hoạch phát triển cụ thể, rõ
ràng với những tiêu chí đánh giá và định lượng. Không có chiến lược không
thể tạo nên thương hiệu.
1.2.2. Khái niệm về chiến lược phát triển thương hiệu
Một thương hiệu có tiềm lực mạnh và có sức cuốn hút đối với khách
Từ thực tiễn phát triển kinh doanh của các công ty, chúng ta thấy có 6
dạng quan hệ giữa thương hiệu và sản phẩm. Và mỗi dạng quan hệ này được
xem như một chiến lược phát triển thương hiệu, nó thể hiện rõ vị trí và các
cách thức liên kết với sản phẩm bao gồm :
+ Chiến lược thương hiệu sản phẩm : Là đặt cho mỗi sản phẩm độc lập
một thương hiệu riêng biệt phù hợp với định vị thị trường của sản phẩm đó.
Ví dụ như các sản phẩm bột giặt của Procter và Gamble có các thương hiệu
Ariel, Tide, Dash…
+ Chiến lược thương hiệu dãy : Mở rộng một khái niệm, một ý tưởng
hoặc một cảm hứng nhất định cho các sản phẩm khác nhau của công ty (ví dụ
như : các loại xe oto của hãng Renault).
+ Chiến lược thương hiệu nhóm : Đặt cùng một thương hiệu và một
thông điệp cho một nhóm các sản phẩm có cùng thuộc tính chức năng.
11
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
: 6.280.688
+ Chiến lược thương hiệu hình ô : một thương hiệu chung sẽ hỗ trợ cho
mọi sản phẩm của công tyở các thị trường khác nhau nhưng mỗi sản phẩm lại
có cách thức quảng bá và cam kết riêng trước khách hàng và công chúng. Ví
dụ như các thiết bị văn phòng, máy phôtôcopy, camera mang thương hiệu
canon.
+ Chiến lược thương hiệu nguồn : Tương ự như chiến lược thương hiệu
hình ô, nhưng điểm khác biệt chủ yếu là mỗi sản phẩm được đặt thêm một tên
riêng : Là đưa ra một sự chứng thực hay xác nhận cảu công ty lên tất cả các
sản phẩm vpons hết sức đa dạng, phong phú và được nhóm lại theo chiến lược
thương hiệu sản phẩm, thương hiệu dãy và hoặc chiến lược thương hiệu nhóm
( ví dụ như các loại xe của hãng General Motors).
1.2.2. Nội dung của chiến lược phát triển thương hiệu
Trong sáu dạng của mối quan hệ giữa thương hiệu và sản phẩm tồn tại
+ Với những công ty tập trung vào từng phân đoạn thị trường nhất định
thì đay là yêu cầu mang tính chiến lược. Vì điều này sẽ giúp công ty mở rộng
tối đa thị phần của mình.
+ Đối với các sản phẩm giống nhau, việc gắn kết một tên thương hiệu
cụ thể cho một loại nhu cầu hoặc mong muốn nhất định sẽ nhấn mạnh sự khác
biệt về thuộc tính và lợi ích giữa các sản phẩm.
13
CÔNG TY A
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
: 6.280.688
+ Chiến lược thương hiệu sản phẩm phù hợp với những công ty có tính
chiến lược cao, có tính sáng tạo cao, liên tục đổi mới và luôn mong muốn
chiếm lĩnh trước được một vị trí trên thị trường.
+ Chính sách thương hiệu-sản phẩm cho phép các công ty giám mạo
hiểm khi tham gia vào thị trường mới.
+ Chính sách thương hiệu-sản phẩm ngụ ý rằng : tên gọi của tên công
ty không nhất thiết được quảng bá rộng rãi trước công chúng và do đó nó
khác biệt với tên thương hiệu. Trên thực tế, chiến lược này cho phép các công
ty có thể mở rộng và thâm nhập vào bất đâu và bất cứ khi nào, đặc biệt là vào
các thị trường mới.
+ Do mỗi thương hiệu là độc lập với nhau nên nếu một thương hiệu nào
đó hoạt động kém hiệu quả sẽ không đe dọa các thương hiệu khác cũng như
tên công ty.
+ Cuối cùng, hành vi của các nhà bán lẻ cũng góp phần rất lớn đến sự
thành công của chiến lược.
Những trở ngại nảy sinh trong chiến lược thương hiệu-sản phẩm chủ
yếu là chi phí đầu tư.
+ Mỗi khi một sản phẩm mới được đưa ra thị trường đồng nghĩa với
việc một thương hiệu mới ra đời. Cùng với đó là một chiến dịch quảng cáo và
phẩm ( Green Giant, Dole), mỹ phẩm và thời trang (Benetton, kookai,
Rodier…), dụng cụ nhà bếp ( Moulinex, Seb, Rowenta), công cụ dụng cụ
(Delsey, Samsonite, Vuitton) và công nghiệp (Dulux,Bosc). Các thương hiệu
này bao trùm mọi sản phẩm cảu chúng với cùng một cam kết và một định vị
trên thị trường như hình vẽ dưới đây :
15
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
: 6.280.688
THƯƠNG HIỆU
Ý nghĩa và cam kết của thương hiệu
Các sản phẩm A B C D … N
Hình 1.4- Sơ đồ cấu trúc chiến lược thương hiệu theo nhóm
Ưu điểm của chiến lược phát triển thương hiệu theo nhóm :
+ Giúp được sự loãng thông tin. Thương hiệu theo nhóm cho phép chỉ
cẩn tập trung quảng cáo và tuyên truyền cho một vài sản phẩm điển hình của
cả nhóm.
+ Chi phí cho chiến dịch quảng bá những sản phẩm mới như vậy không
quá lớn.
Nhược điểm :
+ Khi thương hiệu được mở rộng thì nó lại trở nên mờ nhạt.
+ Vấn đề nữa là nảy sinh trong việc sử dụng chiến lược thương hiệu
nhóm bắt nguồn từ việc chuyển từ quan hệ một chiều sang quan hệ trong toàn
bộ nhóm sản phẩm.
: 6.280.688
đa dạng hóa dưới hình thức thương hiệu hình ô, công ty quên rằng mục đích
chính của thương hiệu là tiết kiệm.
+ Thương hiệu hình ô không được phép tạo ra cho mình một cái bóng
vì biến cố xảy ra với một sản phẩm có thể gây ảnh hưởng tới các sản phẩm
khác dưới cùng thương hiệu hình ô.
+ Nhược điểm lớn nhất của chiến lược này không phải ở sự mở rộng
theo chiều ngang mà là theo chiều dọc, do nó muốn bao quát mọi mức chất
lượng và định vị.
*Chiến lược thương hiệu nguồn (hay thương hiệu mẹ)
Chiến lược thương hiệu nguồn cơ bản cũng giống như chiến lược
thương hiệu hình ô, chỉ khác là sản phẩm có tên gọi cụ thể. Chúng không còn
có những cái tên ghép như eaudetoilte hay eaudepartum mà mỗi sản phẩm có
một tên riêng, như Jazz, Poison, Opium, Nina, loulou…Đây là cấu trúc
thương hiệu hai bậc được biết đến với tên gọi thương hiệu kép
THƯƠNG HIỆU MẸ
Thương hiệu A Thương hiệu B Thương hiệu C
Cam kết A Cam kết B Cam kết C
Sản phẩm A Sản phẩm B Sản phẩm C
Hoặc dãy A Hoặc dãy B Hoặc dãy C
Hình 1.5-Sơ đồ cấu trúc chiến lược thương hiệu theo nguồn
18
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
: 6.280.688
Lợi ích của chiến lược thương hiệu gốc nằm trong khả năng tạo cảm
giác khác biệt và sâu sắc cho người tiêu dùng. Những dấu hiệu gốc có thể làm
nổi bật lên ý nghĩa và đăc tính riêng có của mình bằng cách cải tiến hay làm
phong phú các sản phẩm kế tiêp chúng để thu hút một nhóm khách hàng
riêng. Các nhóm sản phẩm có tên gọi riêng cho phép một thương hiệu có thể
Thương hiệu chuẩn
Hình 1.6 – Sơ đồ cấu trúc chiến lược Thương hiệu chuẩn
Thuận lợi chính của thương hiệu chuẩn là sự tự do hưon trong việc sử
dụng những thủ thuật kinh doanh. Và nó đã tạo ra cho các công ty, ví dụ như:
Nestle một phạm vi hoạt động không giới hạn. Một khi đã được coi là một
thương hiệu nguồn với hình ảnh gợi liên tưởng cụ thể đến đồ ăn trẻ em, và có
liên quan đến socola giành cho trẻ em Nestle đã không thể vượt sang thị
trường cafe, súp... với cùng một tên gọi như vậy.
Thương hiệu chuẩn được hưởng lợi thế từ các ưu điểm của các sản
phẩm có tên gọi cụ thể. Một tên gọi đặc trưng gợi lên một hình ảnh mạnh mẽ
về sản phẩm trong tâm trí khách hàng. Nó giúp cho thương hiệu chuẩn tiến xa
hơn, ít ra về mặt lý thuyết khi ta xem xét các phân tích về các thương hiệu suy
yếu.
Thương hiệu chuẩn có trách nhiệm bảo đảm, là yếu tố mà tất cả các sản
phẩm cần đến. Ngày nay việc bảo đảm này bao gồm cả về chất lượng, yếu tố
khoa học cùng với các yếu tố trách nhiệm dân sự và bảo vệ môi trường sinh
20
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
: 6.280.688
thái. Các chức năng thương hiệu khác do các sản phẩm có tên gọi đặc trưng
thực hiện
1.3. Qúa trình hoàn thiện chiến lược phát triển thương hiệu
* Phân tích nhu cầu: cần phải có chiến lược phát triển thương hiệu cho
từng công ty, doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay mỗi một công ty để khẳng định được vị
trí của mình đều phải đi cùng với một thương hiệu, được mọi người biết đến
và tin tưởng, một sản phẩm tốt luôn gắn với một thương hiệu mạnh. Vì thế
việc tạo dựng, duy trì và phát triển thương hiệu đang là vấn đề khó khăn đối
với các doanh nghiệp, công ty. để được công nhận sự tồn tại của mình không
khác nhau: Chiến lược thương hiệu-sản phẩm, chiến lược thương hiệu dãy,
chiến lược thương hiệu nhóm, chiến lược thương hiệu hình ô, chiến lược
thương hiệu nguồn, chiến lược thương hiệu chuẩn đã được nêu ở phần trên
* Đánh giá kết quả thực hiện chiến lược
- Giai đoạn này tập trung đánh giá hiệu quả của chiến lược phát triển
thương hiệu. Để dánh giá cần phải có các tiêu chuẩn đánh giá. Các tiêu chuẩn
có thể định tính hoặc định lượng nhưng nó phản ánh được những yêu cầu cơ
bản. Ví dụ chiến lược thương hiệu nhằm khẳng định được giá trị của thương
hiệu trên thị trường có thể được đánh giá thông qua tác động của nó đến số
lượng bán hàng hoặc mức độ thực hiện mục tiêu của công ty…
Nói chung, giai đoạn này là một khâu quan trọng để ta có thể xác định
đựoc chiến lược mình thực hiện có hiệu quả hay chưa và cần phải điều chỉnh
như thế nào cho phù hợp
* Đề ra phương hướng hoàn thành chiến lược
Dựa vào kết quả đánh giá quá trình thực hiện chiến lược, công ty sẽ đề ra
những phương hướng giải quyết nhất định. Cần phải xác định rõ những mặt
hạn chế trong chiến lược để thay đổi, điều chỉnh chiến lược như thế nào cho
phù hợp với điều kiện của cônh ty về nhiều mặt chi phí, thời gian, nhân sự.
22
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
: 6.280.688
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN THƯƠNG
HIỆU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VĂN PHÒNG PHẨM HỒNG HÀ
2.1. Giới thiệu khái quát về công ty cổ phần văn phòng phẩm Hồng Hà
2.1.1. Giới thiệu chung:
Tên giao dịch Việt nam: Công ty cổ phần văn phòng phẩm Hồng Hà
Tên giao dịch quốc tế: Hong Ha Stationery Joint – Stock Company
Địa chỉ: 25 Lý Thường Kiệt – Hoàn Kiếm – Hà nội
Điện thoại: 04.9361726 Fax: 04.8260359
thời tiến độ di chuyển nhưng vẫn đủ hàng cung cấp cho thị trường và có việc
làm ổn định cho người lao động
Cơ sở sản xuất
Cơ sở sản xuất của công ty gồm:
- Cơ sở 1: 25 Lý thường kiệt có diện tích 6.55m
2
dành cho văn phòng
và cửa hàng
- Cơ sở 2: Cầu Đuống có diện tích 65.000m
2
dành cho sản xuất
2.1.2. Dây chuyền công nghệ
Hệ thống công nghệ của công ty được nhập của các nước như: Đài
Loan, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc và cung ứng được nhu cầu sử dụng ngày
càng cao của người tiêu dùng trên thị trường trong và ngoài nước.
2.1.3. Nhân lực:
Tính đến ngày 01/10/2006 Công ty có 547 lao động. Trong đó:
- Trình độ đại học, cao đẳng: 116 người
- Trung cấp: 46 người
- Công nhân kỹ thuật: 78 người
- Đảm bảo việc làm ổn định cho người lao động. Đời sống CBCNV
không ngừng được cải thiện, thu thập bình quân hàng tháng đạt
2.258.000 đồng/người, tăng 119%. Đời sống tinh thần ngày càng
được nâng cao
2.1.4. Sản phẩm sản xuất:
* Các mặt hàng chủ yếu của công ty là:
- Bút máy, bút bi, bút mực gel, bút dạ kim, bút màu, bút xoá…
24
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
25